Ngày 10.4, bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, Hội Y học dưới nước và oxy cao áp Việt Nam, cho biết cơ thể con người luôn duy trì nhiệt độ lõi ổn định khoảng 36,5 – 37,5 độ C. Khi thời tiết quá nóng, đặc biệt trong các đợt nắng nóng kéo dài, hệ điều hòa thân nhiệt phải hoạt động liên tục để tỏa bớt nhiệt. Không chỉ gây mệt mỏi, khó chịu, nắng nóng còn âm thầm ảnh hưởng đến trí nhớ, khả năng tập trung của học sinh trong giai đoạn ôn thi.
Theo bác sĩ Hoàng, các bệnh lý do nóng tồn tại trên một “phổ” từ nhẹ đến rất nặng. Việc nhận biết sớm từng mức độ sẽ giúp phụ huynh, giáo viên và học sinh chủ động xử trí, tránh biến chứng nguy hiểm. 3 tình trạng thường gặp gồm:
Thường xảy ra khi vận động trong môi trường nóng, ra nhiều mồ hôi nhưng chỉ bù nước mà không bổ sung điện giải. Khi đó, natri trong máu giảm tương đối, gây co cứng các nhóm cơ lớn như bắp chân, đùi, cánh tay hoặc bụng. Đây được xem là dấu hiệu cảnh báo sớm của tình trạng mất điện giải.
Đây là giai đoạn cơ thể đã mất nhiều nước và điện giải, nhưng cơ chế điều hòa thân nhiệt vẫn còn hoạt động. Người bệnh thường ra mồ hôi nhiều, da lạnh ẩm, nhợt nhạt; mạch nhanh nhưng yếu; kèm theo chóng mặt, buồn nôn, đau đầu và cảm giác mệt lả. Nhiệt độ cơ thể dao động từ 38 độ C đến dưới 40 độ C. Nếu không được nghỉ ngơi và bù dịch kịp thời, tình trạng này có thể tiến triển thành sốc nhiệt.
Đây là tình trạng cấp cứu tối khẩn cấp. Khi đó, trung tâm điều nhiệt bị rối loạn, cơ thể không còn khả năng tiết mồ hôi, thân nhiệt tăng trên 40 độ C. Người bệnh có da nóng, khô, đỏ; rối loạn ý thức như lú lẫn, nói sảng, mất định hướng, thậm chí co giật hoặc hôn mê. Nếu không được hạ nhiệt nhanh, nguy cơ tổn thương não, suy gan, suy thận và tử vong rất cao.
“Tóm lại, người bị kiệt sức do nhiệt thường vẫn còn đổ mồ hôi, mệt nhưng còn tỉnh táo. Ngược lại, sốc nhiệt thường có da khô, nóng, không còn mồ hôi, kèm rối loạn ý thức – đây là dấu hiệu báo động đỏ”, bác sĩ Hoàng nhấn mạnh.
Khi phát hiện các biểu hiện bất thường như đau đầu, chóng mặt, uể oải, chuột rút, buồn nôn hoặc da nóng, cần nhanh chóng:
Nếu người bệnh còn tỉnh, có thể cho uống từng ngụm nhỏ nước mát hoặc dung dịch điện giải. Không nên uống quá nhiều cùng lúc để tránh nôn.
Trường hợp người bệnh lơ mơ, nôn liên tục hoặc có dấu hiệu rối loạn ý thức, cần gọi cấp cứu ngay và không cố cho uống nước vì dễ gây sặc.
Bác sĩ Hoàng lưu ý, sốc nhiệt không phải là sốt do nhiễm trùng nên các thuốc hạ sốt như paracetamol không có tác dụng. Ngược lại, sử dụng thuốc trong bối cảnh gan, thận bị ảnh hưởng do nhiệt có thể làm tăng nguy cơ độc tính. Nguyên tắc xử trí là hạ nhiệt nhanh bằng phương pháp vật lý, bù dịch và chuyển đến cơ sở y tế có khả năng hồi sức.
Đối với học sinh đang ôn thi, chỉ một đợt kiệt sức do nhiệt cũng có thể làm giảm sức bền, trí nhớ và khả năng tập trung trong nhiều ngày. Vì vậy, phòng ngừa luôn là giải pháp hiệu quả và ít tốn kém hơn điều trị.
Lão hóa không còn là vấn đề của tuổi già từ 60 mà đang xuất hiện sớm ở "tuổi trẻ", đặc biệt từ 30 - 40 tuổi. Các dấu hiệu như da lão hóa, mệt mỏi, rối loạn chuyển hóa khiến nhiều người tự ti về ngoại hình và sức khỏe. Áp lực công việc, lối sống thiếu lành mạnh và tình trạng viêm mạn tính là những yếu tố thúc đẩy quá trình này. Không chỉ ảnh hưởng diện mạo, lão hóa sớm còn tác động đến tâm lý và chất lượng sống.
Vì vậy, cần nhận diện sớm và kết hợp thay đổi lối sống với các giải pháp y học để làm chậm lão hóa.
