Sinh ra trong một gia đình Khmer giàu truyền thống cách mạng ở xã Thạnh Lộc, tỉnh Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang), tuổi thơ của đại đức Danh Út trải qua nhiều vất vả. Khi chưa tròn 1 tuổi, ông mất cha, người mẹ một mình gồng gánh nuôi 8 anh em trong nghèo khó. Tuổi thơ cơ cực đã hun đúc trong ông ý chí vượt lên nghịch cảnh để sống tốt, có ích vì cộng đồng.
Năm 12 tuổi, ông được gia đình xin vào chùa Thôn Dôn để có chỗ nương thân và học hành. Môi trường tu học trong chùa, với sự dìu dắt của các vị sư và tinh thần hiếu học nơi đây đã mở ra cho ông một hướng đi khác. “Ngày xưa nhà nghèo, không có điều kiện học hành đầy đủ. Khi vào chùa, được tạo điều kiện đến trường, tôi mới nhận ra rằng chỉ có học mới giúp được cho đạo và cho đời”, đại đức Danh Út tâm sự.
Trong 15 năm miệt mài, ông lần lượt hoàn thành cử nhân xã hội học (năm 2010), cử nhân Việt Nam học (năm 2012), rồi tiếp tục học thạc sĩ chuyên ngành văn hóa Khmer Nam bộ. Năm 2022, ở tuổi 40, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành văn hóa học tại Trường Ngôn ngữ – Văn hóa – Nghệ thuật Khmer Nam bộ và Nhân văn (ĐH Trà Vinh). Cột mốc ấy không chỉ là niềm tự hào của riêng ông, mà còn là biểu tượng cho tinh thần hiếu học, khát vọng vươn lên của đồng bào Khmer trong thời kỳ hội nhập.
Đại đức Danh Út xem việc học là “chìa khóa” để thay đổi cộng đồng. Vì vậy, tại chùa Thôn Dôn, phong trào học tập được duy trì với nhiều lớp từ chương trình phổ thông, cho đến lớp song ngữ Việt – Khmer, lớp Pali, Vini, dạy chữ Khmer và nhạc ngũ âm truyền thống. Ở các lớp học này, không chỉ có sư sãi mà cả con em phật tử trong vùng cũng được khuyến khích đến học. Những lớp học giản dị ở cửa chùa trở thành nơi ươm mầm tri thức cho nhiều thế hệ. “Muốn giúp đồng bào Khmer phát triển kinh tế thì trước hết phải thay đổi nhận thức. Muốn thay đổi nhận thức thì phải bắt đầu từ giáo dục”, đại đức Danh Út chia sẻ.
Ngoài việc giảng dạy, ông còn trực tiếp vận động từng gia đình cho con em đến trường, học nghề, tiếp cận kiến thức mới. Nhiều gia đình trước đây còn e dè chuyện học hành, nay đã chủ động cho con theo học dài hạn. Nhiều đệ tử của đại đức Danh Út và con em đồng bào dân tộc Khmer đã có bằng cao đẳng, đại học.
Nếu con đường học vấn giúp đại đức Danh Út lan tỏa tri thức, thì những cây cầu giao thông nông thôn là minh chứng rõ nét nhất cho tấm lòng vì cộng đồng của ông.
Thấu hiểu cảnh đi lại khó khăn của bà con nông thôn, nơi những chuyến đò ngang tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt vào mùa mưa, đại đức Danh Út cùng Hội Từ thiện chùa Thôn Dôn vận động nhà hảo tâm xây dựng, sửa chữa nhiều cây cầu, con đường bê tông. Điểm đặc biệt là các cây cầu này không chỉ phục vụ giao thông mà trên mỗi cầu đều được trang trí các biểu tượng như rắn thần Naga, pháp luân hay hình ảnh chư thiên khá tinh xảo, đẹp mắt – những họa tiết gắn liền với Phật giáo Nam tông Khmer và bản sắc văn hóa đồng bào Khmer. Ông đã biến mỗi công trình dân sinh thành một “tác phẩm văn hóa”, vừa tiện ích, vừa góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc.
Không hiếm những buổi sáng sớm hay chiều muộn, người dân thấy trụ trì Danh Út cùng các vị sư trẻ và phật tử trực tiếp tham gia thi công, từ trộn hồ đến đổ khuôn, chạm khắc hoa văn. Hình ảnh ấy tạo nên sự gần gũi, lan tỏa tinh thần gắn kết cộng đồng.
