Bộ tư lệnh Trung tâm (CENTCOM), cơ quan đặc trách hoạt động của quân đội Mỹ ở Trung Đông, hôm 5/4 xác nhận một tiêm kích F-15E đã bị bắn rơi khi làm nhiệm vụ chiến đấu. Tổng thống Donald Trump sau đó cho biết phi cơ đã trúng “tên lửa phòng không vác vai”.
Đây là lần đầu máy bay có người lái của Mỹ bị bắn rơi trên lãnh thổ Iran. Chỉ vài giờ sau, một cường kích A-10 cũng trúng hỏa lực đối phương, phi công cố điều khiển máy bay rời không phận Iran rồi phóng ghế thoát hiểm ở không phận đồng minh.
Các sự việc xảy ra chỉ hai tuần sau vụ tiêm kích tàng hình F-35A bị phòng không Iran phục kích, khiến phi công bị thương và máy bay hỏng nặng, dự kiến mất nhiều thời gian để sửa chữa. Ngày 26/3, một tiêm kích đa năng Super Hornet của hải quân Mỹ cũng suýt trúng tên lửa vác vai ở khu vực thành phố cảng Chabahar, miền nam Iran.
Những sự việc trên được giới chuyên gia coi là “gáo nước lạnh” đối với Washington, đặc biệt là khi Tổng thống Trump và quân đội Mỹ nhiều lần khẳng định năng lực phòng không Iran đã bị suy giảm nặng nề.
Tướng Alireza Elhami, chỉ huy Bộ tư lệnh Liên hợp Phòng không Quốc gia Iran, cho biết nước này đang phục kích máy bay quân sự đối phương bằng “các phương pháp và khí tài nội địa hiện đại”. Ông khẳng định Iran hạ được phi cơ hiện đại của Mỹ nhờ triển khai chiến thuật hợp lý, kết hợp với “các thiết bị hiện đại và đổi mới hệ thống phòng thủ”, nhưng không nêu cụ thể thông tin.
Amir Avivi, chủ tịch Diễn đàn An ninh và Quốc phòng Israel (IDSF), viện nghiên cứu chuyên cố vấn cho chính phủ nước này, nhận định Iran đang sử dụng mạng lưới camera đa phổ tinh vi, có thể thu được dữ liệu từ các bước sóng nằm ngoài phạm vi quan sát của mắt người, nhằm nhận diện và bám bắt máy bay Mỹ – Israel.
“Camera có thể lắp dọc theo những tuyến bay phổ biến của máy bay Mỹ và Israel. Sau khi phát hiện mục tiêu, Iran sẽ triển khai lực lượng để tìm cách bắn hạ”, ông Gavivi nói, thêm rằng thông tin này được các quan chức cấp cao Israel chia sẻ gần đây.
Giám đốc IDSF chỉ ra rằng sau xung đột 12 ngày hồi tháng 6/2025, quân đội Iran nhận thấy đối phương có thể dễ dàng xác định vị trí các đài radar cảnh giới để tập kích và vô hiệu hóa, khiến Tehran mất khả năng phát hiện mối đe dọa từ xa.
Khác với radar, camera không phát ra tín hiệu vô tuyến nên lực lượng Mỹ – Israel không thể truy ngược vị trí của chúng. Tel Aviv đã chia sẻ thông tin về mạng lưới camera đối phương cho Washington, song đây vẫn là thách thức về mặt tác chiến.
“Đó không phải điều quá bất ngờ, nhưng vẫn là vấn đề lớn”, giám đốc IDSF cho hay, đồng thời cảnh báo rằng Iran vẫn còn nhiều khẩu đội phòng không được bố trí rải rác khắp đất nước.
Theo bình luận viên quân sự James Marinero, camera đa phổ là giải pháp giúp Iran giảm phụ thuộc vào radar phòng không, trong khi vẫn bảo đảm năng lực cảnh giới và bám bắt mục tiêu.
Loại camera này có thể quan sát được nhiều bước sóng ánh sáng khác nhau, tạo ra môi trường giàu dữ liệu, khiến máy bay không thể ẩn mình chỉ bằng cách giảm tín hiệu phản xạ radar và cũng hạn chế đáng kể hiệu quả của những hệ thống đối phó hồng ngoại.
“Mọi vật thể trên bầu trời đều phát tín hiệu đa phổ. Kể cả khi tiêm kích tàng hình F-35 sử dụng hệ thống làm mát để che bớt lượng nhiệt tỏa ra từ động cơ, ma sát giữa không khí và thân máy bay ở tốc độ cao vẫn tạo ra sự tương phản với khí quyển xung quanh”, Marinero cho hay.
