Trước kia, tôi từng nghĩ, sau này có cháu nội thì mình sẽ là người bế bồng, chăm nom để đỡ đần con cái. Đó dường như là điều rất nhiều người ở thế hệ tôi mặc nhiên xem là trách nhiệm. Nhưng đến khi con trai lập gia đình, sinh con, tôi lại là người chủ động nói với các con: “Thà bỏ khoảng 10 triệu đồng mỗi tháng thuê giúp việc, chứ mẹ không nhận trông cháu”.
Nhiều người nghe xong bảo tôi ích kỷ. Có người còn nói tôi không thương con, không thương cháu. Thực ra, chỉ người trong cuộc mới hiểu, quyết định ấy không hề xuất phát từ sự vô trách nhiệm hay thiếu tình cảm. Ngược lại, vì thương con, thương cháu nên tôi mới tính kỹ như vậy.
Tôi biết chăm một đứa trẻ vất vả đến mức nào? Thức đêm, bế ẵm, cho ăn, thay tã… tất cả đều tốn sức. Nhưng nếu chỉ có chuyện vất vả thì tôi vẫn có thể cố gắng được. Điều khiến tôi ngần ngại nhất lại là khoảng cách trong cách nuôi dạy con giữa hai thế hệ.
Thời chúng tôi nuôi con khác bây giờ rất nhiều. Ngày xưa, trẻ khóc thì bế, ăn thì cố đút cho hết bát, lớn lên chủ yếu nhờ kinh nghiệm ông bà truyền lại. Còn bây giờ, mọi thứ đều có sách, có chuyên gia, có mạng xã hội. Con dâu tôi đọc rất nhiều, có nguyên tắc rất rõ ràng trong việc chăm con. Có những điều tôi thấy bình thường thì con lại cho là không khoa học. Có những việc con yêu cầu, tôi lại cảm thấy quá cầu kỳ.
Nếu tôi là người trông cháu cả ngày, những khác biệt ấy chắc chắn sẽ xuất hiện liên tục. Tôi làm theo ý mình thì con không yên tâm. Tôi cố làm theo ý con thì nhiều lúc lại thấy áp lực. Mà trẻ con đâu phải cái máy, chỉ cần lệch một chút là người lớn lại bắt đầu góp ý, nhắc nhở.
Điều đáng nói là mình bỏ biết bao công sức nhưng chưa chắc đã được ghi nhận. Làm tốt thì ai cũng nghĩ đó là chuyện đương nhiên. Chỉ cần có một việc chưa vừa ý là dễ khiến cả hai bên khó chịu. Tôi từng chứng kiến không ít gia đình vì chuyện chăm trẻ mà mẹ chồng, nàng dâu từ quý mến chuyển sang xa cách. Ban đầu chỉ là góp ý nhỏ, sau thành trách móc. Người thì nghĩ mình có kinh nghiệm hơn, người lại cho rằng con mình thì mình có quyền quyết định.
Tôi không muốn gia đình mình rơi vào hoàn cảnh ấy. Tôi vẫn muốn làm trong trách nhiệm một người bà: sang chơi với cháu, bế cháu, kể chuyện, mua cho cháu mấy món đồ chơi, đưa cháu đi công viên… Tôi muốn những lần gặp nhau đều là niềm vui, chứ không phải bắt đầu bằng câu hỏi của con: “Hôm nay bà cho cháu ăn gì?”, “sao bà lại làm thế này?”, hay những ánh mắt không hài lòng mà cả hai bên đều cố giấu.
Có người bảo thuê giúp việc mỗi tháng mất khoảng 10 triệu đồng là tốn kém. Tôi lại nghĩ đó là khoản tiền đáng bỏ ra nếu đổi lấy sự thoải mái và hòa thuận của cả gia đình. Người giúp việc làm đúng công việc của họ, có yêu cầu thì điều chỉnh. Còn tình cảm mẹ con, mẹ chồng nàng dâu, một khi đã sứt mẻ thì rất khó hàn gắn.
Tôi vẫn sẽ hỗ trợ các con khi cần. Con bận đột xuất, người giúp việc nghỉ, cháu ốm… tôi sẵn sàng sang phụ. Nhưng tôi không muốn trở thành người chăm cháu toàn thời gian. Đó không phải là trốn tránh trách nhiệm, mà là lựa chọn một cách đồng hành phù hợp với hoàn cảnh của gia đình mình. Với tôi, giữ được sự vui vẻ với con cháu trong nhiều năm còn quý hơn việc hy sinh tất cả, để rồi sau đó chỉ còn lại những mâu thuẫn và tổn thương.
