Tờ The Wall Street Journal ngày 10.4 dẫn lời các quan chức Mỹ cho biết cộng đồng tình báo đánh giá rằng Iran vẫn có thể triển khai sử dụng nhiều tên lửa đạn đạo sau 6 tuần chiến sự.
Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth tuần này nói rằng chương trình tên lửa của Iran đã “bị phá hủy về mặt chức năng”, với số lượng bệ phóng và tên lửa “bị cạn kiệt, suy giảm nghiêm trọng và gần như hoàn toàn không hiệu quả”.
Tuy nhiên, các báo cáo tình báo của Mỹ cho thấy Iran có thể khôi phục lại một phần lực lượng tên lửa. Mặc dù một nửa số bệ phóng tên lửa của Iran đã bị phá hủy, hư hại hoặc bị mắc kẹt dưới đống đổ nát, nhưng nhiều bệ phóng có thể được sửa chữa và đưa ra từ các địa điểm ngầm.
Các quan chức Mỹ và Israel cũng được trích dẫn nói rằng mặc dù hiện nay Iran chỉ còn một nửa số tên lửa so với trước xung đột, nhưng nước này vẫn còn hàng ngàn tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm ngắn có thể đưa ra khỏi nơi cất giấu hoặc đào lên từ trong lòng đất.
Các quan chức Israel cho biết khoảng 2/3 số bệ phóng tên lửa đạn đạo của Iran đã bị vô hiệu hóa trong chiến sự, song Iran có thể thu hồi nhiều bệ phóng bị mắc kẹt dưới lòng đất do các cuộc tấn công của Mỹ và Israel. Các quan chức Israel cũng cho biết Iran vẫn còn hơn 1.000 trong số khoảng 2.500 tên lửa tầm trung mà nước này sở hữu khi bắt đầu chiến sự. Số còn lại đã được sử dụng hoặc bị phá hủy.
Về số lượng máy bay không người lái (UAV), theo các quan chức Mỹ, Iran hiện chỉ còn chưa đến 50% UAV tấn công một chiều so với thời điểm bắt đầu chiến sự nhưng nước này có thể mua các hệ thống tương tự từ đồng minh để sử dụng chống lại các nước láng giềng.
Iran cũng vẫn còn một lượng nhỏ tên lửa hành trình, có thể được sử dụng để nhắm mục tiêu vào các tàu chiến ở vịnh Ả Rập hoặc nhắm vào quân đội Mỹ, nếu Washington tấn công chiếm giữ một hòn đảo Iran trong trường hợp đàm phán đổ vỡ, các quan chức Mỹ cho biết.
Lầu Năm Góc và Nhà Trắng từ chối bình luận về thông tin của The Wall Street Journal, nhấn mạnh quân đội Mỹ đã đạt được mọi mục tiêu.
Đánh giá được tiết lộ giữa thời điểm Mỹ đang bước vào vòng đàm phán trực tiếp với Iran tại Pakistan nhằm đạt thỏa thuận chấm dứt chiến sự và mở lại eo biển Hormuz.
Báo cáo cũng cho rằng một số quan chức Mỹ lo ngại Iran sẽ lợi dụng thỏa thuận ngừng bắn hiện tại để xây dựng lại kho tên lửa của mình.

"Cây cầu lớn nhất ở Iran sụp đổ và không bao giờ sử dụng được nữa. Còn nhiều điều sẽ xảy ra. Đã đến lúc Iran đạt được thỏa thuận trước khi quá muộn và không còn gì sót lại của một đất nước vốn đầy tiềm năng để trở nên vĩ đại", Tổng thống Mỹ Donald Trump viết trên mạng xã hội hôm 2/4.
Video do ông Trump đăng kèm cho thấy cột khói lớn bốc lên từ cầu B1 đang được xây dựng ở thành phố Karaj tại tỉnh Alborz, cách thủ đô Tehran khoảng 35 km. Một phần cầu đã sụp xuống sau khi xảy ra vụ nổ. Hãng thông tấn Fars của Iran cho biết đây là cây cầu cao nhất Trung Đông với chiều cao 136 m.
Đài truyền hình quốc gia Iran cho biết Mỹ - Israel đã hai lần tập kích công trình này, trong đó đòn đánh thứ hai diễn ra khi lực lượng ứng phó khẩn cấp được điều tới hiện trường để giúp đỡ các nạn nhân trong vụ tấn công đầu tiên. Ghodratollah Seif, phó thống đốc tỉnh Alborz, thông báo 8 người đã thiệt mạng và 95 người bị thương sau sự việc.
Theo Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi, các cuộc tấn công nhằm vào hạ tầng dân sự, trong đó có cầu đang xây dở, sẽ không khiến nước này đầu hàng.
"Nó chỉ cho thấy sự thất bại và sụp đổ về mặt tinh thần của một kẻ thù đang rối loạn", ông khẳng định.
Quân đội Israel nói với đài CNN rằng lực lượng này không liên quan đến cuộc tấn công. Bộ tư lệnh Trung tâm (CENTCOM), cơ quan đặc trách hoạt động của quân đội Mỹ ở Trung Đông, chưa đưa ra bình luận.