Camera đa phổ không phát ra bức xạ, nhờ nguyên lý hoạt động hoàn toàn thụ động. Điều này khiến các thiết bị cảnh báo chiếu xạ radar, như hệ thống tác chiến điện tử AN/ASQ-239 trên tiêm kích F-35, không thể biết đối phương đang theo dõi và báo động cho phi công.
Sau khi phát hiện mục tiêu, cảm biến hồng ngoại có thể chuyển tham số cho tên lửa dùng đầu dò tầm nhiệt để bám bắt. Toàn bộ quá trình từ khi theo dõi đến lúc khai hỏa đều không phát tín hiệu vô tuyến, khiến kíp lái đối phương không kịp trở tay.
Điều này dường như là đã được thể hiện trong vụ tiêm kích F-35A Mỹ bị trúng tên lửa. Chiếc F-35A dường như giữ đường bay ổn định, không có dấu hiệu cơ động ngoặt gấp hoặc thả mồi bẫy để đối phó tên lửa đang lao đến, chưa rõ liệu phi công Mỹ có biết mình đang bị nhắm mục tiêu hay không.
Camera đa phổ có thể nhận diện mục tiêu tốt hơn so với radar nếu ở trong tầm hoạt động hiệu quả. Với radar, mục tiêu thường chỉ hiển thị trên màn hình dưới dạng một đốm hoặc vạch sáng, tùy diện tích phản xạ radar, kèm theo thông số như tầm, hướng, độ cao và tốc độ.
Trong khi đó, camera đa phổ độ phân giải cao có thể thu được hình ảnh đủ rõ để xác định chủng loại máy bay. Có khả năng công nghệ AI cũng được tích hợp vào quá trình xử lý dữ liệu để nâng cao mức độ nhận dạng mục tiêu.
Dù vậy, nhược điểm chính của loại cảm biến này là dễ bị ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết và môi trường. Tầm phát hiện mục tiêu của nó ngắn hơn nhiều so với radar, đồng thời không thể quan sát xuyên mây mù và mưa.
Khả năng đo xa của camera đa phổ cũng rất kém, trừ khi áp dụng một số biện pháp như triển khai nhiều tổ hợp cùng lúc để làm phép đạc tam giác hoặc ước đoán khoảng cách nhờ kích thước mục tiêu.
Phạm Giang (Theo Wall Street Journal, Axios, Tasnim)
Con tàu được tìm thấy dưới đáy biển ở cảng Copenhagen (Đan Mạch) sau hơn 225 năm bị đánh chìm bởi hạm đội Anh của đô đốc Horatio Nelson. Phát hiện trên do Bảo tàng tàu Viking của Đan Mạch dẫn đầu, sau nhiều tháng khai quật dưới nước trong điều kiện đặc biệt khó khăn, theo Hãng tin AP ngày 2.4.
Ở độ sâu khoảng 15 m, các thợ lặn phải làm việc trong lớp trầm tích dày với tầm nhìn gần như bằng không, đồng thời chạy đua với thời gian khi khu vực này sắp trở thành công trường xây dựng thuộc một dự án nhà ở ngoài khơi.
Kết quả khai quật được công bố vào ngày 2.4, đúng dịp tròn 225 năm kể từ ngày diễn ra trận Copenhagen năm 1801. Theo ông Morten Johansen, trưởng bộ phận khảo cổ học hàng hải của Bảo tàng tàu Viking, xác tàu Dannebroge mang ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử và bản sắc dân tộc Đan Mạch.
"Trận chiến này đã được ghi chép rất nhiều, nhưng chúng ta chưa thực sự hiểu cảm giác của những người trên tàu khi bị hỏa lực Anh phá hủy. Xác tàu có thể giúp làm rõ phần nào câu chuyện đó", ông Johansen nói.
Trong trận Copenhagen năm 1801, hạm đội Anh dưới quyền đô đốc Nelson đã tấn công và đánh bại lực lượng hải quân Đan Mạch, khi Copenhagen thiết lập tuyến phòng thủ nhằm bảo vệ cảng trước sự uy hiếp từ bên ngoài.
Báo South China Morning Post dẫn các nguồn thạo tin cho hay, Tổng thống Nga Vladimir Putin sẽ thăm Trung Quốc vào ngày 20/5 tới. Chuyến thăm này là một phần trong các hoạt động giao thiệp thường kỳ của Moscow với Bắc Kinh.
Nếu được xác nhận, đây sẽ là lần đầu tiên Trung Quốc tiếp đón nhà lãnh đạo của 2 cường quốc trong cùng một tháng bên ngoài một khuôn khổ đa phương, phản ánh những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm quản lý mối quan hệ với các bên và định vị mình như một cường quốc then chốt. Tổng thống Mỹ Donald Trump vừa kết thúc chuyến thăm Trung Quốc từ ngày 13/5 đến 15/5.