Tôi năm nay 45 tuổi, sinh ra trong một gia đình "có điều kiện". Cha mẹ tôi đã có sẵn nhà đất, nên từ nhỏ đến lớn tôi chưa bao giờ phải lo lắng về chuyện chỗ ở hay áp lực phải mua nhà như nhiều người cùng trang lứa. Có lẽ chính sự đủ đầy đó đã khiến tôi hình thành một suy nghĩ: bất động sản là thứ luôn hiện hữu trong cuộc sống của mình, không cần phải cố gắng sở hữu thêm.
Hơn 10 năm trước, công việc của tôi khá thuận lợi. Thu nhập ổn định nên mỗi năm tôi vẫn để dành được khoảng 300 triệu đồng. Đó là số tiền không hề nhỏ vào thời điểm đó. Nhiều người bạn của tôi đã bắt đầu gom góp mua đất, mua căn hộ nhỏ hoặc đầu tư vào những tài sản có giá trị lâu dài. Còn tôi thì không hề nghĩ đến chuyện mua thêm nhà, đất.
Tôi dành tiền cho những trải nghiệm mà mình cho là xứng đáng: đi du lịch, khám phá những vùng đất mới, mua sắm những món đồ yêu thích, tận hưởng cuộc sống sau những ngày làm việc vất vả. Khi đó, tôi cảm thấy hoàn toàn hài lòng với lựa chọn của mình. Tôi nghĩ rằng tuổi trẻ cần được sống, được trải nghiệm và tận hưởng thành quả lao động. Tôi biết gia đình đã có nhà cửa, đất đai, bản thân không phải người tay trắng, bắt đầu từ con số 0. Chính cảm giác "có sẵn" đó khiến tôi không thấy động lực phải tạo dựng tài sản riêng.
Nhiều năm trôi qua, giá bất động sản thay đổi rất nhiều. Những khu vực từng có giá vừa tầm với khả năng tài chính của tôi nay tăng lên gấp nhiều lần. Mỗi lần nhìn lại, tôi không khỏi tiếc nuối vì đã bỏ lỡ cơ hội xây dựng nền tảng tài chính độc lập cho bản thân. Tôi từng nghĩ nhà đất của cha mẹ rồi cuối cùng cũng sẽ thuộc về con cái. Nhưng khi trưởng thành hơn, tôi mới hiểu suy nghĩ đó khá ngây thơ.
Tài sản của cha mẹ trước hết là để phục vụ cuộc sống của chính họ. Khi tuổi cao, cha mẹ có thể cần tiền để dưỡng già, chăm sóc sức khỏe hoặc chữa bệnh. Những khoản chi này đôi khi lớn hơn rất nhiều so với những gì con cái hình dung. Nếu cha mẹ phải bán bớt nhà đất để trang trải cuộc sống hoặc chi phí y tế, đó là điều hoàn toàn hợp lý. Là con, tôi không thể coi những tài sản ấy là phần chắc chắn thuộc về mình trong tương lai.
Nhìn lại bản thân tôi thấy mình đã quá chủ quan. Trong giai đoạn có khả năng tích lũy tốt nhất, tôi chỉ nghĩ đến việc hưởng thụ hiện tại mà chưa chuẩn bị đủ cho tương lai. Những chuyến du lịch mang lại nhiều kỷ niệm đẹp, những món đồ mua sắm từng khiến tôi vui vẻ, nhưng phần lớn giá trị của chúng đều trôi qua theo thời gian. Trong khi đó, một tài sản được tạo lập từ sớm có thể trở thành nền tảng giúp tôi vững vàng hơn rất nhiều ở tuổi trung niên.
Khi sống trong sự đủ đầy từ nhỏ, chúng ta mặc nhiên xem những gì gia đình đang có là một phần bảo đảm cho tương lai của bản thân. Nhưng thực tế không phải vậy. Cha mẹ có tài sản là thành quả của họ. Còn sự an toàn tài chính của ai vẫn phải được xây dựng từ chính nỗ lực và quyết định của riêng người đó.