Tại xã Thạnh Lộc, đại đức Danh Út và Hội Từ thiện chùa Thôn Dôn đã giúp xây dựng gần 10 cây cầu nông thôn tải trọng lớn, như các cầu Tà Ben (450 triệu đồng), Cựa Gà (350 triệu đồng), Kinh 5 (350 triệu đồng) hoặc cầu số 9 (450 triệu đồng)… góp phần giúp người dân đi lại thuận tiện và thay đổi diện mạo nông thôn rõ rệt.
Đại đức Danh Út chia sẻ mỗi cây cầu được hoàn thành sẽ nối thêm niềm vui ở đôi bờ, mở ra cơ hội phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân. Cho nên khi phật tử hoặc chính quyền địa phương thông tin là ông đi đến nơi có cầu xuống cấp, hoặc chưa có cầu kiên cố để khảo sát và gặp chính quyền trao đổi, thống nhất phương án thực hiện. Nhờ có uy tín và luôn công khai minh bạch kinh phí nên nhà hảo tâm sẵn sàng đóng góp chi phí xây cây cầu ở nhiều nơi. Tính đến nay, ông đã góp sức xây dựng hơn 100 cây cầu nông thôn, góp phần thay đổi diện mạo sông nước miền Tây.
“Tuổi thơ gắn liền với những chuyến đi xuồng, lội bộ hàng cây số mới tới trường nên tôi luôn tâm nguyện làm sao để con em quê hương không còn phải đối mặt với khó khăn tương tự. Mỗi cây cầu xây dựng không chỉ nối liền những con đường mà còn mở ra cơ hội đến trường an toàn cho học sinh và góp phần giúp địa phương xây dựng nông thôn mới. Tôi mong muốn làm càng nhiều cầu bê tông càng tốt”, đại đức Danh Út nói.
Không dừng lại ở việc xây cầu, đại đức Danh Út còn tích cực thực hiện các hoạt động mang lại lợi ích cho cộng đồng. Ông đã vận động xây hàng chục căn nhà cho người nghèo khó khăn về nhà ở; trùng tu nhiều chùa Khmer trong khu vực và tặng nhiều hệ thống lọc nước phục vụ nước sạch cho bà con các khu vực vùng sâu vùng xa, biên giới. Ngoài ra, ông và Hội Từ thiện chùa Thôn Dôn xây dựng phòng khám bệnh y học cổ truyền phục vụ miễn phí cho người dân; xây dựng lò hỏa táng từ thiện tại chùa và cấp quan tài miễn phí cho người dân khó khăn qua đời.
Từ một cậu bé mồ côi đến khi thành tiến sĩ, hành trình vượt khó của đại đức Danh Út đã tạo động lực mạnh mẽ cho cộng đồng. Tại chùa Thôn Dôn, ông lặng lẽ làm một “nhịp cầu” nối giữa đạo và đời, giữa tri thức và lòng nhân ái để mang lại những giá trị tốt đẹp cho xã hội.
“Mỗi khi thấy cây cầu mới hoàn thành hoặc trường hợp khó khăn nào đó được mình giúp bớt khó khăn trong cuộc sống, cảm giác trong lòng rất vui. Đó là động lực để tôi tiếp tục hành trình làm việc ý nghĩa cho xã hội, giúp đồng bào dân tộc Khmer và mọi người có thêm điều kiện sống tốt hơn, có điều kiện vươn lên”, đại đức Danh Út cho biết.
Tại hội nghị, hơn 20 ý kiến nêu các vướng mắc cụ thể mà doanh nhiệp đang gặp phải được các sở, ngành tỉnh Tây Ninh trả lời chi tiết, cũng như ghi nhận để cùng phối hợp giải quyết.
Trong đó nhiều thắc mắc liên quan đến hướng phát triển tương lai của tỉnh, ông Trương Văn Liếp - Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Tây Ninh - đã giới thiệu lại khái quát bản điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Tây Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 mà tỉnh đang bám vào để thực hiện.
Đặc biệt, một số doanh nghiệp đang hoạt động tại Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Xa Mát đề nghị tỉnh sớm giải quyết vấn đề thiếu bãi tập kết tại khu vực cửa khẩu, cũng như sớm phát triển thêm hạ tầng logistics tại cửa khẩu này.
Trao đổi lại, ông Lê Văn Hẳn cho biết trong thời gian qua, tỉnh Tây Ninh đang tích cực thực hiện, hoàn thiện quy hoạch lại các cửa khẩu cũng như đầu tư nguồn lực cho các khu vực này.
