Cụ thể ở môn toán, tốp 10 tỉnh/thành có điểm trung bình môn toán tốt nghiệp THPT 2026 cao nhất cả nước, theo thứ tự là Ninh Bình, TP.HCM, Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Hà Tĩnh, Nghệ An, Bắc Ninh, Huế, Phú Thọ.
Trong đó, tỉnh Ninh Bình dẫn đầu với điểm trung bình môn toán thi tốt nghiệp THPT là 6,265; kế đó là TP.HCM (6,189 điểm); Hà Nội (6,164 điểm); Hải Phòng (6,011 điểm); Hưng Yên (5,988 điểm)…. Phú Thọ – tỉnh đứng thứ 10 trong bảng xếp hạng này có điểm trung bình toán là 5,702 điểm.
Còn 10 tỉnh/thành có nhiều điểm 10 toán tốt nghiệp THPT nhất cả nước, theo thứ tự từ cao tới thấp là Hà Nội, TP.HCM, Nghệ An, Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Phòng, Phú Thọ, Thanh Hóa, Hà Tĩnh.
Hà Nội năm nay có 676 điểm 10 toán tốt nghiệp; TP.HCM có 445 điểm 10 toán; Nghệ An có 350 điểm 10 toán tốt nghiệp; Ninh Bình có 287 điểm 10 môn toán; Hưng Yên có 286 điểm 10 môn toán…
Năm nay, cả nước không có thí sinh nào đạt 10 điểm văn thi tốt nghiệp THPT.
10 tỉnh thành trong bảng xếp hạng có điểm trung bình môn văn cao nhất kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 gồm: Ninh Bình, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Nội, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Đồng Tháp, Phú Thọ, Thái Nguyên, Lai Châu.
Điểm trung bình môn văn của thí sinh Ninh Bình là 7,257 điểm; Hải Phòng là 7,253 điểm; Nghệ An là 7,027 điểm. Học sinh Hà Nội có điểm trung bình môn văn thi tốt nghiệp là 7,016 điểm; còn học sinh Thanh Hóa là 7,003 điểm.
Hà Nội dẫn đầu cả nước trong bảng xếp hạng tỉnh thành có nhiều điểm 10 nhất môn tiếng Anh tốt nghiệp THPT (118 em đạt điểm 10); TP.HCM đứng thứ 2 khi có 88 thí sinh giành 10 điểm tiếng Anh. Hải Phòng xếp thứ 3 trong bảng xếp hạng điểm 10 khi có 15 em đạt điểm 10 tiếng Anh tốt nghiệp.
Các tỉnh thành còn lại nằm trong tốp 10 tỉnh/thành có nhiều điểm 10 tiếng Anh nhất gồm có Nghệ An, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Phú Thọ, Ninh Bình, Đà Nẵng, Khánh Hòa.
Nếu xét về điểm trung bình cao nhất môn tiếng Anh, dẫn đầu cả nước vẫn là Hà Nội, với mức điểm là 5,549.
Tuyên Quang đứng thứ 2 trong bảng xếp hạng, với điểm trung bình môn tiếng Anh là 5,397; TP.HCM đứng thứ ba với mức điểm 5,369.
Các tỉnh thành còn lại trong tốp 10 tỉnh thành có điểm trung bình cao nhất môn tiếng Anh là Quảng Ninh, Nghệ An, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Huế.
TP.HCM dẫn đầu bảng xếp hạng tốp 10 tỉnh thành có nhiều điểm 10 môn hóa thi tốt nghiệp THPT 2026 nhất với 61 điểm 10. Kế đó, thí sinh Hà Nội có 59 điểm 10 hóa học, Phú Thọ có 32 điểm 10 hóa học, Thanh Hóa có 31 điểm 10 hóa học, Nghệ An có 29 điểm 10 môn học này.
Những tỉnh thành còn lại trong bảng xếp hạng này là: Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng, Ninh Bình, Đà Nẵng.