Với những ai đang có điều kiện tương đối thuận lợi nhờ nền tảng gia đình, tôi mong các bạn đừng lặp lại sai lầm của tôi. Đừng vì cha mẹ đã có nhà đất mà nghĩ mình không cần tạo dựng tài sản riêng. Dù ít hay nhiều, hãy cố gắng sở hữu một thứ gì đó do chính mình làm ra. Đó có thể là một mảnh đất, một căn hộ nhỏ, một khoản đầu tư dài hạn hay bất kỳ tài sản tích lũy nào phù hợp với khả năng tài chính.
Bởi đến một lúc nào đó, thứ mang lại sự yên tâm lớn nhất không phải những gì chúng ta được thừa hưởng, mà là những gì chúng ta tự tay gây dựng cho chính mình.
Tôi có cô chú ngoài 50 tuổi, mưu sinh bằng một cửa hàng tạp hóa nhỏ nằm trên vỉa hè một con phố trung tâm Hà Nội. Cửa hàng chật hẹp nên bao năm nay, phần lớn hàng hóa đều được bày tràn ra khoảng vỉa hè phía trước cửa. Khách quen chỉ cần tấp xe sát lề đường, gọi với vào là mua được đồ. Nhờ tiện lợi như thế mà cửa hàng lúc nào cũng đông khách, đủ nuôi sống cả gia đình.
Nhưng từ khi Hà Nội đồng loạt siết chặt trật tự đô thị, xử lý tình trạng lấn chiếm vỉa hè, cuộc sống của cô chú bắt đầu đảo lộn. Hàng hóa buộc phải dọn hết vào trong nhà. Từ ngoài đường nhìn vào, cửa hàng trở nên mờ nhạt và khó nhận biết hơn trước. Người đi đường ít ghé lại, khách cũng giảm dần. Tháng vừa rồi, doanh thu của cô chú giảm gần một nửa.
Mỗi lần gọi điện, cô chú đều than thở "mất ăn, mất ngủ" vì lo. Hai người không có lương hưu, cả nhà chỉ trông chờ vào quầy tạp hóa nhỏ ấy. Ở tuổi ngoài 50, việc chuyển nghề hay tìm sinh kế mới đâu còn dễ dàng. Nghe cô chú kể, tôi thực sự thương và hiểu cho nỗi vất vả của những người phải bám vào từng mét vỉa hè để kiếm sống qua ngày.
Nhưng nếu nhìn rộng hơn một chút, tôi cũng hiểu vì sao thành phố phải làm quyết liệt? Vỉa hè ở các đô thị Việt Nam vốn đã rất nhỏ. Nếu người dân tiếp tục bày hàng hóa, dựng mái che, treo bảng hiệu, đỗ xe kín lối thì người đi bộ sẽ đi ở đâu? Bao năm qua, chuyện lấn chiếm vỉa hè dường như đã trở thành thói quen. Một người lấn ra thì nhiều người khác cũng làm theo. Người này dựng mái bạt, người kia kê thêm quầy hàng. Dần dần, nhiều nơi vỉa hè biến mất hoàn toàn, thậm chí còn lấn xuống lòng đường gây cản trở giao thông mà không ít người xem đó là điều bình thường.
Điều đáng nói là tâm lý "ai cũng làm nên mình làm" khiến việc vi phạm kéo dài hàng chục năm. Nếu quản lý nửa vời, cho thuê hay thu phí sử dụng tạm thời mà thiếu kiểm soát chặt chẽ thì tình trạng lấn chiếm sẽ càng dễ biến tướng. Hôm nay cho bày ra một mét, ngày mai sẽ lấn thêm hai mét. Cuối cùng, lợi ích cá nhân lại đè lên lợi ích cộng đồng.
>> Xe hơi bị viết xước 'trả thù' vì đỗ trước quán trà đá vỉa hè
Tôi từng sang Bangkok (Thái Lan) và rất ấn tượng khi thấy vỉa hè ở đó gần như dành trọn cho người đi bộ. Hàng quán được sắp xếp vào khu vực riêng, có quy định rõ ràng. Người kinh doanh hiểu giới hạn của mình, còn người dân có không gian để đi bộ an toàn. Không cần nói đến những nước phát triển xa xôi, ngay một quốc gia Đông Nam Á gần Việt Nam cũng đã làm được điều mà chúng ta vẫn còn loay hoay.
Từ ngày nhiều tuyến phố ở Hà Nội thông thoáng hơn, tôi nhận ra lợi ích rất rõ ràng. Cháu tôi có thể đi bộ đến trường trên vỉa hè thay vì phải né xe máy dưới lòng đường. Ba mẹ tôi buổi tối có chỗ tản bộ an toàn hơn. Những điều tưởng nhỏ ấy thực ra lại là nhu cầu rất cơ bản của một đô thị văn minh.