"Chúng tôi cũng nhận thấy được việc các cửa khẩu quốc tế chưa có kinh tế phát triển xứng với tiềm năng, vừa qua tỉnh đã lập nhiều quy hoạch chi tiết cho các cửa khẩu quốc tế, cũng như có nhiều chủ trương đầu tư thêm hạ tầng cho các khu vực này.
Thời gian tới chúng tôi sẽ tiếp tục khảo sát để có những giải pháp tháo gỡ cụ thể các vấn đề mà doanh nghiệp tại khu kinh tế cửa khẩu gặp phải", ông Hẳn nói thêm.
Bên cạnh đó, đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tây Ninh và Hiệp hội Du lịch tỉnh Tây Ninh cũng đề nghị tỉnh quan tâm hơn đến việc phát triển nông nghiệp và du lịch. Liên quan đến hai lĩnh vực này, ông Hẳn khẳng định:
"Nông nghiệp luôn có giá trị to lớn không thể thay thế, Tây Ninh không thể phát triển tách rời nông nghiệp, chúng tôi luôn đề ra nhiều chương trình và đang phát triển một nền nông nghiệp với công nghệ cao hơn, bền vững hơn, đạt được nhiều giá trị hơn".
Ông Hẳn nói thêm Tây Ninh cũng đang phát triển du lịch trở thành một mũi nhọn kinh tế, đạt được nhiều kết quả trong năm qua.
"Nhiều khu vực ở Tây Ninh như quanh núi Bà Đen đã được thiên nhiên ưu đãi nhiều thuận lợi, chúng tôi sẽ luôn quan tâm để phát triển hơn nữa về du lịch và nông nghiệp của vùng đất này", ông Hẳn chia sẻ.
Chiều 11.4, thông tin Đồn biên phòng Tam Thanh (Ban Chỉ huy Bộ đội biên phòng thành phố Đà Nẵng) cho biết đơn vị vừa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với một trường hợp về hành vi sử dụng công cụ kích điện tận diệt thủy sản.
Trước đó, lúc 7 giờ 30 phút ngày 10.4, trong quá trình tuần tra tại khu vực sông Tam Kỳ, đoạn qua khối phố Phú Ân (phường Quảng Phú), tổ công tác Đồn biên phòng Tam Thanh phát hiện một người đàn ông điều khiển ghe máy có dấu hiệu sử dụng kích điện để đánh bắt thủy sản.
Ngay lập tức, lực lượng chức năng tiến hành theo dõi. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi người này đang tiếp tục hoạt động tại khu vực thôn Đông Thạnh (xã Tam Anh), tổ công tác đã bắt giữ, đưa phương tiện vào bờ để kiểm tra.
Qua xác minh, người vi phạm được xác định là ông P.N.T (48 tuổi, ở phường Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng). Kiểm tra phương tiện, lực lượng chức năng phát hiện một bình ắc quy (12 V, 100 Ah) cùng một bộ công cụ kích điện.
Tổ công tác đã lập biên bản vi phạm hành chính, tạm giữ toàn bộ tang vật. Ngay trong ngày, Đồn biên phòng Tam Thanh đã ra quyết định xử phạt ông P.N.T 7,5 triệu đồng, đồng thời tịch thu toàn bộ phương tiện, công cụ vi phạm.
Theo lực lượng chức năng, việc sử dụng kích điện tận diệt thủy sản là hành vi đặc biệt nguy hiểm và bị pháp luật nghiêm cấm. Phương thức này không chỉ làm chết cá mà còn tiêu diệt hàng loạt sinh vật khác, bao gồm cả cá con, trứng và các loài thủy sinh có lợi, gây suy giảm nghiêm trọng nguồn lợi thủy sản và phá vỡ cân bằng hệ sinh thái.
Các cơ quan chức năng khuyến cáo, để bảo vệ môi trường và nguồn lợi thủy sản bền vững, người dân cần nâng cao ý thức, tuyệt đối không sử dụng các hình thức khai thác mang tính hủy diệt như kích điện. Đồng thời, cần tích cực tuyên truyền và kịp thời tố giác các hành vi vi phạm, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau.
Ngày 19/4, Bắc Ninh tổ chức đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh, các sở ngành với gần 400 cán bộ công đoàn cơ sở và công nhân trong doanh nghiệp. Nội dung tập trung vào tiền lương, phúc lợi, bảo hiểm xã hội, hưu trí và nhà ở xã hội.