Nếu xét về tiêu chí điểm trung bình cao nhất môn hóa học ở kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay, 10 tỉnh thành được xếp hạng là: Hà Tĩnh (điểm trung bình 6,899); Tuyên Quang 6,766); Huế (6,762); Nghệ An (6,76); Quảng Ninh (6,646 điểm); Hà Nội (6,564 điểm); Phú Thọ (6,543 điểm); Quảng Trị (6,497 điểm); Đà Nẵng (6,454 điểm) và Hải Phòng (6,444 điểm).
Một lần nữa, Hà Nội lại đứng đầu bảng xếp hạng 10 tỉnh thành có nhiều điểm 10 nhất môn vật lý kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 với 32 điểm 10. Thứ 2 là TP.HCM, có 25 điểm 10 môn vật lý. Về thứ 3 là Thanh Hóa, có 17 điểm 10 môn vật lý ở kỳ thi năm nay.
Những tỉnh thành còn lại trong bảng xếp hạng nhiều điểm 10 vật lý này gồm: Hải Phòng, Ninh Bình, Bắc Ninh, Phú Thọ, Nghệ An, Huế, Hưng Yên.
Nếu xét về điểm trung bình cao nhất môn vật lý của cả nước, Hà Tĩnh đứng đầu bảng xếp hạng (6,251 điểm); kế đó là Phú Thọ (6,064 điểm); Nghệ An (6,054 điểm); Hà Nội (6,016 điểm), Quảng Ninh (6,003 điểm); Ninh Bình (5,932 điểm); Bắc Ninh (5,839 điểm); Huế (5,83 điểm); Tuyên Quang (5,827 điểm) và Hải Phòng với 5,81 điểm.
TP.HCM đứng đầu cả nước khi có 45 thí sinh đạt 10 điểm trọn vẹn môn sinh học; kế đó là Nghệ An có 11 em đạt 10 điểm môn sinh; Hà Nội có 9 em. Những tỉnh thành khác có nhiều thí sinh đạt 10 điểm môn sinh trong kỳ thi tốt nghiệp năm nay là: Bắc Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa, Tuyên Quang, Phú Thọ, Đồng Tháp.
Trong khi đó, Bắc Ninh đứng đầu cả nước trong bảng xếp hạng tốp 10 tỉnh thành có điểm trung bình cao nhất môn sinh học (6,912 điểm). Thứ 2 là Hải Phòng (6,699 điểm); thứ 3 là Hà Nội (6,453 điểm). TP.HCM đứng thứ 5 trong bảng xếp hạng với 6,248 điểm.
Dưới đây là đáp án chính thức các mã đề của môn vật lý trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026:
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay diễn ra trong 2 ngày 11 và 12/6, với quy mô hơn 1,22 triệu thí sinh đăng ký dự thi, tăng gần 62.000 em so với năm trước và là kỳ thi có số lượng thí sinh lớn nhất từ trước đến nay.
Trong tổng số thí sinh đăng ký, hơn 1,16 triệu em là học sinh lớp 12, chiếm 95,24%; số thí sinh tự do là 57.334, chiếm 4,76%.
Theo kế hoạch, điểm thi tốt nghiệp THPT 2026 sẽ được công bố sáng 1/7. Quy chế tuyển sinh năm nay cho thấy, dù xét tuyển đại học bằng phương thức nào, thí sinh phải đạt tổng điểm thi tốt nghiệp của ba môn theo tổ hợp từ 15 trở lên.
Trước kỳ thi, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, đề thi tốt nghiệp THPT 2026 sẽ bám sát năng lực, kiến thức theo chương trình phổ thông, có sự cân bằng về độ khó giữa các môn.
Cụ thể, với các chương trình đào tạo giáo viên, thí sinh phải có kết quả học tập lớp 12 ở mức tốt và đáp ứng một trong hai điều kiện: Tổng điểm ba môn thi tốt nghiệp THPT từ 18 trở lên hoặc điểm xét tốt nghiệp THPT từ 8,5.