Theo bác sĩ Phan Thanh Hào, lão hóa là quá trình suy giảm cấu trúc và chức năng của cơ thể. Sự suy giảm này biểu hiện từ bên ngoài như da, tóc, hệ cơ xương khớp đến các cơ quan bên trong với nhiều bệnh lý chuyển hóa như tiểu đường, rối loạn mỡ máu, tim mạch, rối loạn miễn dịch, thậm chí ung thư.
Nguyên nhân gây lão hóa rất đa dạng, từ tổn thương DNA, rối loạn ti thể đến yếu tố di truyền. Tuy nhiên, hai nguyên nhân quan trọng được nhấn mạnh là viêm mạn tính và sự suy giảm số lượng tế bào trong cơ thể.
Đây cũng là lý do nhóm nghiên cứu của Bệnh viện Quốc tế DNA và Đại học Quốc gia TP.HCM tập trung vào lão hóa do viêm và vai trò của tế bào gốc trong việc cải thiện tình trạng này.
Theo ông, thực tế, rất khó để có một liệu pháp giải quyết toàn bộ các nguyên nhân gây lão hóa. Vì vậy, từ năm 2000, khái niệm "lão hóa viêm" đã được đưa ra nhằm giúp các nhà khoa học định hướng nghiên cứu rõ ràng hơn.
"Trước đây, lão hóa thường được xem là vấn đề của người trên 60 tuổi. Tuy nhiên, hiện nay các bệnh lý do viêm mạn tính đang ngày càng trẻ hóa. Ở độ tuổi 40, nhiều người đã mắc tiểu đường tuýp 2, béo phì, rối loạn lipid máu… Điều này cho thấy lão hóa viêm đang xảy ra sớm hơn", bác sĩ Phan Thanh Hào dẫn giải.
Theo ông, các nghiên cứu cho thấy từ khi sinh ra đến 30 tuổi, số lượng tế bào gốc trong cơ thể giảm dần một cách tự nhiên. Đến 30 tuổi, cơ thể mất khoảng 25%, và từ 40 - 50 tuổi có thể giảm đến 40 lần so với ban đầu.
Điều này đặt ra câu hỏi, liệu việc bổ sung tế bào gốc có giúp làm chậm quá trình lão hóa hay không?
Tế bào gốc có khả năng biệt hóa thành nhiều loại tế bào khác nhau, đồng thời có chức năng tái tạo, sửa chữa mô, kháng viêm và điều hòa miễn dịch. Chính những đặc tính này khiến chúng trở thành ứng viên tiềm năng trong điều trị lão hóa do viêm. Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về tế bào gốc trung mô, tuy nhiên phần lớn tập trung vào nhóm người cao tuổi.
Nhóm nghiên cứu tại Việt Nam, phối hợp với các nhà khoa học của Đại học Quốc gia TP.HCM đã nghiên cứu tiên phong, đã đặt ra câu hỏi: liệu tế bào gốc trung mô có thể cải thiện các bệnh lý do viêm mạn tính ở người trung niên hay không? Và nhóm nghiên cứu dùng nguồn tế bào gốc từ mô mỡ tự thân và tế bào gốc từ dây rốn được nuôi cấy tại ngân hàng tế bào gốc DNA.
Đối tượng nghiên cứu là 72 người người từ 40 tuổi trở lên, mắc các bệnh như tiểu đường tuýp 2, rối loạn lipid máu, béo phì. Những trường hợp mắc bệnh nặng như rối loạn đông máu, suy tim, suy hô hấp được loại trừ. Quy trình nghiên cứu kéo dài 180 ngày, với hai lần truyền tế bào gốc cách nhau 3 tháng.
Kết quả cho thấy các chỉ số Cytokin gây viêm trong các bệnh tiểu đường, mỡ máu có cải thiện. Đặc biệt, trên từng bệnh nhân, chất lượng da cải thiện rõ rệt, nếp nhăn giảm, giấc ngủ và tinh thần tốt hơn, sức khỏe được nâng cao... Không ghi nhận tác dụng phụ hay yếu tố bất lợi nào xảy ra trong suốt quá trình thực hiện. Từ đó, nhóm nghiên cứu kết luận liệu pháp tế bào gốc trung mô an toàn và có hiệu quả trong việc giảm viêm mạn tính, góp phần làm chậm quá trình lão hóa.
Bác sĩ Phan Thanh Hào khẳng định: Đây là kết quả của một đề tài có sự hợp tác giữa nhiều nhà khoa học, từ bác sĩ thực hiện lâm sàng, đến các chuyên gia nuôi cấy tế bào và các tiến sĩ, phó giáo sư chuyên ngành sinh học thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM thực hiện, với chất lượng tế bào đạt các chuẩn GMP - WHO. Và đề tài nghiên cứu được thực hiện trong gần 5 năm (2020 - 2025), qua hai giai đoạn và đã được Hội đồng đạo đức Bộ Y tế nghiệm thu.
Hiện nay, tế bào gốc là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển công nghệ sinh học và y học hiện đại của Việt Nam, được Nhà nước định hướng đầu tư và phát triển lâu dài. Điều này được cụ thể hóa trong các chỉ thị, nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước.