Tôi biết sẽ có nhiều người như cô chú tôi chịu ảnh hưởng trong giai đoạn đầu. Và thành phố cũng cần tính đến giải pháp hỗ trợ sinh kế, quy hoạch khu buôn bán phù hợp để người lao động nhỏ lẻ không bị dồn vào đường cùng. Nhưng nếu chỉ vì khó khăn trước mắt mà tiếp tục chấp nhận cảnh đường phố nhếch nhác, lộn xộn, người đi bộ bị đẩy xuống lòng đường thì vòng luẩn quẩn ấy sẽ còn kéo dài mãi.
Vỉa hè sinh ra để phục vụ cộng đồng, không phải để trở thành tài sản riêng của bất kỳ ai. Một nền kinh tế không thể dựa mãi vào việc tận dụng sự lộn xộn và dễ dãi trong quản lý đô thị. Tôi thương cô chú mình, nhưng tôi cũng muốn con cháu sau này được sống trong những thành phố có trật tự, an toàn và văn minh hơn. Muốn thay đổi, chắc chắn sẽ có những xáo trộn và hy sinh nhất định. Nhưng nếu không bắt đầu quyết liệt từ hôm nay, chúng ta sẽ còn để sự nhếch nhác ấy kéo dài đến bao giờ?
Tôi hy vọng Hà Nội rồi đến TP HCM sẽ đủ kiên trì để làm được điều mà người dân đã mong đợi suốt nhiều năm qua: trả lại vỉa hè đúng nghĩa cho người đi bộ.
Năm 2014, bố mẹ tôi mua nguyên nhà trọ giá 1,35 tỷ đồng, sửa thêm thành 1,45 tỷ đồng. Cho thuê cả 5 phòng được 6 triệu, tầm 1,2 triệu đồng một phòng. Đến bây giờ 2026, nhà tôi tầm hơn 5 tỷ vẫn cho thuê giá cũ, nếu tăng giá vài trăm triệu đồng một phòng mỗi tháng cũng chả thấm vào đâu.
Tôi đang cho thuê nhà trọ, có nhiều vấn đề giữa nhà trọ và nhà ở bình thường khác xa nhau mà nhiều người chưa hiểu được. Thứ nhất là khấu hao nhà trọ sẽ luôn có hệ số cao hơn nhà ở bình thường.
Tại sao? Tâm lý "mất tiền mua mâm phải đâm cho thủng" hay "cha chung không ai khóc". Một gia đình nếu chỉ riêng việc đổ dầu mỡ xuống cống thì chắc phải chục năm mới tắc cống, riêng nhà trọ chỉ cần 6-7 phòng thì một năm thông tắc cống một lần. Riêng đợt hút bồn cầu thì ôi thôi, quần áo rồi tóc, trứng... Thậm chí có cả tiền được hút lên.
Còn nước, mỗi phòng có một cái thùng, họ vặn ren vòi để nhỏ giọt. Nhỏ giọt thì đồng hồ phòng trọ không quay, chục phòng trọ nhỏ giọt thì đồng hồ tổng chủ nhà vẫn quay đều.
Điện thì xưa chưa có camera nên manh động lắm, sáng đến thuê thì chiều đã phá kẹp chì. Chuyện tự khoan tường, tự đóng đinh, thậm chí khoan cả vào ống nước là bình thường.
Thứ hai là chi phí không tên hoặc nói theo kinh tế là trích lập dự phòng rủi ro. Ai làm nhà trọ đều dính cả, ở đến tháng xong bỏ đi để lại hóa đơn điện nước còn nhiều hơn tiền cọc, lúc ấy chả biết đòi ai.
Chưa kể những chi phí không tên để vận hành mà tôi không muốn nói ra, hỏng hóc ban ngày thuê thợ sửa vài trăm nhưng lúc tối, lúc đêm thợ bảo tiền triệu cũng phải sửa.
Thứ ba là nhà trọ sẽ phức tạp hơn nhà bình thường rất nhiều, drama suốt ngày, đánh ghen, hát loa kẹo kéo... Thậm chí mất đoàn kết chỉ vì một vài lý do rất trẻ con, bắt chủ nhà sang phân xử như quan tòa ai đúng ai sai, chứ nhất định không chịu dĩ hòa vi quý.