Với chuyến thăm của ông Putin, Trung Quốc cũng sẽ là quốc gia đầu tiên tiếp đón tất cả 4 nhà lãnh đạo của các thành viên thường trực khác thuộc Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc chỉ trong vòng vài tháng. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã đến thăm Bắc Kinh vào tháng 12, tiếp theo là Thủ tướng Anh Keir Starmer vào tháng 1.
Bộ Ngoại giao Nga và Trung Quốc hiện chưa bình luận về thông tin của South China Morning Post. Tuy nhiên, người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov hôm qua cho biết, Tổng thống Putin sẽ đến thăm Trung Quốc “trong tương lai rất gần”.
Ông Peskov cho biết, thời gian chính xác của chuyến thăm sẽ sớm được công bố và có sự phối hợp với phía Trung Quốc.
“Chúng tôi sẽ sớm công bố chúng. Chuyến thăm này đang được chuẩn bị. Có thể nói công tác chuẩn bị cơ bản đã hoàn tất, chỉ còn lại những khâu hoàn thiện cuối cùng. Chuyến đi sẽ diễn ra trong một tương lai rất gần”, ông nói.
Cuộc gặp gần nhất giữa ông Putin và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình diễn ra vào ngày 4/2 theo hình thức hội nghị trực tuyến. Trong cuộc gặp đó, 2 nhà lãnh đạo đã thảo luận về hợp tác song phương, an ninh toàn cầu và sự phối hợp trong các vấn đề quốc tế lớn, bao gồm các mối quan hệ kinh tế và sự ổn định chiến lược.
Khi được hỏi về các mối tiếp xúc có thể có giữa Nga và Trung Quốc sau chuyến thăm của Tổng thống Trump, ông Peskov cho biết ban lãnh đạo Nga kỳ vọng vào các cuộc tiếp xúc với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình mà không phụ thuộc vào chuyến thăm Bắc Kinh của ông Trump.
Bộ Ngoại giao Áo ngày 4/5 xác nhận thông tin trên đài ORF rằng nước này đã trục xuất ba nhân viên đại sứ quán Nga với cáo buộc làm gián điệp.
"Cần phải khẳng định rõ rằng việc lợi dụng quyền miễn trừ ngoại giao để tiến hành hoạt động gián điệp là điều không thể chấp nhận được", Ngoại trưởng Beate Meinl-Reisinger cho biết, thêm rằng ba nhà ngoại giao Nga đã rời khỏi Áo.
Đài ORF trước đó đưa tin rằng trên nóc tòa nhà đại sứ quán Nga ở Vienna có các thiết bị để thu thập trái phép dữ liệu, bao gồm cả dữ liệu được các tổ chức quốc tế có trụ sở tại thành phố này truyền đi thông qua mạng Internet vệ tinh. Bộ Ngoại giao Áo hồi tháng 4 đã triệu đại sứ Nga về sự việc.
Theo bà Meinl-Reisinger, hoạt động gián điệp là vấn đề an ninh đối với Áo. Nước này đang thay đổi cách thức và có những biện pháp cứng rắn để ứng phó.
"Chúng tôi đã truyền đạt lập trường đó tới Nga, bao gồm cả những quan ngại liên quan đến 'rừng ăng-ten' tại phái bộ ngoại giao Nga", Ngoại trưởng Áo cho biết thêm.
Đại sứ quán Nga tại Vienna gọi quyết định trục xuất của Áo là "thái quá, thiếu thiện chí".
"Đây là hành động hoàn toàn vô căn cứ, mang động cơ chính trị và không thể chấp nhận được", đại sứ quán Nga tuyên bố. "Nga sẽ sớm có phản ứng đáp trả quyết liệt. Vienna hoàn toàn chịu trách nhiệm cho việc quan hệ song phương, vốn đã ở mức thấp nhất lịch sử hiện đại, tiếp tục đi xuống".
Vienna là trung tâm ngoại giao lớn, nơi có Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE) và các tổ chức của Liên Hợp Quốc, như Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế. Những nước lớn như Nga, Mỹ thường có đại sứ riêng tại Áo, OSCE và các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc.
Áo là quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU) duy trì quan điểm trung lập. Trước khi chiến sự Ukraine bùng phát, Áo hiếm khi tiến hành hoạt động trục xuất ngoại giao. Áo chỉ từng trục xuất một nhà ngoại giao Nga bị cáo buộc hoạt động gián điệp vào tháng 4/2020.
Tổng cộng, Áo đã trục xuất 14 nhà ngoại giao Nga kể từ năm 2020. Nga từng đáp trả bằng cách trục xuất một số nhà ngoại giao Áo tại nước này.