Diễn biến này được kỳ vọng sẽ kéo giá cà phê Tây Nguyên vượt ngưỡng 100.000 đồng/kg ngay trong những ngày tới, mang lại tín hiệu tích cực cho người trồng cà phê sau giai đoạn giá giảm sâu.
Giá cà phê thế giới tăng mạnh, vượt mốc 4.000 USD/tấn
Sáng 7/7, giới quan tâm giá cà phê được một phen bất ngờ vì giá cà phê đã tăng “dựng đứng” trên các sàn giao dịch quốc tế. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê robusta giao tháng 9/2026 tăng 328 USD, lên 4.044 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 11 cũng tăng 328 USD, đạt 4.007 USD/tấn. Đây là lần đầu tiên sau hơn 5 tháng giá robusta quay trở lại mốc 4.000 USD/tấn.
Trong khi đó, trên sàn New York, giá cà phê arabica ghi nhận mức tăng còn mạnh hơn. Hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng tới 16,19%, tương đương khoảng 1.070 USD/tấn, lên gần 7.700 USD/tấn. Các kỳ hạn khác cũng đồng loạt tăng từ 15-17%, đánh dấu một trong bốn phiên tăng mạnh nhất trong lịch sử giao dịch của mặt hàng này.
Theo Reuters, giá cà phê tăng vọt do nhiều yếu tố cùng xuất hiện trong thời điểm thị trường đang rất nhạy cảm. Trong đó, các quỹ đầu tư đồng loạt tăng mua, còn nhiều nhà đầu tư nắm giữ vị thế bán khống buộc phải mua lại hợp đồng để cắt lỗ, tạo hiệu ứng “ép mua” khiến giá tăng càng mạnh.
Cùng với đó, các chuyên gia khí tượng dự báo hiện tượng El Nino rất mạnh có thể hình thành trong những tháng tới, kéo theo nguy cơ thời tiết cực đoan tại nhiều khu vực sản xuất cà phê chủ chốt trên thế giới.
Đối với robusta, châu Á – khu vực cung ứng phần lớn sản lượng toàn cầu – có nguy cơ phải đối mặt với nắng nóng và khô hạn kéo dài. Trong khi đó, Brazil, quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới, lại chịu tác động của các đợt mưa trái mùa ngay trong giai đoạn thu hoạch.
Theo Barchart, cơ quan khí tượng Rural Clima dự báo nhiều khu vực trồng cà phê của Brazil sẽ tiếp tục có mưa vào giữa tháng 7. Điều này có thể ảnh hưởng đến tiến độ thu hoạch cũng như chất lượng hạt cà phê.
Do phần lớn diện tích cà phê tại Brazil được thu hoạch bằng cơ giới hóa, mưa lớn khiến máy móc khó tiếp cận vườn, làm gián đoạn hoạt động thu hoạch. Bên cạnh đó, giá cà phê duy trì ở mức cao thời gian gần đây cũng giúp nông dân Brazil có điều kiện tài chính tốt hơn để giữ hàng thay vì bán ra ngay, góp phần làm nguồn cung trên thị trường trở nên hạn chế.
Cà phê trong nước tăng giá, kỳ vọng vượt ngưỡng 100.000 đồng/kg
Với mức tăng của robusta trên sàn London, giới kinh doanh dự báo giá cà phê nhân xô tại khu vực Tây Nguyên có thể chạm mốc 100.000 đồng/kg sau thời gian dài dao động dưới ngưỡng này.
Khảo sát cho thấy, giá cà phê tại hầu hết các địa phương vùng Tây Nguyên sáng ngày 7/7 đều đã tăng từ 1.000-4.000 đồng/kg. Trong đó, Đắk Nông (cũ) là địa phương có giá cao nhất, đạt 97.000 đồng/kg, tăng 4.000 đồng/kg; Đắk Lắk và Gia Lai có giá 96.700 đồng/kg trong khi giá thu mua tại Lâm Đồng là 96.200 đồng/kg.
Diễn biến tăng mạnh của thị trường quốc tế được đánh giá là tín hiệu tích cực cho ngành cà phê. Nếu giá nội địa sớm lấy lại mốc 100.000 đồng/kg, người trồng cà phê sẽ có thêm động lực đầu tư chăm sóc vườn cây, đồng thời cải thiện thu nhập sau giai đoạn giá liên tục điều chỉnh trong những tháng vừa qua.
Ông Hoàng Hồng, nông dân trồng cà phê tại Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) chia sẻ, dù đã “chuyển giao” toàn bộ vườn cà phê rộng 5ha của gia đình cho vợ chồng con trai canh tác, ông Hồng vẫn rất phấn khởi khi giá thu mua tăng mạnh.