Mức này với ngành Giáo dục thể chất, Sư phạm Âm nhạc, Sư phạm Mỹ thuật và khối ngành ngoài sư phạm, lần lượt là 16,5 và 6,5 điểm. Đồng thời, thí sinh phải có kết quả học tập lớp 12 ở mức khá.
Ở phương thức xét điểm thi đánh giá năng lực (SPT), thí sinh phải dự thi ít nhất ba môn để xét điểm theo tổ hợp.
Với thí sinh có năng lực và thành tích vượt trội, trường chia theo ba nhóm. Một là nhóm có điểm rèn luyện và học tập 3 năm THPT ở mức tốt, đồng thời đáp ứng một trong các điều kiện: học tại các trường thuộc Đại học Sư phạm Hà Nội và TP HCM hoặc trường chuyên, đạt giải ba học sinh giỏi hoặc thi khoa học kỹ thuật cấp tỉnh/trường đại học trở lên.
Hai diện còn lại áp dụng với các ngành Sư phạm Âm nhạc và Mỹ thuật hay Giáo dục thể chất và Huấn luyện thể thao. Đây là những thí sinh có học bạ THPT đạt khá trở lên, đồng thời trong top 5% điểm cao nhất kỳ thi năng khiếu của trường, hoặc có thành tích cao trong lĩnh vực liên quan (tốt nghiệp loại giỏi các trường năng khiếu, nghệ thuật, đoạt giải cuộc thi nghệ thuật hay giải thi đấu thể thao cấp tỉnh trở lên, đạt chuẩn vận động viên cấp 1, kiện tướng quốc gia).
Với phương thức xét bằng điểm thi tốt nghiệp THPT, trường không quy đổi điểm Tiếng Anh từ chứng chỉ ngoại ngữ, điểm sàn được công bố ngày 10/7.
Năm ngoái, trường Đại học Sư phạm Hà Nội tuyển khoảng 5.000 sinh viên. Điểm chuẩn từ 19 đến 29,06/30. Sư phạm Lịch sử dẫn đầu, một số ngành lấy trên 28 điểm là Giáo dục chính trị và các ngành Sư phạm Toán, Vật lý, Hóa học, Ngữ văn, Địa lý.
Hai ngành có điểm chuẩn dưới 20 là Sinh học và Công nghệ sinh học (không phải nhóm đào tạo giáo viên).
Tại buổi làm với Phó thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu về tình hình thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục, sáng 26.6, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn đã nêu nhiều "điểm nghẽn" của giáo dục cần được nhìn đúng bản chất và giải quyết từ gốc để các chủ trương đổi mới thực sự đi vào cuộc sống.
Về vấn đề đội ngũ giáo viên, ở góc độ tổng thể, ngành giáo dục đang thiếu giáo viên; đồng thời vẫn tồn tại tình trạng thừa, thiếu cục bộ. Dù vậy, nếu chỉ nhìn vào số lượng biên chế còn thiếu thì chưa phản ánh đầy đủ bản chất của vấn đề. "Không phải là không có người dạy, mà giáo viên đang quá tải", Bộ trưởng GD-ĐT nhấn mạnh.
Theo ông Minh Sơn, hiện Việt Nam đạt tỷ lệ khoảng 22 - 23 học sinh/giáo viên, trong khi ở nhiều quốc gia phát triển, con số này chỉ khoảng 15 - 16 hoặc thấp hơn. Khi một giáo viên phải phụ trách quá nhiều học sinh, việc quan tâm đến từng em, đổi mới phương pháp dạy học hay tổ chức các hoạt động trải nghiệm sẽ bị hạn chế.
Giải pháp cho "điểm nghẽn" này, theo Bộ trưởng Sơn, việc sắp xếp mạng lưới trường học sẽ giúp ngành giáo dục có thêm khoảng 55.000 biên chế giáo viên do giảm số biên chế cán bộ quản lý, nhân viên trường học.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu điều chỉnh định mức giáo viên phù hợp theo từng giai đoạn phát triển. Tuy nhiên, về lâu dài, vẫn phải bảo đảm đủ giáo viên theo định mức, bởi đây là chỉ số đánh giá chất lượng giáo dục của một quốc gia.
