Tối 9-4, công ty quản lý của ca sĩ Jun Phạm thông báo gỡ bỏ MV Truth or dare? trên nền tảng trực tuyến kể từ 21h ngày 9-4.
Thông báo nêu: “Quyết định này xuất phát từ mong muốn của Jun Phạm cùng ê kíp mang đến một sản phẩm âm nhạc không chỉ đảm bảo tính sáng tạo mà còn phải nhận được sự đồng thuận và cảm xúc trọn vẹn từ công chúng.
Chúng tôi sẽ phối hợp, chủ động liên hệ làm việc với Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM cùng các cơ quan liên quan ngay trong những ngày làm việc tiếp theo.
Việc chủ động ngừng phát hành MV cũng là cách chúng tôi thể hiện sự tôn trọng đối với quá trình thẩm định đang diễn ra của cơ quan quản lý”.
“Chúng tôi trân trọng mọi luồng ý kiến và xem đây là cơ hội quý báu để tối ưu hóa sự kết nối giữa tư duy sáng tạo của nghệ sĩ và cảm xúc của khán giả trong những dự án kế tiếp”, đại diện công ty quản lý của Jun Phạm cho biết thêm.
Liên quan đến thông điệp của dự án, công ty quản lý Jun Phạm chia sẻ quan điểm: “Về ngôn ngữ nghệ thuật và thông điệp sản phẩm, MV là một thế giới được kể bằng ngôn ngữ điện ảnh, mọi bối cảnh chỉ là lớp vỏ cho những câu chuyện cảm xúc phía sau. Mỗi khung hình mang một dụng ý riêng, hướng đến cảm xúc và trải nghiệm thị giác.
Chúng tôi tin rằng nghệ thuật luôn có nhiều cách tiếp cận và diễn giải, nhưng trong mọi trường hợp, ê kíp không hướng đến việc cổ xúy hay đi ngược lại các giá trị tích cực của cộng đồng”.
Trước đó, chiều 9-4, tại buổi họp báo định kỳ ở Trung tâm Báo chí TP.HCM, Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM phản hồi rằng sở đang trong quá trình thẩm định, đánh giá, lấy ý kiến chuyên môn của hội đồng nghệ thuật, các cơ quan chức năng và các chuyên gia về MV Truth or dare? gây tranh cãi của Jun Phạm. Sở cho biết thêm sẽ sớm có kết luận chính thức và thông tin đến báo chí.
Theo Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM, tại Việt Nam, các MV phát hành trên không gian mạng hiện nay chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật khác nhau, từ quy định về nghệ thuật biểu diễn đến an ninh mạng và sở hữu trí tuệ.
Đối với quy định về hoạt động nghệ thuật biểu diễn, Nghị định 144 của Chính phủ quy định cụ thể ở Điều 3, Điều 7 và Điều 21. Việc phân loại độ tuổi cho sản phẩm âm nhạc phát hành trên các nền tảng số hiện nay chưa có quy định dán nhãn phân loại độ tuổi.
Nguồn: https://tuoitre.vn/jun-pham-bat-ngo-go-mv-truth-or-dare-trong-dem-20260409222708599.htm

Sau thời gian ấp ủ, đạo diễn Luk Vân chính thức thành lập công ty giải trí, đánh dấu sự hợp tác với doanh nghiệp Hàn Quốc trong việc xây dựng môi trường đào tạo, phát triển và kết nối cơ hội nghề nghiệp dành cho thế hệ nghệ sĩ trẻ.
Một trong những trọng tâm của công ty là công bố hệ thống đào tạo nghệ thuật bài bản dành cho các tài năng trẻ, tập trung vào 3 lĩnh vực gồm thanh nhạc, diễn xuất và vũ đạo. Đại diện công ty cho biết mục tiêu của chương trình không chỉ dừng lại ở việc đào tạo kỹ năng mà còn hướng tới xây dựng lộ trình phát triển dài hạn cho nghệ sĩ, từ biểu diễn, xây dựng thương hiệu cá nhân đến kết nối cơ hội hoạt động trong nước và quốc tế.
