ACB giảm giá vàng miếng SJC 400.000 đồng mỗi lượng, mua vào còn 170,1 triệu đồng, bán ra 173,1 triệu đồng. Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn – SJC không thay đổi giá vàng, mua vào ở mức 170,1 triệu đồng, bán ra 173,1 triệu đồng. Các công ty kinh doanh vàng khác cũng không thay đổi giá, chẳng hạn, Công ty Phú Quý giữ giá mua ở mức 170,1 triệu đồng, bán ra 173,1 triệu đồng…
Trong khi đó, giá vàng nhẫn của Công ty Phú Quý giảm 300.000 đồng mỗi lượng, mua vào xuống 169,6 triệu đồng, bán ra 172,6 triệu đồng. Công ty SJC mua vào 169,6 triệu đồng, bán ra 172,6 triệu đồng…
Giá vàng thế giới tăng 6 USD mỗi ounce, lên 4.556 USD. Giá vàng tăng nhẹ được hỗ trợ bởi một số nhà đầu cơ mua vào dựa trên phân tích kỹ thuật, cũng như nhu cầu trú ẩn an toàn trong bối cảnh chiến tranh Trung Đông. Tuy nhiên, đà tăng của kim loại quý bị hạn chế do chỉ số chứng khoán Mỹ tăng điểm vào đầu tuần giao dịch.
Theo bà Emily Avioli, Phó chủ tịch kiêm chiến lược gia đầu tư tại Merrill, lạm phát gia tăng và cuộc chiến tranh Iran khiến các nhà đầu tư lo ngại, người ta kỳ vọng vàng sẽ có hiệu suất vượt trội, nhưng thực tế lại không phải vậy. Giá vàng đã giảm 16% kể từ khi cuộc xung đột Trung Đông xảy ra. Trong bốn tuần qua, giá vàng biến động phần lớn song hành với các tài sản rủi ro, đi ngược lại vai trò thông thường của nó như một công cụ phòng ngừa bất ổn địa chính trị. Sự điều chỉnh giảm giá vàng diễn ra sau một đợt tăng trưởng phi thường. Tuy nhiên, bà cho rằng, những thách thức ngắn hạn này không phủ nhận khi sự bất ổn xung quanh cuộc xung đột ở Trung Đông bắt đầu giảm bớt, những động lực cầu cơ bản sẽ một lần nữa khẳng định lại vai trò của mình, vàng có vai trò quan trọng như một công cụ đa dạng hóa chiến lược trong các danh mục đầu tư cân bằng.

Trong khi đó, Việt Nam, một trong những quốc gia xuất khẩu phân bón đang duy trì mức thuế xuất khẩu 5% đối với phân ure và super lân. Điều này khiến giá thành sản phẩm của doanh nghiệp trong nước cao hơn so với đối thủ quốc tế, từ đó làm suy giảm đáng kể năng lực cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Tại Tọa đàm trực tuyến "Cần chính sách giảm thuế xuất khẩu phân bón, thích ứng hội nhập thế giới" do Báo Nhà báo và Công luận tổ chức vào ngày 28/4, ông Nguyễn Văn Phụng, Chuyên gia thuế cao cấp, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Pháp chế Doanh nghiệp Việt Nam nhận định: Chính sách thuế xuất nhập khẩu phân bón của Việt Nam chưa thật sự linh hoạt.
Phân tích rõ hơn về vấn đề này, ông Phụng nói: Thị trường phân bón trong nước có tính thời vụ rất rõ rệt. Vào chính vụ, nhu cầu tăng cao, thậm chí có thời điểm cung không đủ cầu, buộc phải tăng nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu trong nước.
Ngược lại, ở giai đoạn thấp vụ, nguồn cung trong nước lại dư thừa, khiến doanh nghiệp phải tìm đầu ra thông qua xuất khẩu. Điều này tạo nên thực tế "hai chiều": Vừa nhập khẩu trong cao điểm, vừa xuất khẩu khi dư cung.
Tuy nhiên, việc điều hành thuế xuất khẩu thời gian qua chưa thực sự kịp thời với biến động thị trường. Trong nhiều thời điểm nguồn cung tăng mạnh, việc chậm điều chỉnh chính sách, tiếp tục áp dụng mức thuế 5% đã khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu.
Vì vậy, ông Phụng nhấn mạnh: Việt Nam cần thiết lập cơ chế phản ứng chính sách nhanh và linh hoạt hơn, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo cân đối cung – cầu trên thị trường trong nước.
"Thuế không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn là công cụ quan trọng để điều tiết và can thiệp thị trường. Khi thị trường trong nước thiếu hụt nguồn cung, có thể sử dụng thuế xuất khẩu để hạn chế xuất khẩu, ưu tiên nguồn hàng cho tiêu dùng nội địa. Ngược lại, khi nguồn cung trong nước dồi dào hoặc dư thừa, việc điều chỉnh giảm thuế sẽ giúp thúc đẩy xuất khẩu, giải phóng hàng hóa và cân đối thị trường", ông Phụng nói.