Về sắp xếp mạng lưới, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cho biết, việc này liên quan đến nhiều vấn đề cần được tính toán đồng bộ như học sinh có phải đi học xa hơn hay không; đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý được bố trí như thế nào…
Một trong những nội dung được Bộ trưởng đặc biệt quan tâm là giáo viên hợp đồng. Theo ông, nhiều giáo viên đã đứng lớp hàng chục năm nhưng vẫn chưa được tuyển dụng vào viên chức, trong khi vẫn thực hiện đầy đủ nhiệm vụ chuyên môn như giáo viên trong biên chế.
"Bản thân tôi rất trăn trở về vấn đề này. Tại sao giữa giáo viên hợp đồng và giáo viên là viên chức lại còn có sự bất bình đẳng? Làm thế nào để những giáo viên đã cống hiến nhiều năm có cơ hội được tuyển dụng?", Bộ trưởng GD-ĐT chia sẻ. Theo ông, đây là vấn đề cần tiếp tục được các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, tháo gỡ để bảo đảm công bằng cho đội ngũ giáo viên đã nhiều năm cống hiến.
Trao đổi về vấn đề giảm áp lực học tập và thi cử, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cho rằng điều cần làm trước tiên là nhìn đúng nguyên nhân: áp lực không nằm ở hình thức thi hay phương thức tuyển sinh, mà bắt nguồn từ sự mất cân đối "cung - cầu" (giữa nhu cầu học tập của người dân với năng lực đáp ứng của hệ thống giáo dục).
Dẫn chứng từ giáo dục đại học, ông Minh Sơn cho biết trước đây việc vào đại học rất căng thẳng, nhưng khi quy mô đào tạo được mở rộng, chỉ tiêu đáp ứng nhu cầu người học thì áp lực tuyển sinh đã giảm đáng kể. "Không giải quyết được thiếu trường, thiếu lớp, thiếu chỉ tiêu thì không thể giải quyết được áp lực thi cử", Bộ trưởng nhấn mạnh và cho rằng giải pháp căn cơ vẫn là bảo đảm đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên.
Cũng đề cập đến vấn đề tuyển sinh, Bộ trưởng cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận. Theo ông, khi gọi là "tuyển sinh" thì mặc nhiên sẽ có "tuyển", có "chọn". Nếu xác định học tập là quyền của mỗi học sinh thì cần nhìn nhận lại từ góc độ bảo đảm cơ hội học tập cho người học, thay vì chỉ tiếp cận dưới góc độ tuyển chọn.
Người đứng đầu ngành giáo dục cũng cho rằng cần tiếp tục rà soát chương trình giáo dục phổ thông trên tinh thần khoa học và thực tiễn. Theo ông, chương trình hiện nay không phải quá nặng như nhiều người vẫn nghĩ, thậm chí một số chỉ số còn thấp hơn chuẩn của nhiều nước phát triển. Điều cần đổi mới nhiều hơn là phương pháp dạy học, tăng cơ hội thực hành, trải nghiệm để học sinh phát triển năng lực thay vì chỉ tiếp thu kiến thức.
Ở những nơi có điều kiện, Bộ GD-ĐT sẽ khuyến khích thí điểm mô hình học tập cá thể hóa, tạo điều kiện để học sinh được học phù hợp hơn với năng lực và sở trường của mình, qua đó vừa nâng cao chất lượng giáo dục, vừa góp phần giảm áp lực học tập.
Cùng với việc mở rộng năng lực đáp ứng của hệ thống giáo dục, Bộ GD-ĐT cũng đang nghiên cứu phát triển ứng dụng gia sư AI để hỗ trợ học sinh tự học. Theo Bộ trưởng, đây sẽ là công cụ giúp người học được hỗ trợ cá nhân hóa ngay tại nhà, góp phần giảm nhu cầu học thêm và giảm áp lực học tập trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ.