Trong tâm thức của người dân Trung Quốc, Sơn Đông từ lâu đã là vùng đất của những “người khổng lồ”. Sự vượt trội về vóc dáng của cư dân tỉnh ven biển này không phải là một huyền thoại dân gian mà được minh chứng bằng những số liệu nhân trắc học cụ thể và sự ưu tiên trong lịch sử tuyển quân. Tuy nhiên, khi thế hệ trẻ trên khắp đất nước tỷ dân đang trải qua một cuộc bùng nổ về thể chất, câu hỏi đặt ra là liệu chiều cao của người Sơn Đông có tiếp tục duy trì vị thế độc tôn, hay họ đã chạm tới ngưỡng giới hạn của tạo hóa.
Tỉnh Sơn Đông được ví như vựa thực phẩm của Trung Quốc với nguồn cung nông sản, hải sản và gia súc dồi dào. Sự trù phú về dinh dưỡng này đã loại bỏ gần như hoàn toàn tình trạng suy dinh dưỡng, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển thể chất của người dân bản địa.
Theo dữ liệu từ Tạp chí Chăm sóc Sức khỏe Trẻ em Trung Quốc năm 2017, nam sinh 18 tuổi gốc Sơn Đông sở hữu chiều cao trung bình từ 174,5 đến gần 176 cm, trong khi nữ sinh dao động từ 162,5 đến 164 cm. Con số này cao hơn mặt bằng chung toàn quốc khoảng 4 cm đối với giới trẻ và từ 5 đến 6 cm đối với thế hệ trung niên. Đặc biệt, tại Đại học Nông nghiệp Thanh Đảo, nam sinh ghi nhận mức chiều cao ấn tượng là 176,75 cm.
Dù vẫn giữ vị trí dẫn đầu, tốc độ tăng trưởng của người Sơn Đông hiện đang chậm lại so với phần còn lại của đất nước. Đây là một nghịch lý sinh học thú vị vì các thế hệ trước tại Sơn Đông vốn đã được hưởng chế độ dinh dưỡng tốt, tiềm năng chiều cao của họ đã được khai thác gần hết.
Ngược lại, thanh niên ở các tỉnh khác đang trải qua giai đoạn “đuổi kịp” mạnh mẽ, thu hẹp khoảng cách nhờ sự cải thiện đột ngột trong khẩu phần ăn hàng ngày. Hiện nay, một thanh niên cao 175 cm tại Sơn Đông chỉ được xếp vào nhóm dưới trung bình, phản ánh sự khắt khe trong tiêu chuẩn vóc dáng tại địa phương này.
Hiện tượng này được các nhà khoa học giải thích qua quy luật hồi quy về mức trung bình. Khi nguồn dinh dưỡng đạt đến mức tối ưu, chiều cao của con người sẽ không tăng thêm mà dần ổn định hoặc thậm chí giảm nhẹ để cân bằng với mã di truyền.
Số liệu thực tế cho thấy nam giới Nhật Bản đã dừng lại ở mốc 172 cm, trong khi nam giới Mỹ và Nam Âu lần lượt bình ổn tại mức 176 cm và 177 cm. Di truyền đóng vai trò là “trần nhà”, và dinh dưỡng chỉ là công cụ để đưa con người tiệm cận giới hạn đó.
Sự khác biệt này thể hiện rõ khi so sánh nam giới bộ tộc Dinka ở Nam Sudan, những người có thể cao 180 cm dù thiếu thốn, với người Philippines vốn hiếm khi vượt qua mốc 165 cm dù có chế độ ăn đầy đủ.
Tại Trung Quốc, những cá nhân cao nhất tập trung chủ yếu ở bán đảo Kiều Đông và vùng Kiều Liêu. Lịch sử ghi nhận vóc dáng vạm vỡ của người Uy Hải Vệ từng là tiêu chuẩn vàng để cảnh sát Hong Kong tuyển chọn nhân sự.