Đồng tình với nhận định này, ông Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam đánh giá: Với đặc thù sản xuất phân bón, đặc biệt là các sản phẩm như phân ure, đòi hỏi công nghệ cao và vận hành liên tục, sản lượng càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng được tối ưu. Tuy nhiên, đi cùng với đó là áp lực tiêu thụ sản phẩm, buộc doanh nghiệp phải tìm kiếm thị trường đầu ra ổn định.
Trong bối cảnh này, vai trò điều tiết của Nhà nước thông qua chính sách thuế trở nên đặc biệt quan trọng. Khi nguồn cung trong nước dư thừa, cần có cơ chế linh hoạt để thúc đẩy xuất khẩu, giải phóng hàng hóa và nâng cao hiệu quả sản xuất. Ngược lại, khi thị trường nội địa thiếu hụt, chính sách thuế cần được điều chỉnh kịp thời nhằm ưu tiên nguồn cung cho nông nghiệp trong nước.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc điều hành chính sách chưa đạt được mức độ linh hoạt cần thiết. Cách tiếp cận còn chưa thật sự uyển chuyển, chưa theo kịp biến động nhanh của cung – cầu thị trường.
"Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy điều hành, hướng tới một cơ chế chính sách linh hoạt, uyển chuyển hơn, qua đó tối ưu hiệu quả kinh tế và đảm bảo hài hòa lợi ích giữa sản xuất, xuất khẩu và nhu cầu trong nước", ông Ngọc nhấn mạnh.
Ở góc độ doanh nghiệp, bà Bùi Thị Thanh Giang, Phó trưởng Ban Kế hoạch Kinh doanh Tập đoàn Hóa Chất chia sẻ: Ở thời điểm hiện nay, thị trường phân bón trong nước đang ở giai đoạn chính vụ nên lượng tồn kho tương đối thấp. Tuy nhiên, theo chu kỳ hàng năm, từ khoảng tháng 6 đến tháng 11, nhu cầu phân bón giảm mạnh, khiến tồn kho gia tăng.
Khi đó, vốn sản xuất không được quay vòng, chi phí lãi vay tăng lên, trong khi hàng tồn kho để lâu có thể suy giảm chất lượng (tăng độ ẩm, giảm hiệu quả sử dụng).
Trong bối cảnh này, doanh nghiệp buộc phải giảm công suất hoặc sản xuất cầm chừng, kéo theo chi phí bảo trì, bảo dưỡng tăng cao. Những chi phí này cuối cùng sẽ được phân bổ vào giá thành sản phẩm trong cả năm, làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp tìm được đầu ra xuất khẩu trong giai đoạn thấp vụ, lượng hàng tồn kho sẽ được giải phóng, giúp duy trì sản xuất liên tục và giảm chi phí bình quân. Khi đó, giá thành mỗi đơn vị sản phẩm sẽ giảm, tạo điều kiện hạ giá bán trong nước, qua đó hỗ trợ trực tiếp cho người nông dân.
Đáng chú ý, thị trường khu vực châu Á, đặc biệt là Ấn Độ, có nhu cầu phân bón rất lớn, ước khoảng 18–20 triệu tấn mỗi năm, với mùa vụ có độ lệch so với Việt Nam. Cụ thể, vụ hè tại Ấn Độ bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 7, vụ Đông từ tháng 10 đến tháng 11.
"Chính sự "lệch pha" này tạo cơ hội để doanh nghiệp trong nước đẩy mạnh xuất khẩu vào thời điểm nhu cầu nội địa giảm, qua đó duy trì công suất và tối ưu chi phí sản xuất", bà Giang nói.
Tuy nhiên, chính sách thuế hiện hành đang tạo thêm rào cản cho hoạt động xuất khẩu. Khi xuất khẩu một tấn phân bón, doanh nghiệp không chỉ đối mặt với rủi ro về giá (do phụ thuộc vào giá thế giới và thị trường nhập khẩu), mà còn phải chịu thuế xuất khẩu 5% đối với một số mặt hàng như urê, phân lân. Trong khi đó, nhiều quốc gia cạnh tranh đã đưa thuế này về 0% để khuyến khích xuất khẩu.
Vì vậy, nhiều chuyên gia đồng thuận rằng Việt Nam cần sớm rà soát và điều chỉnh chính sách thuế xuất khẩu phân bón theo hướng linh hoạt, bám sát diễn biến cung – cầu của thị trường. Đồng thời, cần xem xét đưa mức thuế xuất khẩu về 0% nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, thúc đẩy xuất khẩu và nâng cao hiệu quả sản xuất toàn ngành.
