Cảng quốc tế Chu Lai chính thức đưa vào vận hành hệ thống điện năng lượng mặt trời đầu tiên, từng bước ứng dụng năng lượng sạch trong hoạt động khai thác cảng
Công suất dự kiến đạt 5.100 kWp
Dự án được triển khai theo 3 giai đoạn, với tổng công suất dự kiến đạt 5.100 kWp. Trong đó, giai đoạn 1 được triển khai theo 2 đợt liên tiếp trong năm 2026.
Cụ thể, đợt 1 bắt đầu từ tháng 1-2026 với công suất 700 kWp trên diện tích gần 5.000 m². Tiếp nối, trong tháng 4-2026, cảng triển khai đợt 2 với quy mô mở rộng thêm 800 kWp trên diện tích hơn 7.200 m².
Sau khi hoàn thành cả 2 đợt, tổng công suất giai đoạn 1 đạt 1.500 kWp với khoảng 2.300 tấm pin năng lượng mặt trời, sản lượng điện dự kiến khoảng 2,1 triệu kWh/năm.
Trong các giai đoạn tiếp theo, cảng sẽ tiếp tục đầu tư mở rộng với tổng công suất bổ sung đạt 3.600 kWp (tương đương sản lượng điện khoảng trên 5 triệu kWh/năm), triển khai trên quy mô lớn tại hệ thống kho bãi và hạ tầng hiện hữu.
Khi hoàn thành, tổng công suất điện mặt trời tại Cảng quốc tế Chu Lai đáp ứng toàn bộ nhu cầu cung cấp điện cho hoạt động khai thác, đặc biệt là hệ thống container lạnh và chuỗi logistics nông nghiệp.
Nguồn điện năng lượng mặt trời được sử dụng trong các hoạt động xếp dỡ hàng hóa, lưu kho, bãi tại cảng
Lợi thế lớn để phát triển điện mặt trời
Với tổng diện tích 140 ha, trong đó khu kho bãi chiếm khoảng 20 ha, Cảng quốc tế Chu Lai có lợi thế lớn để phát triển điện mặt trời áp mái. Kết hợp với điều kiện thời tiết khu vực miền Trung có số giờ nắng cao và bức xạ tốt, hệ thống này tạo ra nguồn điện ổn định, giúp duy trì liên tục hoạt động xếp dỡ, lưu trữ hàng hóa, hạn chế rủi ro gián đoạn trong khai thác.
Việc chủ động sử dụng nguồn điện tại chỗ giúp cảng giảm đáng kể chi phí điện năng – một trong những cấu phần chi phí lớn trong khai thác cảng, đặc biệt đối với vận hành container lạnh và hệ thống kho. Qua đó, tạo cơ sở quan trọng để cảng triển khai các chính sách giá linh hoạt và cạnh tranh hơn cho khách hàng.
Cảng quốc tế Chu Lai định hướng duy trì ổn định đơn giá dịch vụ trong dài hạn, hạn chế tối đa tác động từ biến động giá nhiên liệu và giá điện; đồng thời tối ưu chi phí lưu bãi, vận hành container lạnh và dịch vụ logistics liên quan, giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu – đặc biệt trong lĩnh vực nông sản – giảm áp lực chi phí chuỗi cung ứng, gia tăng hiệu quả kinh doanh.
Không chỉ mang lại lợi ích về chi phí, dự án còn góp phần giảm phát thải khí nhà kính, giảm phụ thuộc vào nguồn năng lượng truyền thống và từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát triển cảng xanh.
Đây là một trong những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể của Cảng quốc tế Chu Lai trong bối cảnh ngành logistics đang chuyển dịch mạnh theo hướng bền vững.
Hệ thống điện năng lượng mặt trời giúp khách hàng tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng
Trong bối cảnh chi phí năng lượng liên tục gia tăng và yêu cầu giảm phát thải ngày càng cao, việc đầu tư hệ thống điện mặt trời không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là chiến lược dài hạn, giúp Cảng quốc tế Chu Lai chủ động nguồn lực, đồng hành cùng khách hàng tối ưu chi phí và phát triển bền vững.
Theo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 2 (TP HCM và Đồng Nai), dòng kiều hối có xu hướng giảm từ quý IV/2025 sang đầu năm nay.
Trong quý cuối năm 2025, lượng kiều hối chuyển về đạt gần 2,4 tỷ USD, giảm 13% so với quý liền kề. Bước sang quý I/2026, con số này hạ xuống còn trên 2 tỷ USD.
Bà Trần Thị Ngọc Liên, Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 2, cho biết điều này phản ánh tác động từ kinh tế quốc tế, trong nước và các yếu tố địa chính trị. Theo bà, kinh tế thế giới phục hồi chậm cùng lạm phát cao làm tăng chi phí sinh hoạt, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người Việt ở nước ngoài.
Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ thắt chặt kéo dài tại các nền kinh tế lớn tiếp tục tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, qua đó ảnh hưởng gián tiếp đến thu nhập và dòng tiền chuyển về Việt Nam.
Xung đột địa chính trị tại Trung Đông cũng góp phần tác động đến dòng kiều hối, khi làm gia tăng biến động giá năng lượng và áp lực lạm phát toàn cầu. Việc này ảnh hưởng đến thu nhập thực tế của người lao động.
Chua kể, hoạt động kinh tế gián đoạn cục bộ tại một số nước ở khu vực này cũng làm giảm thu nhập và khả năng gửi tiền về của lao động Việt. Theo đại diện Ngân hàng Nhà nước, do tỷ trọng kiều hối từ khu vực này không lớn nên tác động chủ yếu mang tính gián tiếp.
Bà Liên nhận định thêm, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định nhưng một số kênh đầu tư chưa thực sự hấp dẫn dòng vốn kiều hối. Chênh lệch lãi suất giữa VND và USD không lớn cũng phần nào ảnh hưởng đến quyết định chuyển tiền về nước.
Ngoài ra, yếu tố mùa vụ sau cao điểm chuyển tiền dịp cuối năm phục vụ nhu cầu chi tiêu lễ, Tết khiến lượng kiều hối trong quý đầu năm thường giảm.
Dự báo trong thời gian tới, đại diện Ngân hàng Nhà nước cho rằng kiều hối có thể chưa tăng rõ rệt do còn phụ thuộc vào diễn biến kinh tế trong và ngoài nước. Thông thường, sau giai đoạn thấp điểm đầu năm, kiều hối có xu hướng phục hồi nhẹ trong các quý tiếp theo khi hoạt động kinh tế và việc làm của lao động ở nước ngoài dần ổn định trở lại.
Tuy nhiên, diễn biến xung đột tại Trung Đông và các khu vực khác vẫn phức tạp, tiếp tục tác động đến giá năng lượng, lạm phát và tâm lý thị trường. Việc này ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng tích lũy của kiều bào.
Cũng theo Ngân hàng Nhà Nước, tại Đồng Nai, tính đến hết 31/3, kiều hối chủ yếu được chuyển qua các tổ chức tín dụng cũng giảm hơn 16% so với quý trước, xuống 36,4 triệu USD.
Tập đoàn VNG (mã chứng khoán: VNZ) ghi nhận doanh thu thuần quý đầu năm tăng 32% so với cùng kỳ, lên gần 2.800 tỷ đồng.
Trò chơi trực tuyến vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo trong cơ cấu doanh thu với gần 69%, tương đương khoảng 1.940 tỷ đồng. Ứng dụng nhắn tin Zalo và các nền tảng AI đứng thứ hai với tổng cộng 506 tỷ đồng. Ứng dụng thanh toán Zalopay và mảng kinh doanh giải pháp AI cho doanh nghiệp lần lượt xếp sau, đạt 216 tỷ đồng và 170 tỷ đồng.
CEO VNG Kelly Wong cho biết bốn mảng kinh doanh chủ lực của doanh nghiệp đều tăng trưởng hai chữ số trong quý đầu năm. Trong đó, Zalopay biến động mạnh nhất với 117%, một phần nhờ cung cấp thêm giải pháp thanh toán "tap to pay" (chạm để thanh toán) và mở rộng mạng lưới chấp nhận QR quốc tế tại 5 quốc gia châu Á.
VNG lãi gộp 1.110 tỷ đồng trong quý đầu năm. Tỷ suất sinh lời đạt khoảng 40%, tức cứ 100 đồng doanh thu có lãi 40 đồng sau khi trừ giá vốn. Con số này cải thiện đáng kể so với mức 37,5% của cùng kỳ năm ngoái.
Trừ hết chi phí, VNG lãi sau thuế 125 tỷ đồng. Kết quả này cắt chuỗi lỗ hai quý trước đó, đồng thời là mức cao nhất từ khi doanh nghiệp đăng ký giao dịch trên sàn chứng khoán vào cuối 2022. Theo ông Kelly Wong, bên cạnh hiệu quả kinh doanh của 4 mảng chủ lực tăng lên, khoản lãi đậm còn đến từ kỷ luật vận hành và kiểm soát chi phí.
Sức khỏe tài chính của VNG gần đây liên tục khởi sắc. Năm ngoái, doanh nghiệp lỗ hợp nhất 263 tỷ đồng, nối dài chuỗi lỗ 5 năm liên tiếp, nhưng con số này chỉ bằng một phần tư so với 2024 và chưa đến phân nửa so với kế hoạch ban lãnh đạo dự tính trước đó.
VNG thành lập năm 2004 tại một tiệm cà phê internet với tên gọi ban đầu là VinaGame. Từ mảng kinh doanh ban đầu là phát hành game nhập vai, VNG dần mở rộng sang dịch vụ nhắn tin, thanh toán điện tử, quảng cáo trực tuyến và trí tuệ nhân tạo.
Tập đoàn hiện có 37 công ty con trực tiếp và gián tiếp, với tổng số hơn 3.300 nhân sự. Tổng tài sản tính đến cuối quý I hơn 10.730 tỷ đồng, còn lợi nhuận chưa phân phối đạt 740 tỷ đồng.
Trong báo cáo triển vọng năng lượng ngắn hạn ngày 7/4, EIA tỏ ra thiếu chắc chắn về thị trường, khi dự báo giá dầu Brent giao ngay toàn cầu trung bình là 96 USD năm nay. Mức này tăng so với dự báo trước đó là 78,8 USD mỗi thùng.
"Chúng tôi vẫn duy trì phần bù rủi ro với giá dầu thô trong dự báo. Lo ngại về gián đoạn nguồn cung sẽ tiếp tục neo giá nhiên liệu ở mức cao hơn trước xung đột", EIA giải thích.
Cơ quan này cho rằng dòng chảy dầu qua eo biển Hormuz sẽ mất vài tháng để phục hồi hoàn toàn. Do đó, giá nhiên liệu khó hạ nhiệt cho tới khi sản lượng của các quốc gia tại Trung Đông trở lại bình thường.
Bên cạnh đó, họ ước tính giá xăng trung bình tại Mỹ tháng này có thể đạt đỉnh 4,3 USD một gallon (1,14 USD một lít). Còn mức bình quân năm là hơn 3,7 USD (khoảng 0,98 USD mỗi lít).
Giá dầu diesel trung bình cũng có thể lên tới 5,8 USD một gallon (1,53 USD một lít) trong tháng 4, và 4,8 USD (tức 1,27 USD mỗi lít) năm nay.
Báo cáo này được đưa ra vài giờ trước khi Tổng thống Mỹ Donald Trump thông báo đồng ý lệnh ngừng bắn kéo dài hai tuần với Iran, với điều kiện Tehran mở lại eo biển Hormuz. Hội đồng An ninh Quốc gia Tối cao Iran cũng cho biết họ chấp thuận lệnh ngừng bắn.
Tại một sự kiện của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA) tại Singapore ngày 8/4, các lãnh đạo Malaysia Aviation Group và Thai Airways International cho rằng dù Mỹ - Iran thông báo ngừng bắn, ảnh hưởng lên giá cả và nguồn cung nhiên liệu vẫn kéo dài. "Kể cả nếu chiến sự chấm dứt, sẽ phải mất nhiều tháng nữa giá nhiên liệu máy bay mới bình ổn", Nasaruddin Bakar - CEO Malaysia Aviation Group nhận định. Giá nhiên liệu máy bay đã tăng hơn gấp đôi từ khi chiến sự nổ ra, buộc nhiều hãng hàng không cắt giảm dịch vụ.
Chiến sự tại Trung Đông đã kéo dài hơn một tháng, làm gián đoạn 20% dòng chảy dầu, khí LNG toàn cầu khi eo biển Hormuz bị phong tỏa. Giá dầu thô, nhiên liệu máy bay, dầu diesel và xăng trên toàn cầu vì thế tăng vọt. Dầu thô từng lên sát 120 USD một thùng đầu tháng trước. Tuy nhiên, thông báo của ông Trump sáng 8/4 khiến giá về dưới 100 USD.
Trong cuộc họp cuối tuần trước, quan chức Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ và đồng minh (OPEC+) cũng cho biết kể cả khi chiến sự chấm dứt và eo biển Hormuz được mở lại, các nước vẫn mất vài tháng để khôi phục hoạt động và đạt mục tiêu sản lượng. Tại vùng Vịnh, nhiều cơ sở hạ tầng chịu thiệt hại do các cuộc tấn công bằng tên lửa và thiết bị bay không người lái.
Trước đó, trong họp báo ngày 31/3, sau cuộc gặp các Bộ trưởng Năng lượng EU, Ủy viên Năng lượng Liên minh châu Âu (EU) Dan Jørgensen khẳng định "kể cả hòa bình đến ngay ngày mai, giá năng lượng sẽ không sớm quay về mức bình thường".
EIA cũng giảm nửa dự báo tăng trưởng nhu cầu dầu toàn cầu so với trước đó, do tình trạng thiếu nhiên liệu ở một số khu vực trên thế giới, và các chính phủ tung biện pháp hạn chế tiêu thụ, xuất khẩu xăng dầu.
Nhu cầu dầu toàn cầu hiện được dự báo tăng khoảng 600.000 thùng một ngày, lên 104,6 triệu thùng. Con số này giảm so với dự báo trước đó là tăng 1,2 triệu thùng một ngày trong năm nay. "Chúng tôi giả định mức giảm nhu cầu chủ yếu xảy ra tại châu Á, do phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn cung dầu thô từ Trung Đông", EIA cho biết.
Cơ quan này kỳ vọng nhu cầu dầu phục hồi vào năm sau, khi nguồn cung trở lại bình thường vào cuối năm nay. Họ dự báo nhu cầu dầu sẽ tăng trung bình 1,6 triệu thùng một ngày vào năm tới.