Trong 21 bệnh nhân ghép tạng có 19 trường hợp ghép tạng của ba người hiến chết não, gồm 5 ca ghép gan (trong đó có 2 bệnh nhi), 2 ca ghép tim, một ghép phổi, 10 trường hợp ghép thận và một người ghép khí quản. Ngoài ra, 3 bệnh nhân còn lại ghép thận từ người cho còn sống.
"21 ca ghép này đánh dấu mốc về số lượng lớn người bệnh được ghép trong thời gian ngắn", TS Dương Đức Hùng, Giám đốc Bệnh viện Việt Đức, cho biết, thêm rằng đợt này bệnh viện cũng thực hiện thành công nhiều kỹ thuật ghép phức tạp với các loại tạng đa dạng như tim, phổi, khí quản, gan và thận.
Đối với ghép phổi, đây là lần đầu tiên bệnh viện áp dụng kỹ thuật gây mê bằng mask thanh quản cho người bệnh ghép phổi, đánh dấu bước đột phá trong gây mê hồi sức đối với lĩnh vực ghép tạng chuyên sâu tại Việt Nam. Kỹ thuật này giúp hạn chế xâm lấn đường thở, giảm nguy cơ biến chứng hô hấp, hỗ trợ phục hồi sớm sau ghép.
Ghép tạng là một trong những thành tựu quan trọng nhất của y học nhân loại từ thế kỷ 20. Đây là biện pháp duy nhất để cứu sống người bệnh giai đoạn cuối. Đến nay, Việt Nam đã ghép được 6 loại bộ phận cơ thể người, với gần 10.000 ca ghép. Kỹ thuật ghép tạng của đội ngũ y tế Việt Nam đã tiệm cận trình độ của các nước phát triển.
Hiện, cả nước có khoảng 30 trung tâm ghép tạng được Bộ Y tế cấp phép.
Dưới góc nhìn y học, vấn đề không nằm ở việc tắm ngay hay không, mà phụ thuộc trạng thái cơ thể lúc đó, nhiệt độ nước và cách tắm. Đổ mồ hôi sau quan hệ, trong đa số trường hợp, chỉ là phản ứng sinh lý bình thường.
Quan hệ tình dục cũng là một dạng hoạt động thể lực với nhịp tim tăng, mạch máu giãn ra để tỏa nhiệt và tuyến mồ hôi hoạt động mạnh hơn. Một nghiên cứu cho thấy hoạt động này tiêu hao trung bình khoảng 85 kcal, mức gắng sức từ nhẹ đến trung bình. Vì vậy, đổ mồ hôi sau quan hệ phần lớn chỉ phản ánh cơ thể vừa "vận động có hiệu quả".
Ngoài ra, mồ hôi có thể tăng nếu phòng nóng, thiếu thông thoáng hoặc do yếu tố tâm lý như hồi hộp. Nếu không kèm đau ngực, khó thở, chóng mặt nhiều hay kiệt sức, thì đây hiếm khi là dấu hiệu đáng lo.
Với người khỏe mạnh, tắm sau đó thường không gây hại. Nếu cơ thể nóng, dính mồ hôi, muốn làm sạch cơ thể, tắm nhẹ nhàng là hợp lý. Điều cần tránh là tắm khi cơ thể vẫn còn đang "cao trào" - tim đập nhanh, thở gấp, đầu hơi lâng lâng - đặc biệt tắm với nước quá nóng hoặc trong không gian bí. Vấn đề không phải là "tắm liền", mà là tắm khi cơ thể chưa kịp hạ nhiệt lại còn chịu thêm kích thích nhiệt mạnh.
Một số người tắm xong sẽ có cảm giác choáng vì sau vận động, mạch máu ngoài da đang giãn để tỏa nhiệt. Nếu tiếp tục tắm nước nóng, mạch máu có thể giãn thêm gây tụt huyết áp nhẹ dẫn đến chóng mặt hoặc mệt. Tình trạng này dễ gặp ở người huyết áp thấp, thiếu nước hoặc thể lực kém.
Cách an toàn và dễ chịu nhất là nghỉ vài phút, thở lại cho đều, uống vài ngụm nước nếu thấy khát, rồi tắm bằng nước ấm vừa hoặc mát nhẹ. Không cần chờ quá lâu, nhưng cũng không nên tắm nước nóng ngay. Khi vệ sinh, chỉ cần rửa nhẹ nhàng, đặc biệt vùng sinh dục ngoài. Tránh chà xát mạnh hoặc dùng quá nhiều sản phẩm vì da và niêm mạc lúc này nhạy cảm hơn.
Nếu ra mồ hôi kèm đau ngực, khó thở, chóng mặt nhiều, buồn nôn, ngất hoặc mệt kéo dài, cần đi khám. Hoạt động tình dục tương đương mức gắng sức nhẹ - trung bình, nên xuất hiện triệu chứng tim mạch là dấu hiệu cần được đánh giá.
Ngoài ra, nếu đổ mồ hôi quá mức cả khi nghỉ ngơi hoặc ảnh hưởng sinh hoạt, có thể liên quan tình trạng tăng tiết mồ hôi và cần kiểm tra.