Tại sự kiện, Luk Vân chính thức giới thiệu 2 dự án điện ảnh. Trong đó, Người nổi tiếng thuộc thể loại giật gân, xoay quanh hành trình tìm kiếm sự thật phía sau cái chết đầy uẩn khúc của một nữ nghệ sĩ trẻ. Phim dự kiến triển khai vào cuối năm 2026, đầu năm 2027.
Bên cạnh đó, công ty cũng tham gia phát triển phiên bản Việt Nam của Cho thuê cha - dự án điện ảnh từng ghi nhận thành công tại thị trường quốc tế. Nữ đạo diễn cho biết cô mong muốn các dự án điện ảnh của đơn vị không chỉ hướng đến khán giả trong nước mà còn có cơ hội tham gia các liên hoan phim và thị trường quốc tế.
Trước đó, Luk Vân là đạo diễn của nhiều phim điện ảnh song không có doanh thu khả quan tại phòng vé, điển hình như Nhân duyên: Người yêu tiền kiếp (hơn 2 tỉ đồng) hay Bus: Chuyến xe một chiều (1,7 tỉ đồng)... Theo Luk Vân, thành công của một bộ phim nên được đánh giá trên nhiều phương diện hơn là doanh thu. “Phim điện ảnh có nhiều cơ hội phát triển theo nhiều cách. Mỗi dự án có vòng đời rất dài với các nền tảng phát hành, bản quyền, liên hoan phim và nhiều cơ hội tiếp cận khán giả khác”, cô chia sẻ.
Nói về áp lực doanh thu, nữ đạo diễn cho rằng kết quả phòng vé luôn chịu tác động từ nhiều yếu tố của thị trường. Điều quan trọng nhất với nhà làm phim là tập trung hoàn thiện chất lượng sản phẩm. “Thắng hay thua đôi khi còn phụ thuộc thiên thời, địa lợi. Điều mình có thể làm là cố gắng hết sức cho tác phẩm. Nếu thất bại thì đứng lên và tiếp tục làm nghề”, Luk Vân nói.
Chia sẻ thêm về hành trình làm nghề, Luk Vân nhìn nhận bản thân hiện nay có nhiều trải nghiệm hơn so với giai đoạn bắt đầu thực hiện các dự án điện ảnh. Nữ đạo diễn cho rằng sự trưởng thành về trải nghiệm sống, tư duy sáng tạo và kỹ năng phát triển kịch bản là những yếu tố quan trọng giúp một nhà làm phim có thể tạo nên những tác phẩm hoàn thiện hơn trong tương lai.
Tin Gốc: Thanh Niên

Cầu thủ Vũ Văn Thanh và bạn gái Bích Hạnh chuẩn bị trang phục cưới cho hôn lễ sẽ diễn ra vào ngày 16/5 tại nhà trai ở Hải Phòng. Cả hai chọn áo dài của nhà mốt Hà Cúc cho nghi thức làm lễ gia tiên, rước dâu. Bộ trang phục mang tên Long Phụng Hòa Minh với sắc đỏ truyền thống, chất liệu lụa cao cấp.
Cầu thủ Vũ Văn Thanh và bạn gái Bích Hạnh chuẩn bị trang phục cưới cho hôn lễ sẽ diễn ra vào ngày 16/5 tại nhà trai ở Hải Phòng. Cả hai chọn áo dài của nhà mốt Hà Cúc cho nghi thức làm lễ gia tiên, rước dâu. Bộ trang phục mang tên Long Phụng Hòa Minh với sắc đỏ truyền thống, chất liệu lụa cao cấp.
Phần họa tiết long phụng trên áo dài của cô dâu, chú rể tạo sự đối xứng, mang ý nghĩa về sự viên mãn.
Phần họa tiết long phụng trên áo dài của cô dâu, chú rể tạo sự đối xứng, mang ý nghĩa về sự viên mãn.
Họ sẽ diện thêm bộ áo dài mang tên Linh Lan Diệp Vũ với vẻ mềm mại toát lên từ họa tiết khóm linh lan.
Họ sẽ diện thêm bộ áo dài mang tên Linh Lan Diệp Vũ với vẻ mềm mại toát lên từ họa tiết khóm linh lan.
Nhà mốt sử dụng kỹ thuật thêu nổi trên chất liệu lụa trắng. Đi cùng với trang phục của Bích Hạnh là khăn voan đội đầu, độ dài vừa phải.
Nhà mốt sử dụng kỹ thuật thêu nổi trên chất liệu lụa trắng. Đi cùng với trang phục của Bích Hạnh là khăn voan đội đầu, độ dài vừa phải.
Bích Hạnh nói hồi hộp khi chờ diện trang phục để ra mắt hai họ trong ngày cưới.
Bích Hạnh nói hồi hộp khi chờ diện trang phục để ra mắt hai họ trong ngày cưới.
Hôm 12/5, họ tổ chức tiệc ở Ninh Bình - quê của Bích Hạnh. Cô dâu mặc đầm cưới đính hoa ren, kết hợp khăn voan rộng quét sàn. Người đẹp chọn búi tóc tròn cổ điển, gắn thêm phụ kiện bắt sáng để tạo điểm nhấn.
Hôm 12/5, họ tổ chức tiệc ở Ninh Bình - quê của Bích Hạnh. Cô dâu mặc đầm cưới đính hoa ren, kết hợp khăn voan rộng quét sàn. Người đẹp chọn búi tóc tròn cổ điển, gắn thêm phụ kiện bắt sáng để tạo điểm nhấn.
Bích Hạnh trang điểm phong cách "kẹo ngọt", nhấn vào má, môi.
Bích Hạnh trang điểm phong cách "kẹo ngọt", nhấn vào má, môi.
Họ sẽ tổ chức thêm tiệc cưới ở Hà Nội vào tháng 6.
Họ sẽ tổ chức thêm tiệc cưới ở Hà Nội vào tháng 6.
Hôm 14/4, vào dịp sinh nhật tuổi 30, Văn Thanh hé lộ khoảnh khắc cầu hôn Bích Hạnh hồi đầu năm. Lễ dạm ngõ của cả hai diễn ra hồi tháng 2. Họ hẹn hò kín tiếng từ năm 2023, đến năm 2025 mới công khai.
Cô dâu tên đầy đủ Trần Bích Hạnh, 32 tuổi, đang kinh doanh trong lĩnh vực thẩm mỹ và nhà hàng. Vũ Văn Thanh sinh năm 1996, quê Hải Dương (nay là Hải Phòng), trưởng thành từ học viện HAGL - Arsenal - JMG. Anh đạt nhiều thành tích cùng U19, U23 Việt Nam và cùng đội tuyển vô địch AFF Cup 2018, tứ kết ASIAN Cup 2019. Anh khoác áo HAGL từ năm 2015 đến 2023 rồi chuyển ra thủ đô, chơi cho CLB Công an Hà Nội và giành vô địch V-League 2023.
Tin Gốc: Vnexpress

Thomas Mann, trong Essays of Three Decades, viết: "Nhà văn là người thấy công việc viết lách khó hơn những người khác". Có lẽ vì vậy, những tiểu thuyết lớn thường không cho người đọc cảm giác tác giả đang cố viết hay. Người đọc không chú ý tới kỹ thuật hay tham vọng văn chương của tác giả, họ chỉ cảm thấy mình đang chạm vào một kinh nghiệm sống thật sự. Nhưng cũng có những cuốn sách để lại cảm giác ngược lại: Chúng ý thức quá nhiều về văn chương, quá nóng lòng nâng trải nghiệm thành ý nghĩa, quá vội vàng biến đau khổ thành cái đẹp. Thuyền của Nguyễn Đức Tùng, với tôi, thuộc trường hợp thứ hai.
Thuyền kể về một người đàn ông Việt lưu vong luôn bị ám ảnh bởi ký ức chiến tranh, hành trình vượt biên và đời sống tha hương sau 1975. Tiểu thuyết được dựng lại qua 55 "chương" hay "đoản khúc"- những mảnh hồi tưởng đứt đoạn về tuổi thơ, gia đình, tình yêu, cái chết và chuyến vượt biển đầy sợ hãi trên một con thuyền chở những con người tuyệt vọng đi tìm tự do, rồi cuối cùng là cảm giác "mất cội rễ" và liên tục sống trong sự giằng co giữa hiện tại và ký ức về Việt Nam.