TS Hà Huy Ngọc, Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách - Viện Kinh tế và Thế giới Việt Nam đánh giá, bên cạnh việc điều chỉnh chính sách thuế, ngành phân bón Việt Nam hiện đang đối mặt với ba bài toán lớn cần được giải quyết đồng bộ để nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu.
Thứ nhất là bài toán logistics. Chi phí vận chuyển và hạ tầng phục vụ xuất khẩu còn cao, làm giảm lợi thế cạnh tranh về giá của doanh nghiệp. Do đó, cần đầu tư phát triển hạ tầng logistics chuyên dụng, gắn với các khu sản xuất lớn, nhằm giảm chi phí và tạo điều kiện để doanh nghiệp xuất khẩu với giá trị cao hơn.
Thứ hai là vấn đề rào cản thương mại. Hoạt động xuất khẩu phân bón đang chịu ảnh hưởng bởi các quy định kiểm dịch, tiêu chuẩn kỹ thuật khác nhau tại từng thị trường. Bên cạnh đó, nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại, đặc biệt là chống bán phá giá, ngày càng gia tăng. Vì vậy, các bộ, ngành cần tăng cường cơ chế cảnh báo sớm, hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó và giảm thiểu rủi ro khi tham gia thị trường quốc tế.
Thứ ba là yêu cầu chuyển đổi xanh. Ngành phân bón, vốn thuộc lĩnh vực hóa chất, chịu áp lực lớn về giảm phát thải và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe. Do đó, cần có chính sách hỗ trợ về tín dụng, công nghệ và đổi mới sản xuất để doanh nghiệp từng bước chuyển đổi theo hướng xanh, bền vững.
Theo TS Ngọc, chỉ khi đồng thời giải quyết được ba bài toán này, cùng với việc hoàn thiện chính sách thuế theo hướng linh hoạt, ngành phân bón Việt Nam mới có thể nâng cao sức cạnh tranh và tận dụng hiệu quả cơ hội từ thị trường quốc tế.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Phóng viên ghi nhận đầu tháng 5/2026 tại Dự án số 2 - Khu đô thị mới Sao Mai Lam Sơn - Sao Vàng ở xã Sao Vàng, Thanh Hóa. Chủ đầu tư đã cơ bản hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật gồm đường giao thông, hệ thống điện, xử lý nước thải, cây xanh... Chưa xuất hiện các công trình nhà ở hay các tiện ích như trung tâm thương mại, trường học.
"Chúng tôi đang chào bán 198 lô đất nền tại dự án Khu đô thị Sao Mai Sao Vàng, giá dao động từ 17-20 triệu đồng/m2", nhân viên một công ty bất động sản cho hay.
Dự án Khu đô thị Sao Mai Lam Sơn - Sao Vàng được UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 từ năm 2014 với tổng quy mô hơn 132ha. Sau đó, dự án được chia làm hai hợp phần, gồm dự án số 1 rộng 61,6ha hiện chưa triển khai và dự án số 2 rộng khoảng 70,7ha.
Năm 2015, Tập đoàn Sao Mai được công nhận là chủ đầu tư dự án số 2 tại xã Xuân Thắng cũ, nay là xã Sao Vàng. Theo quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư ngày 4/2/2021, dự án có tổng thời gian thực hiện 5 năm, từ 2021 đến hết 2025, tổng mức đầu tư gần 1.000 tỷ đồng.
Theo quy hoạch, dự án sẽ hình thành 1.933 căn nhà ở với tổng diện tích sàn khoảng 565.700m2, gồm 1.252 căn liền kề, 195 căn shoptel và 486 căn tái định cư. Ngoài ra, quỹ đất dành cho nhà ở xã hội hơn 21.900m2 cùng các khu đất công cộng, giáo dục, thể thao, trung tâm văn hóa, cây xanh sẽ được bàn giao cho Nhà nước quản lý sau khi hoàn thiện hạ tầng.
Với vị trí thuận lợi gần sân bay Sao Vàng, giáp Khu công nghiệp Lam Sơn - Sao Vàng, dự án khu đô thị được kỳ vọng sẽ tạo động lực tăng trưởng kinh tế, xã hội ở khu vực phía Tây tỉnh Thanh Hóa.
Năm 2021, UBND tỉnh Thanh Hóa đã giao đất đợt 1 cho chủ đầu tư với tổng diện tích hơn 604.121m2.
Trong đó, khoảng 157.640m2 là đất ở đô thị được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, gồm hơn 128.842m2 đất nhà ở liền kề và gần 28.799m2 đất nhà ở kết hợp thương mại. Thời hạn giao đất 50 năm kể từ thời điểm quyết định có hiệu lực; người mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất được sử dụng đất ổn định, lâu dài.