Tuy nhiên, dữ liệu hơn một thập kỷ qua cho thấy chiều cao nam giới vùng Kiều Liêu đã giậm chân tại chỗ ở ngưỡng 176 đến 177 cm. Đây là tín hiệu rõ ràng cho thấy họ đã tiến sát giới hạn sinh học tối đa của chủng tộc.
Các chuyên gia dự báo về một sự phân hóa chiều cao ổn định trên bản đồ Trung Quốc trong tương lai gần. Theo đó, nam giới vùng ven biển Sơn Đông và nam Liêu Ninh sẽ duy trì mức 178 cm, vùng hạ lưu sông Dương Tử đạt 175 cm, và các khu vực miền Nam, Tây Nam sẽ dừng ở mức 173 cm.
Cuộc cách mạng thể chất của Trung Quốc, dù diễn ra với tốc độ thần tốc trong vài thập kỷ so với cả thế kỷ của Âu Mỹ, cuối cùng cũng sẽ phải tuân theo sự điều tiết của gene. Những bước chân dài của người Sơn Đông có thể vẫn sẽ dẫn đầu, nhưng khoảng cách với phần còn lại sẽ không còn là một vực thẳm ngăn cách khi mọi cá nhân đều đã khai thác hết “bữa tiệc sinh học” của mình, HK01 nhận định.
Ngày 31/3, đại diện Bệnh viện Từ Dũ (TPHCM) cho biết, vừa qua các bác sĩ nơi này đã phối hợp cùng ê-kíp Bệnh viện Chợ Rẫy phẫu thuật cứu sống một sản phụ mang thai trong ổ bụng ở vị trí cực kỳ hiếm gặp và nguy hiểm, đe dọa trực tiếp đến tính mạng.
Bệnh nhân là chị L.T.T. (36 tuổi, ngụ tỉnh Đồng Nai) có tiền sử hai lần sinh thường và một lần mang thai ngoài tử cung, đã phẫu thuật nội soi cắt tai vòi tử cung trái cách đây hơn 11 năm. Lần này, chị quên sử dụng biện pháp dự phòng và có thai ngoài ý muốn.
Gần đây, do xuất hiện tình trạng đau bụng tăng dần, người phụ nữ đến khám tại bệnh viện địa phương và được nghi ngờ có thai trong ổ bụng khoảng 10 tuần. Ngay sau đó, bệnh nhân được chuyển tuyến khẩn cấp đến Bệnh viện Từ Dũ.
Tại khoa Cấp cứu, các bác sĩ nhanh chóng thăm khám, hội chẩn và chỉ định thực hiện các cận lâm sàng chuyên sâu. Kết quả cho thấy bệnh nhân có thai nằm sau phúc mạc, ngay sát động mạch chủ bụng.
Khối thai ở ngay dưới vị trí phân nhánh của động mạch thận trái, có dấu hiệu dính vào thành động mạch chủ bụng một đoạn khoảng 10mm, xung quanh có nhiều dịch, nghi xuất huyết tiến triển.
Đây là một trong những thể thai ngoài tử cung rất hiếm gặp, nguy cơ vỡ mạch máu lớn gây nguy cơ tử vong nếu không can thiệp kịp thời. Trước tính chất phức tạp và nguy hiểm của ca bệnh, trưởng tua trực đã quyết định kích hoạt báo động đỏ liên viện, mời ê-kíp phẫu thuật mạch máu từ Bệnh viện Chợ Rẫy sang phối hợp xử trí.
Các chuyên gia hai phía đã cùng hội chẩn, xây dựng phương án phẫu thuật tối ưu nhằm đảm bảo an toàn tối đa cho người bệnh.
3 giờ cân não cứu thai phụ
Ca phẫu thuật được tiến hành lúc 23h45 ngày 26/3. Khi mở bụng bệnh nhân, ê-kíp ghi nhận tình trạng xuất huyết lan tỏa vùng sau phúc mạc. Khối thai nằm sát hàng loạt mạch máu quan trọng ở bụng, thận trái và niệu quản trái.
Các bác sĩ phải tiến hành bóc tách tỉ mỉ khối thai, để tránh tổn thương và bảo tồn được những mạch máu lớn ở thận, động mạch chủ bụng, bảo vệ niệu quản bên trái. Đáng chú ý, khối thai còn chèn ép động mạch sinh dục trái, gây tổn thương vị trí này trong quá trình bóc tách, khiến ê-kíp phải kiên nhẫn xử trí và phục hồi bảo tồn.
Cuối cùng, khối thai và bánh nhau bám sát vùng thận bên trái được lấy trọn vẹn. Sau gần 3 giờ cân não, ca mổ kết thúc thành công. Bệnh nhân mất khoảng 500ml máu và không cần truyền thêm.
Hậu phẫu 2 ngày, chị T. hoàn toàn tỉnh táo, sinh hiệu ổn định, vết mổ khô, có thể đi lại và ăn uống gần như bình thường. Đến sáng 31/3, chị T. hồi phục gần như hoàn toàn, đủ điều kiện xuất viện.
Theo Bệnh viện Từ Dũ, thành công của ca phẫu thuật không chỉ thể hiện trình độ chuyên môn cao của 2 đơn vị y tế tuyến cuối, mà còn cho thấy hiệu quả của mô hình phối hợp liên viện trong xử trí các ca bệnh nguy kịch, tưởng chừng không thể can thiệp.
Hiệu quả của kỹ thuật này thôi thúc BSCKII Nguyễn Công Huy, khoa Ngoại Vú, Bệnh viện K, cùng đồng nghiệp thực hiện nghiên cứu, giành giải Xuất sắc tại Hội nghị Khoa học và Công nghệ Tuổi trẻ, công bố hôm 10/7.
Ung thư vú hiện là loại ung thư có số ca mắc mới nhiều nhất tại Việt Nam. Nhờ những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị, bệnh nhân ung thư vú có thể sống khỏe mạnh nhiều năm sau khi được chẩn đoán. Vì vậy, mục tiêu điều trị hiện nay không chỉ kéo dài thời gian sống mà còn giúp người bệnh duy trì chất lượng cuộc sống, hạn chế mặc cảm và tự tin hòa nhập cộng đồng.
Trong quá trình tư vấn điều trị, nhiều phụ nữ ung thư vú băn khoăn liệu họ có còn giữ được hình thể và sự tự tin sau khi phải cắt bỏ toàn bộ tuyến vú. "Những câu hỏi đó thôi thúc các bác sĩ tìm kiếm kỹ thuật vừa điều trị hiệu quả ung thư vừa giúp người bệnh lấy lại sự tự tin trong cuộc sống", bác sĩ Huy nói.
Các bác sĩ Bệnh viện K triển khai kỹ thuật tái tạo vú tức thì bằng vạt TRAM, sử dụng mô tự thân lấy từ vùng bụng để tạo hình bầu ngực mới ngay trong cùng ca mổ cắt toàn bộ tuyến vú. So với phương pháp chỉ xử lý tổn thương ung thư, kỹ thuật này giúp tái tạo bầu ngực có hình dáng và kích thước tương đối cân đối với bên còn lại.
Theo bác sĩ Huy, điểm đặc biệt của phương pháp là mang lại hai lợi ích trong cùng một ca mổ. Ngoài tái tạo bầu ngực bằng chính mô tự thân của người bệnh, phần mỡ thừa ở thành bụng cũng được tạo hình, giúp vòng bụng gọn hơn.
Cuộc phẫu thuật đạt hai mục tiêu cùng lúc, gồm tái tạo vú sau điều trị ung thư và tạo hình thành bụng, theo bác sĩ Huy. Đây là kỹ thuật đã được áp dụng tại nhiều quốc gia nhưng trước đây chưa phổ biến ở Việt Nam do quy trình phức tạp, đòi hỏi êkíp phẫu thuật có trình độ chuyên môn cao.
Kết quả nghiên cứu về thẩm mỹ và chất lượng sống dài hạn bệnh nhân sau phẫu thuật tái tạo vú tức thì bằng vạt TRAM, cho thấy hơn 80% bệnh nhân đạt kết quả thẩm mỹ từ tốt đến đẹp. Điểm hài lòng trung bình đạt 72/100 theo thang đo chất lượng sống quốc tế đã được Việt hóa, phản ánh sự cải thiện rõ rệt về chất lượng sống sau điều trị.
Đến nay, Bệnh viện K đã thực hiện gần 300 ca tái tạo vú bằng kỹ thuật này. Tuy nhiên, đây là phương pháp chuyên sâu, có chỉ định nghiêm ngặt và thường phù hợp với bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm. Người bệnh cần được đánh giá toàn diện và tư vấn kỹ trước khi lựa chọn.
Ngoài nghiên cứu về ung thư vú, nhiều công trình ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi số, y học chính xác và các kỹ thuật điều trị ung thư tiên tiến, cũng đạt nhiều giải thưởng.
GS Lê Văn Quảng, Giám đốc Bệnh viện K, đánh giá những nghiên cứu có giá trị nhất thường bắt nguồn từ thực tiễn điều trị và nhu cầu của người bệnh. Mỗi câu hỏi đặt ra trong quá trình khám chữa bệnh đều có thể trở thành động lực để các bác sĩ cải tiến kỹ thuật, góp phần nâng cao chất lượng điều trị và khẳng định năng lực của y học Việt Nam.
Ông cho biết bệnh viện sẽ tiếp tục đầu tư phát triển các nhóm nghiên cứu trẻ, mở rộng hợp tác quốc tế và thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Sáng 28.4, thông tin từ Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị cho biết vừa phẫu thuật nối lại bàn chân trái bị đứt lìa cho một bệnh nhân gặp tai nạn lao động.
Trước đó, vào khoảng 8 giờ sáng 21.4, anh H.V.C (41 tuổi, ở xã A Dơi) đang cắt cỏ thì lưỡi máy cắt bị gãy văng, chém đứt lìa cổ chân trái.
Vết thương nghiêm trọng khiến anh C. mất nhiều máu, bất tỉnh, được người nhà nhanh chóng đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực Hướng Hóa.
Trong tình trạng mất máu nhanh, để tránh nguy cơ hoại tử, các bác sĩ vừa hồi sức vừa lập tức kích hoạt quy trình cấp cứu khẩn cấp liên viện với Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị để tiếp nhận hướng dẫn chuyên môn trực tiếp. Phần chi bị đứt lìa được xử lý đúng quy trình để giữ cơ hội nối lại chi.
Ngay sau đó, anh C. được chuyển đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị, tại đây báo động đỏ được kích hoạt. Đội ngũ y bác sĩ phẫu thuật, phòng mổ, trang thiết bị được chuẩn bị sẵn sàng, chỉ sau 10 phút nhập viện, bệnh nhân được đưa vào phòng mổ.
Ca phẫu thuật kéo dài trong suốt 4 - 5 giờ đồng hồ. Các bác sĩ đã tiến hành xử lý đầu chi đứt lìa, làm sạch và xử lý các mô dập nát; cố định xương tạm thời bằng đinh Kirschner; khâu nối các bó mạch chính bao gồm bó mạch chày trước, chày sau để tái lập tuần hoàn; khâu nối hệ thống gân cơ và thần kinh nhằm duy trì chức năng bàn chân sau này.
Sau khi tái lập dòng máu, bàn chân đã hồng ấm trở lại, dấu hiệu quan trọng cho thấy tuần hoàn đã được phục hồi, ca phẫu thuật đã thành công bước đầu. Một tuần sau phẫu thuật, bàn chân của bệnh nhân phản hồi mao mạch tốt, các ngón chân có thể vận động nhẹ nhàng.
Theo nhận định của các bác sĩ, phẫu thuật nối lại bàn chân đứt lìa là một kỹ thuật vi phẫu đặc biệt phức tạp, được tiến hành theo nhiều bước chặt chẽ và liên hoàn. Thách thức lớn nhất là phải đồng thời tái tạo nhiều thành phần quan trọng như xương, các động mạch chính gân cơ và hệ thống thần kinh, đòi hỏi độ chính xác vi phẫu rất cao.