Nguyễn Đức Tùng có một tham vọng tạo dựng một cuốn tiểu thuyết viết theo "văn học dòng ý thức". Cuốn tiểu thuyết nhiều lần tự ý thức về sự đổ vỡ của tự sự truyền thống. Nhân vật chính trong tiểu thuyết nói: "thời đại chúng ta thiếu mất cấu trúc của một câu chuyện kể". Tuy vậy, người ta thường hiểu sai về văn học dòng ý thức như một thứ tự do của văn chương. Cứ câu dài hơn, liên tưởng nhiều hơn, thời gian đảo lộn hơn thì tưởng rằng đã bước vào địa hạt của James Joyce hay Virginia Woolf. Nhưng văn học dòng ý thức thật ra không phải sự hỗn loạn. Nó có một trật tự khác, kín đáo hơn và khó phát hiện hơn, nơi cấu trúc không còn nằm ở chuỗi sự kiện mà nằm ở kỷ luật của ký ức. Một tác phẩm dòng ý thức lớn luôn có một lực hút xoáy bên trong. Những hình ảnh, hồi tưởng, liên tưởng tượng như tản mạn cuối cùng đều quay trở lại cùng một vùng tối. Người đọc có thể lạc trong thời gian, nhưng không lạc trong cảm xúc văn học.
Điều thú vị là dù mang tham vọng của "văn học dòng ý thức", Thuyền vẫn được tổ chức theo một hải trình rất quen của văn học vượt biển: Rời thành phố, bến mua, vượt biên, hải phận quốc tế, cướp biển, trại tị nạn, định cư, trở về. Một tiểu thuyết dòng ý thức dĩ nhiên vẫn có thể có cốt truyện rõ ràng và tuyến tính ở bề mặt. Nhưng khi phần khung sự kiện còn giữ trật tự ấy, phần nội tâm càng cần tạo ra một thời gian khác: Thời gian của ám ảnh, của ký ức luôn quay lại đúng một điểm đau không thoát ra nổi.
Trong Thuyền, cảm giác ấy khá mờ nhạt. Nguyễn Đức Tùng có cố tạo những kết nối giữa hiện tại và hồi ức: Cú ngã khi nghe điện thoại gợi lại cú ngã cũ trên tàu; cơn đau ở xương sườn kéo về những chiếc xương gãy năm nào. Nhưng những kết nối ấy nhiều khi dừng ở mức kỹ thuật hơn là trở thành áp lực nội tâm thật sự. Người đọc nhìn thấy quá khứ được gọi về, nhưng chưa thật sự cảm thấy nó đang xâm chiếm và làm lệch hiện tại của nhân vật.
Có lẽ vì văn học thuyền nhân đặc biệt cần một thứ thời gian nội tâm mạnh hơn thời gian sự kiện. Vượt biển không chỉ là một chuyến đi. Nó là một trải nghiệm kinh hoàng mà người ta vừa không thể quên vừa không muốn nhớ. Những người sống sót không mang ký ức như mang một câu chuyện đã kết thúc. Họ mang nó như một phần thân thể chưa lành.