Toàn tỉnh có hơn 26.000 doanh nghiệp với khoảng 820.000 lao động, trong đó 568.000 người làm việc tại các khu công nghiệp. Nhiều ý kiến tại hội nghị phản ánh khoảng cách giữa chính sách và thực tế việc làm, thu nhập của người lao động.
Ông Phạm Văn Trung, Chủ tịch Công đoàn Công ty Goertek Vina - doanh nghiệp điện tử có gần trăm nghìn lao động làm việc tại KCN Quế Võ, đề nghị nghiên cứu giảm tuổi nghỉ hưu với lao động sản xuất. Theo ông, dù tuổi hưu đang tăng theo lộ trình lên 62 với nam vào năm 2028 và 60 với nữ vào năm 2035, doanh nghiệp tư nhân hầu như không bố trí việc làm cho lao động ở độ tuổi này, nhất là vị trí trực tiếp sản xuất do yêu cầu về sức khỏe và năng suất.
"Nhiều lao động buộc phải nghỉ việc sớm, dẫn đến thiệt thòi về thu nhập và quyền lợi bảo hiểm xã hội khi chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu", ông nói.
Bộ luật Lao động quy định tuổi nghỉ hưu tăng dần theo lộ trình, đồng thời cho phép nghỉ sớm tối đa 5 năm với người suy giảm khả năng lao động hoặc làm nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu nghỉ trước tuổi, người lao động bị giảm 2% tỷ lệ hưởng lương hưu mỗi năm.
Đây không phải lần đầu xuất hiện đề xuất phân loại nhóm lao động để nghỉ hưu sớm. Trước đó, khi góp ý dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024, Liên đoàn Lao động TP Hà Nội cũng kiến nghị áp dụng cơ chế này với công nhân trực tiếp sản xuất.
Về tiền lương tối thiểu vùng, bà Vũ Thị Ninh, Chủ tịch Công đoàn Công ty Cổ phần công nghệ cao môi trường Bình Nguyên, cho biết mức lương tối thiểu vùng II hiện là 4,73 triệu đồng mỗi tháng. Mức này chưa theo kịp đà tăng của điện, nước, xăng dầu và nhu yếu phẩm.
"Đề xuất lãnh đạo tỉnh sớm kiến nghị với Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng để đảm bảo thu nhập và giá trị tích lũy của lao động", bà nói.
Phản hồi các kiến nghị, Phó giám đốc Sở Nội vụ Trần Văn Hà cho biết pháp luật hiện hành đã có các quy định linh hoạt cho phép nghỉ hưu sớm trong một số trường hợp, như làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Với đề xuất giảm tuổi hưu, Sở sẽ tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền để xem xét trong quá trình hoàn thiện chính sách. Đồng thời, tỉnh sẽ nghiên cứu giải pháp sử dụng lao động cao tuổi phù hợp hơn trong doanh nghiệp.
Về lương tối thiểu, Sở Nội vụ Bắc Ninh cho biết đã báo cáo Bộ Nội vụ trong tháng 4, đề nghị sớm điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng phù hợp với chi phí sinh hoạt hiện nay và sẽ tiếp tục theo dõi để kiến nghị bổ sung.
Hiện mức lương tối thiểu áp dụng từ ngày 1/1/2026 là 5,31 triệu đồng với vùng I; 4,73 triệu đồng vùng II; 4,14 triệu đồng vùng III và 3,7 triệu đồng vùng IV. Đây là mức sàn để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận trả lương.
Khảo sát của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam với 3.000 lao động tại 10 tỉnh, thành cho thấy 55% có thu nhập chỉ đủ chi tiêu cơ bản, 26% phải tằn tiện và 8% không đủ sống, phải làm thêm. Gần 73% lao động độc thân cho biết thu nhập là rào cản chính khiến họ chưa lập gia đình.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam cho biết giai đoạn 2015-2022, lương tối thiểu danh nghĩa tăng từ 119 USD lên 168 USD/tháng nhưng giá trị thực tăng chậm do lạm phát. Giai đoạn 2015-2019, lương danh nghĩa tăng 42,7% nhưng thực tế chỉ tăng 20,1%; từ 2020-2022, lương danh nghĩa tăng hơn 6%, song thực tế chỉ tăng 0,7%.
Cơ quan này khuyến nghị việc điều chỉnh lương tối thiểu vùng cần dựa trên dữ liệu về lạm phát, tăng trưởng, năng suất lao động và khả năng chi trả của doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm theo kịp chi phí sinh hoạt.