“Con trai tôi quyết tâm cải tạo vườn cà phê, áp dụng quy trình trồng mới để đạt năng suất và chất lượng cà phê cao hơn. Chỉ mong giá tốt để người nông dân có điều kiện tiếp tục tái đầu tư vào vùng trồng”, ông Hồng nói.
Báo cáo mới đây của Trung tâm Thông tin và Dịch vụ Môi trường (Agreinfos) cũng cho biết, giá cà phê trong nước đã tăng theo xu hướng phục hồi của giá thế giới. Cùng với đó, trong bối cảnh nguồn cung trong nước dần thu hẹp khiến nhiều nông dân tiếp tục có tâm lý giữ hàng chờ giá cao hơn.
Các chuyên gia của Agreinfos nhận định, thị trường cà phê kỳ hạn trong các tháng 7 và 9/2026 sẽ tiếp tục biến động mạnh. Nguồn cung mới từ Brazil khi bước vào cao điểm xuất khẩu trong tháng 7-8 có thể tạo thêm áp lực lên giá.
Mặc dù vậy, diễn biến thị trường vẫn phụ thuộc lớn vào yếu tố thời tiết và hoạt động của các quỹ đầu tư. Tại thị trường trong nước, lượng cà phê hiện còn lại không nhiều do đã vào cuối vụ thu hoạch.
EVN vừa có báo cáo về thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức năm 2025, với sáu hội đồng thành viên, bao gồm chủ tịch HĐTV, thành viên HĐTV kiêm tổng giám đốc và bốn thành viên HĐTV chuyên trách. Ban điều hành gồm có tổng giám đốc và sáu phó tổng giám đốc.
EVN đánh giá năm 2025 kinh tế - xã hội thế giới trải qua một năm đầy biến động, song tập đoàn đã đảm bảo cấp điện an toàn, ổn định phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đất nước và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân.
Sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống năm 2025 đạt gần 322,8 tỉ kWh, tăng 4,6% so với năm 2024. Điện thương phẩm toàn tập đoàn đạt gần 287,85 tỉ kWh, tăng 4,9% so với năm 2024.
Tổng doanh thu hợp nhất toàn tập đoàn đạt gần 645.195 tỉ đồng, tăng 10,3% so với năm 2024, trong đó doanh thu công ty mẹ - EVN đạt 543.779 tỉ đồng, tăng 11,8%. Giá trị nộp ngân sách năm 2025 đạt gần 26.351 tỉ đồng.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty mẹ - EVN năm 2025 có lợi nhuận vượt chỉ tiêu được Bộ Tài chính giao, góp phần giảm lỗ sản xuất kinh doanh giai đoạn 2022 - 2023.
Về đầu tư vốn vào các công ty cổ phần trong năm 2025, dự kiến giá trị cổ tức thu về của EVN và các đơn vị gần 2.926 tỉ đồng, lợi suất cổ tức đạt gần 7,06%.
Năng suất lao động theo điện thương phẩm toàn EVN năm 2025 đạt gần 3,55 triệu kWh/lao động, tăng 6,7% so với thực hiện năm 2024.
Với tổng số lao động bình quân của công ty mẹ thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) là 3.593 người, mức lương trung bình của người lao động là 479,129 triệu đồng/năm.
Theo EVN, các tổng công ty điện lực hoàn thành tổ chức đã sắp xếp các công ty điện lực và đưa vào hoạt động đồng bộ với sắp xếp các đơn vị hành chính từ ngày 1-7-2025.
Trong đó nhiều nhiệm vụ được triển khai để đảm bảo vận hành như tuyên truyền, phổ biến thay đổi mô hình tổ chức đến khách hàng nhằm tránh các hành vi mạo danh.
Trong năm 2025 cũng là năm thứ hai liên tiếp EVN thực hiện vượt kế hoạch khối lượng đầu tư xây dựng, giải ngân đạt 125.778 tỉ đồng, tăng 14,7% so với năm 2024.
Nhiều công trình nguồn và lưới điện đưa vào vận hành, trong đó có những công trình lớn, quan trọng như Nhà máy thủy điện Hòa Bình mở rộng, đường dây 500kV Lào Cai - Vĩnh Yên, đường dây và cáp ngầm cấp điện cho Côn Đảo...
Theo Hãng tin AFP ngày 8-4, người đứng đầu Hiệp hội Vận tải hàng không quốc tế (IATA) cho biết nguồn cung và giá nhiên liệu máy bay sẽ cần nhiều tháng để trở lại bình thường, ngay cả khi eo biển Hormuz được mở trở lại.
Eo biển Hormuz - tuyến vận chuyển dầu mỏ huyết mạch của thế giới - gần như tê liệt trong hơn 4 tuần qua do cuộc chiến tại Trung Đông, khiến giá dầu thô và các sản phẩm liên quan leo thang mạnh.
Phát biểu với báo giới tại Singapore ngày 8-4, Tổng giám đốc IATA Willie Walsh thừa nhận khó có thể xác định chính xác thời điểm nguồn cung nhiên liệu phục hồi, nhưng nhấn mạnh rằng "quá trình này sẽ không diễn ra nhanh chóng".
"Sẽ cần nhiều tháng để nguồn cung đáp ứng đủ nhu cầu, xuất phát từ những gián đoạn đối với năng lực lọc dầu tại Trung Đông. Tôi không nghĩ điều đó có thể xảy ra chỉ trong vài tuần", ông nói.
Giá dầu giảm mạnh vào ngày 8-4 (giờ Việt Nam) sau khi Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận ngừng bắn hai tuần, theo đó Tehran sẽ tạm thời mở lại eo biển Hormuz.
Thỏa thuận được thông qua chưa đầy một tiếng đồng hồ trước khi tối hậu thư mà Tổng thống Mỹ Donald Trump đe dọa "san phẳng Iran" hết hiệu lực.
Phía Tehran sau đó xác nhận đã đồng ý đảm bảo an toàn hàng hải qua eo biển Hormuz, nơi 1/5 lượng dầu khí toàn cầu đi qua.
Ông Walsh phân tích: "Dù dầu thô bắt đầu lưu thông trở lại, nếu năng lực lọc dầu đã bị gián đoạn thì vấn đề vẫn sẽ kéo dài thêm một thời gian".
"Tôi không nghĩ mọi người nhận thức đầy đủ rằng năng lực này tập trung cao đến mức nào ở một số khu vực nhất định trên thế giới", ông nhắc nhở.
Ông Walsh cũng cảnh báo rằng những bài học trước đây cho thấy ngành hàng không sẽ phản ứng trước giá dầu cao bằng cách tăng giá vé, và đây là điều "không thể tránh khỏi".
Về luồng hành khách, ông cho biết dù một phần lưu lượng bay vốn đi qua Trung Đông đã được chuyển hướng sang các hãng hàng không ngoài khu vực, đây chỉ là "giải pháp tạm thời".
"Họ không có cách nào thay thế được năng lực vận chuyển mà các hãng hàng không vùng Vịnh đang cung cấp. Tôi tin rằng các trung tâm hàng không tại vùng Vịnh sẽ phục hồi, và phục hồi rất nhanh", ông Walsh khẳng định.
Theo Nghị định 243/2026 sửa Nghị định 57 và 58 về phát triển năng lượng tái tạo, Chính phủ mở rộng phạm vi áp dụng cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA). Ngoài khách hàng sử dụng điện lớn cho sản xuất, cơ chế này được áp dụng thêm với các trung tâm dữ liệu và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ sạc, đổi pin cho phương tiện giao thông điện.
Đây là lần đầu tiên hai nhóm mới này được tham gia cơ chế DPPA. Việc bổ sung diễn ra trong bối cảnh nhu cầu điện của các trung tâm dữ liệu và hạ tầng sạc xe điện được dự báo tăng nhanh cùng quá trình chuyển đổi số và điện hóa giao thông. Nghị định cũng bổ sung đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) được tham gia cơ chế DPPA. Theo đó, đơn vị bán lẻ điện tại khu công nghiệp, kinh tế, chế xuất, cụm công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao có thể mua điện trực tiếp từ đơn vị phát năng lượng tái tạo và cung cấp lại cho khách hàng sử dụng điện lớn trong khu, cụm. Họ cũng có thể đầu tư nguồn năng lượng tái tạo để bán trực tiếp cho khách hàng sử dụng điện lớn trong khu, cụm.
Cơ chế DPPA được Chính phủ ban hành từ năm 2025 nhằm cho phép khách hàng sử dụng lớn mua trực tiếp từ các nhà máy điện tái tạo thay vì chỉ mua toàn bộ qua EVN. Mục tiêu là tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn điện xanh, đáp ứng yêu cầu giảm phát thải trong chuỗi cung ứng toàn cầu và thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo theo cơ chế thị trường.
Hiện, Samsung Thái Nguyên (SEVT) và Nhà máy điện mặt trời TTC Đức Huệ 2 là đơn vị đầu tiên hoàn tất thủ tục kỹ thuật, pháp lý để chính thức vận hành theo cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA). Trong đó, SEVT đóng vai trò bên mua, còn TTC Đức Huệ 2 là bên bán điện.
Theo khảo sát cuối năm 2023 của Bộ Công Thương, khoảng 20 doanh nghiệp lớn mong muốn mua điện trực tiếp, tổng nhu cầu gần 1.000 MW. Cùng với đó, có 24 dự án năng lượng tái tạo với công suất 1.773 MW muốn bán điện qua cơ chế DPPA, 17 dự án có công suất 2.836 MW cân nhắc tham gia.