Nhà tâm lý học Carl Rogers có câu nói nổi tiếng: "Cái gì càng cá nhân thì càng phổ quát" (what is most personal is most universal). Sau này, Martin Scorsese tiếp nối ý ấy bằng một biến thể khác: "Điều cá nhân nhất cũng là điều sáng tạo nhất" (what is the most personal is the most creative). Đó cũng là một nguyên lý đặc biệt của văn chương: Càng đi sâu vào cái riêng, tác phẩm càng có khả năng chạm tới nhiều người. Nhiều tiểu thuyết lớn hiếm khi bắt đầu từ những ý niệm lớn. Chúng thường bắt đầu bằng một chi tiết rất nhỏ nhưng không thể quên: Một người đàn bà lấy nước tiểu để dỗ con đỡ khát trên thuyền vượt biên, tiếng trực thăng bay ngang khiến một người đàn ông lưu vong nằm úp xuống sàn nhà giữa đêm. Hay cảm giác một thân thể không còn chịu nổi mùi nước biển nhiều năm sau khi đã đặt chân lên đất liền. Người đọc không xúc động vì nhà văn nói "đây là đau khổ". Họ xúc động khi nhìn thấy một con người cụ thể đang chịu đựng nỗi đau ấy. "Personal" vì thế không phải sự bộc bạch về cái tôi. Nó là độ sâu của kinh nghiệm. Một kinh nghiệm càng cụ thể, càng không thể thay thế, càng có khả năng chạm đến cái chung của nhân loại.
Văn học thuyền nhân đặc biệt cần điều đó. Đây là một bi kịch tập thể rất lớn, nhưng văn chương không thể chạm tới lịch sử chỉ bằng những khái niệm như "đau thương", "bạo lực", "mất mát". Nó phải đi qua một thân thể cụ thể, một nỗi đau cụ thể, một ký ức cụ thể. Hầu như tác phẩm nào viết về thuyền nhân cũng có một người đàn bà mất con trên biển. Một đứa trẻ sốt mê man dưới khoang tàu. Một người phụ nữ bị hãm hiếp. Nhiều người đàn ông bị giết. Một đứa trẻ nhiều năm sau vẫn không ngủ được vì tiếng sóng. Nhưng nếu như những bi kịch đã trở thành tập thể ấy không có cái cá nhân, lịch sử rất dễ biến thành phông nền cho suy tưởng.
Đọc Ru của Kim Thúy, The Boat của Nam Lê hay Biển San Hô, Puerto Princesa City của Trần Vũ, người ta thấy ký ức không đứng ngoài để được chiêm ngưỡng. Nó nhập vào thân thể. Nó thành cơn khát, thành đói, thành mặc cảm sống sót, thành những thương tích kéo dài sang cả đời sống lưu vong. Trong Ru, ký ức thuyền nhân được giữ lại qua những chi tiết rất nhỏ: Trẻ nhỏ, mùi dầu, bánh khô, không gian thuyền chật hẹp và một bé gái bị biển nuốt mất. Trong The Boat của Nam Lê người đọc nhớ một đứa trẻ chết đúng lúc nhìn thấy đất liền. Nhớ cơn khát. Nhớ cơn sốt. Nhớ những thân thể bị ép đến giới hạn cuối cùng của sống sót. Ở Pháo thuyền trên dòng Yang-Tse của Trần Vũ, người đọc nhớ khuôn mặt bị chém nát của Toàn, nhớ những vết sẹo, mắt hỏng, mũi biến dạng, một rãnh sẹo kéo qua môi xuống cằm. Chính độ cụ thể ấy làm truyện mở ra một cảm giác rất rộng về bi kịch, mất mát và lịch sử. Những chi tiết ấy không cố trở thành biểu tượng. Chính độ cụ thể và vật chất của chúng mở ra chiều kích phổ quát của bi kịch.
Vì thế, Thuyền tạo ra một nghịch lý khá buồn. Nó viết rất nhiều về cái tôi, nhưng chưa thật sự đủ "personal". Bởi vì ở những cảnh đáng lẽ phải cho người đọc cảm thấy sức nặng của đói khát, cướp biển, chết chóc, mất người yêu hay mất quê hương, cái tôi ấy luôn tự ý thức về chiều sâu của mình để diễn giải cảm xúc của mình bằng những liên tưởng đẹp và những suy tư lớn. Nhưng càng cố vươn tới cái chung của nhân loại, tiểu thuyết lại càng rời xa cái riêng không thể thay thế của kinh nghiệm thuyền nhân. Và khi cái riêng chưa đủ sâu, cái phổ quát thường chỉ còn là một tiếng vọng của ngôn từ. Như khi đang chạy trốn trong hoảng loạn, nhân vật nghĩ: "tình yêu của tôi là tình yêu đối với các chi tiết của sáng tạo và sự trở lại và gìn giữ cuộc đời, một cuộc đời thường xuyên làm bạn tan vỡ. Tôi lắng nghe đất thở... Có một dàn nhạc chơi đâu đó trong trời đất".