Phần diện tích còn lại hơn 446.480m2 được giao cho chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch đã phê duyệt, sau đó bàn giao cho Nhà nước quản lý. Quỹ đất này gồm đất tái định cư, nhà ở xã hội, nhà ở cao tầng, trung tâm thương mại, giáo dục, trung tâm văn hóa thể thao, công viên cây xanh và giao thông kỹ thuật. Thời điểm giao đất, khu vực dự án đã hoàn thành giải phóng mặt bằng.
UBND tỉnh Thanh Hóa cũng phê duyệt giá đất cụ thể đối với phần diện tích đất ở giao có thu tiền sử dụng đất đợt 1 của dự án là hơn 2,32 triệu đồng mỗi m2, chưa bao gồm chi phí giải phóng mặt bằng.
Trao đổi với Người Đưa Tin, đại diện UBND xã Sao Vàng cho biết dự án cơ bản đáp ứng điều kiện hạ tầng kỹ thuật, kết nối giao thông, cấp điện, cấp thoát nước và thu gom rác thải. UBND tỉnh Thanh Hóa cũng đã cho phép khu vực dự án được chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô bán nền với 1.447 lô đất ở. Tuy nhiên, tiến độ tổng thể của dự án vẫn chậm so với quy định.
Tháng 8/2025, UBND tỉnh Thanh Hóa đã thống nhất chủ trương gia hạn thời gian thực hiện dự án. Theo đó, UBND tỉnh Thanh Hóa yêu cầu phần diện tích đã giao cho chủ đầu tư phải hoàn thành xây dựng trong năm 2025; phần diện tích còn lại phải hoàn tất giải phóng mặt bằng trước ngày 1/3/2026 và hoàn thành toàn bộ dự án trước ngày 1/9/2026.
Theo UBND xã Sao Vàng, hiện phần diện tích còn lại 2,74ha chưa được GPMB của dự án chủ yếu có nguồn gốc từ đất của Nông trườngSao Vàng (nay là Công ty TNHH Lam Sơn - Sao Vàng), người dân đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất; một số thửa đất chỉ được thu hồi, bàn giao một phần; một số thửa liền kề cùng thời điểm sử dụng đất, cùng mục đích sửdụng lại chưa được thu hồi, bàn giao … do đó, gây khó khăn trong việc xác định nguồn gốc sử dụng đất; khó khăn trong sự đồng thuận của người đang sử dụng đất.
"Xã đã thành lập hội đồng GPMB nhưng chưa thực hiện được GPMB do các vướng mắc kể trên. UBND xã Sao Vàng sẽ làm việc với Tập đoàn Sao Mai và các đơn vị có liên quan để tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và khẩn trương triển khai công tác bồi thường GPMB thực hiện dự án theo quy định", đại diện UBND xã Sao Vàng cho hay.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
Cả nước có gần 30.000 doanh nghiệp gia nhập thị trường trong tháng 4/2026

Theo báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng nay (3/5), trong tháng 4, cả nước có gần 20.400 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký gần 246.800 tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 91.000 lao động, giảm 7,1% về số doanh nghiệp, tăng 9,7% về vốn đăng ký và giảm 7,5% về số lao động so với tháng 3.
So với cùng kỳ năm trước, tăng 33,9% về số doanh nghiệp, tăng 84,6% về số vốn đăng ký và giảm 28,7% về số lao động. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 4 đạt 12,1 tỷ đồng, tăng 18,1% so với tháng trước và tăng 37,9% so với cùng kỳ năm trước.
Bên cạnh đó, cả nước còn có gần 9.500 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 19,8% so với tháng trước và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong tháng 4, có 8.863 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 75,2% so với tháng trước và tăng 23,4% so với cùng kỳ năm 2025; 5.388 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 14,5% và giảm 40,1%; có 3.473 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 9% và tăng 98,5%.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, cả nước có 77.800 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký gần 785.400 tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký 356.900 lao động, tăng 50,7% về số doanh nghiệp, tăng 60,1% về vốn đăng ký và tăng 0,3% về số lao động so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong bốn tháng năm 2026 đạt 10,1 tỷ đồng, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2025. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 4 tháng năm 2026 là gần 1,9 triệu tỷ đồng, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2025.
Bên cạnh đó, 4 tháng qua, cả nước có 41.600 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2025), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 4 tháng năm 2026 lên hơn 119.400 doanh nghiệp, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân một tháng có 29.900 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Theo khu vực kinh tế, 4 tháng đầu năm 2026, có 827 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 66,7% so với cùng kỳ năm trước; 18.900 doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 56,6%; gần 58.100 doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, tăng 48,7%.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