Vấn đề không nằm ở chỗ những câu ấy không "văn". Vấn đề nằm ở mối quan hệ giữa cái "văn" và nỗi đau. Trước bi kịch, Thuyền nhiều lần nghiêng về một mỹ cảm buồn đẹp, nơi ký ức vượt biển được làm dịu bằng những hình ảnh như người chết "lướt xuống biển như một con chim én", nước biển trở thành "những giọt lệ của mẹ tôi, tích tụ qua hàng nghìn năm", cho nhân vật nhìn người đánh cá cứu thuyền nhân rồi liên tưởng tới Ông già và biển cả, làm cho kinh nghiệm vượt biển dần rời khỏi cá nhân bi thảm của nó. Tình huống sinh tồn cụ thể liên tục bị kéo sang bình diện khái quát. Chính sự chuyển động quá nhanh từ kinh nghiệm cảm giác sang diễn giải tư tưởng làm cho hiện tại mất đi sức nặng nỗi đau của nó. Người đọc hiểu nhân vật đang nghĩ gì nhiều hơn cảm thấy nhân vật đang sợ hãi ra sao.
Có một khác biệt rất lớn giữa văn chương của ký ức và văn chương của tâm trạng. Ký ức chấn thương thường có tính độc đoán. Nó bắt con người quay đi quay lại cùng một vết thương cho đến khi mọi thứ khác mờ đi. Trong những tác phẩm dòng ý thức lớn, các chi tiết nhỏ luôn bị hút về cùng một vùng tối. Một tiếng nước. Một mùi tóc. Một bài hát. Một ánh đèn. Tất cả cuối cùng đều trở thành dấu vết của cùng một ám ảnh. Ý thức chấn thương hiếm khi hùng biện. Nó đứt đoạn. Nó quay vòng. Nó bị ám mãi bởi một chi tiết rất nhỏ không sao thoát ra được. Ở Trần Vũ, người đọc nhớ những khuôn mặt sẹo, những cơn mê sảng, những thân thể bị lịch sử làm biến dạng. Ở Nam Lê, người đọc nhớ cơn khát và cái chết sát đất liền.
So với kiểu dòng ý thức ấy, Thuyền có rất nhiều liên tưởng, nhưng các liên tưởng ấy chưa được tổ chức bởi một vết thương trung tâm đủ mạnh để tạo áp lực lên toàn bộ ý thức nhân vật. Vì vậy, dòng ý thức ở đây nhiều lúc không còn hiện ra như nhu cầu giải tỏa chấn thương, mà trở thành một hình thức tự trình diễn của ý thức. Ý thức trong Thuyền hiếm khi bị đời sống đánh bật khỏi khả năng diễn giải. Nó luôn còn đủ khoảng cách để ngắm nhìn chính mình, để tự bình luận về chiều sâu của mình. Những liên tưởng về âm nhạc, tôn giáo, Hemingway, Dostoevsky, mái trường Vạn Hạnh, tiếng hát Thái Thanh, nhạc Ngô Thụy Miên, thơ Phạm Đình Chương, hay những suy tưởng về tự do, tình yêu, cái chết liên tục xuất hiện như những lớp trữ tình phủ lên ký ức vượt biển. Văn bản nhiều lần tạo cảm giác như đang muốn khẳng định chiều sâu tinh thần của cái tôi tự sự hơn là để kinh nghiệm tự phát lộ. Và khi điều đó xảy ra, dòng ý thức không còn hiện ra như hậu quả của chấn thương nữa. Nó trở thành phong cách.
Nhân vật Liên Hương là ví dụ rõ nhất cho giới hạn ấy. Nàng được đặt ở trung tâm ký ức của cuốn sách, nhưng càng về sau càng hiện ra như một hình bóng trữ tình hơn là một vết thương có khả năng tổ chức toàn bộ đời sống nội tâm nhân vật. Những câu hỏi lặp đi lặp lại như "anh sẽ nhớ em chứ", "anh có đến dự tang lễ của em không", "anh có giận em không" tạo dư vị buồn đẹp nhiều hơn cảm giác bị ám ảnh. Người đọc nhìn thấy nỗ lực giữ lại sự dịu dàng của một mối tình đã mất, nhưng cũng chính sự dịu dàng ấy làm cho ký ức mất đi phần dữ dội và độc đoán vốn có của chấn thương. Các người phụ nữ xuất hiện sau này - như Kyra "thật đẹp, thật dữ dội, thật hoang dại", hay Jen "cứ như vừa bước ra từ một cuốn tiểu thuyết của Virginia Woolf hay từ vườn Lục Xâm trong bài thơ của Cung Trầm Tưởng". Không hề có kết nối với vết thương từ cái chết của nàng, cho dù tác giả đã cố kết nối như trong giấc mơ của Kyra "thấy những người đàn bà bị rượt đuổi. Họ bị bắt. Bị tra tấn. Bị hãm hiếp". Bởi vậy, họ lần lượt đi qua đời nhân vật như những kinh nghiệm tình cảm riêng biệt (mà thực ra như Kyra nói "anh chỉ yêu thân xác của em thôi"), chứ không tạo cảm giác mọi mối quan hệ đều đang bị hút trở lại cùng một mất mát trung tâm trong quá khứ. Vì thế, Liên Hương cuối cùng hiện ra như một biểu tượng của nỗi buồn đẹp, hơn là một vết thương không thể thoát ra.
Một ví dụ đối lập có thể thấy trong Pháo thuyền trên dòng Yang-Tsé của Trần Vũ. Ở đó, dòng ý thức không vận hành như một chuỗi suy tưởng làm đẹp cái tôi, mà như sự trở lại cưỡng bức của chấn thương. Màn vải đen, tiếng đại vĩ cầm, khuôn mặt sẹo của Toàn, tia chớp, bộ phim Pháo thuyền, hình ảnh bào thai, máu, lưỡi lam, phòng tắm - tất cả không phải những hình ảnh được xâu lại vì chúng "đẹp". Chúng bị kéo vào cùng một trường ám ảnh: Hải tặc, thân thể bị hủy hoại, cưỡng bức. Đặc biệt, câu cuối "Chúng tôi còn ở Vũng Tàu hôm qua kia mà!" làm sập toàn bộ trật tự thời gian: Quá khứ trước vượt biên, biến cố trên biển và bạo lực trong hiện tại cùng hiện về như một khoảnh khắc duy nhất. Đó là dòng ý thức có kỷ luật: Rối ở bề mặt, nhưng bị tổ chức bởi một vết thương trung tâm.
Tuy vậy, nếu chỉ đọc Thuyền bằng mỹ học của chấn thương thân thể thì có lẽ cũng chưa hoàn toàn công bằng. Nguyễn Đức Tùng dường như không muốn giữ ký ức vượt biển ở trạng thái sắc lạnh như Trần Vũ. Ông muốn làm dịu nó bằng suy tưởng, bằng âm nhạc, bằng văn hóa, bằng những liên tưởng mang màu sắc cứu rỗi tinh thần. Và có lẽ, đó chính là giá trị riêng của Thuyền: Nỗ lực giữ ký ức vượt biển như một vấn đề tinh thần của người Việt sau 1975, không phải bằng tiếng kêu dữ dội mà bằng một giọng kể chậm, nhiều thương cảm. Nhưng nếu bỏ đi toàn bộ lớp mỹ cảm ấy, phần kinh nghiệm còn lại của cuốn sách lại khá mỏng, gần với một hải trình quen thuộc của văn học thuyền nhân. Vì thế, sự dịu dàng trong Thuyền nhiều khi không chỉ là lựa chọn thẩm mỹ. Có lúc nó trở thành thứ "dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi", một lớp ánh sáng mềm phủ lên những phần đáng lẽ phải sắc, phải đau và thô ráp hơn của ký ức.
Tin Gốc: Vnexpress