Dù vậy, một quan chức cấp cao Mỹ giấu tên xác nhận với tờ Wall Street Journal rằng lực lượng nước này đã hai lần ném bom cầu B1, trong khuôn khổ nỗ lực nhằm cắt đứt các tuyến tiếp tế quân sự và ngăn Iran phân phối linh kiện máy bay không người lái cùng tên lửa đạn đạo cho các đơn vị trên khắp đất nước.
Cuộc tập kích diễn ra sau khi Tổng thống Trump hôm 1/4 tuyên bố chiến dịch do Mỹ - Israel phát động sắp kết thúc, đồng thời đe dọa sẽ tập kích Iran "cực kỳ mạnh" nếu nước này không chấp nhận các yêu cầu mà ông đưa ra.
"Trong vòng 2-3 tuần tới, chúng tôi sẽ đưa họ quay trở lại thời kỳ đồ đá mà họ vốn thuộc về", Tổng thống Mỹ cảnh báo trong bài phát biểu trước toàn quốc đầu tiên về xung đột ở Trung Đông.
Phạm Giang (Theo AFP, CNN, Fars)
Nguồn: https://vnexpress.net/ong-trump-dang-video-cay-cau-lon-nhat-o-iran-sup-do-5057894.html

Đối với Nga, sức ép từ thực tiễn tác chiến cùng các lệnh trừng phạt chưa từng có của phương Tây đã buộc Moscow phải tái cấu trúc toàn diện ngành công nghiệp UAV quân sự.
Từ vị thế bộc lộ nhiều hạn chế trong giai đoạn đầu, Nga từng bước xây dựng được hệ sinh thái sản xuất quy mô lớn, đủ khả năng duy trì các chiến dịch cường độ cao. Tuy nhiên, phía sau những thành quả đó vẫn là bài toán khó về công nghệ lõi và năng lực tự chủ trước sức ép cấm vận ngày càng gia tăng.
Cuộc tái cấu trúc ngành công nghiệp UAV quân sự
Gần 5 năm xung đột Nga - Ukraine đã làm thay đổi sâu sắc phương thức tác chiến hiện đại, đồng thời biến năng lực sản xuất UAV thành một trong những thước đo sức mạnh quân sự của các quốc gia. Nếu ở giai đoạn đầu UAV chủ yếu giúp Ukraine bù đắp bất lợi về lực lượng, thì đến giai đoạn 2025-2026, Nga đã chuyển mình mạnh mẽ, không chỉ sử dụng UAV như phương tiện hỗ trợ hỏa lực mà còn xây dựng được một nền công nghiệp đủ sức bảo đảm tác chiến quy mô lớn và kéo dài.
Sự chuyển đổi này bắt nguồn từ những bài học đắt giá trên chiến trường. Năm 2022, dù sở hữu nhiều dòng UAV trinh sát như Orlan-10 hay Forpost, quân đội Nga vẫn thiếu nhiều UAV cảm tử, UAV FPV và các mẫu UAV chiến thuật giá rẻ. Trong khi đó, Ukraine nhanh chóng tận dụng UAV thương mại cải tiến cùng các hệ thống hiện đại do phương Tây viện trợ để nâng cao hiệu quả trinh sát, hiệu chỉnh hỏa lực và tấn công chính xác. Khả năng tích hợp UAV vào tác chiến ở cấp phân đội nhỏ giúp Kiev giành nhiều lợi thế trong giai đoạn đầu của cuộc xung đột.
Thực tế đó buộc Nga thay đổi tư duy. Nếu trước đây UAV chỉ được xem là thành phần hỗ trợ trong hệ thống trinh sát - chỉ thị mục tiêu, thì từ cuối 2022, Nga xác định đây là năng lực cốt lõi quyết định hiệu quả tác chiến trong chiến tranh hiện đại. Chính phủ Nga ban hành các chương trình phát triển UAV đến năm 2030 và tầm nhìn 2035, đồng thời triển khai dự án quốc gia về hệ thống UAV nhằm xây dựng lộ trình đồng bộ từ nghiên cứu, sản xuất, đào tạo nhân lực đến triển khai thực tế.
Điểm đáng chú ý là chiến lược mới không còn dựa hoàn toàn vào các tập đoàn quốc phòng truyền thống. Dưới sự điều phối của tổ hợp công nghiệp - quân sự và tập đoàn Rostec, Nga mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân, viện nghiên cứu và các trường đại học kỹ thuật, hình thành mạng lưới sản xuất liên kết từ điện tử, quang học, động cơ, vật liệu composite đến trí tuệ nhân tạo. Các doanh nghiệp như Kronstadt, ZALA Aero, Geoscan hay Albatros trở thành những mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị UAV quân sự.
Nhờ mô hình huy động nguồn lực trên quy mô toàn quốc, năng lực sản xuất UAV của Nga tăng nhanh. Theo TASS, năm 2024 quân đội đã tiếp nhận hơn 1,5 triệu UAV các loại, chủ yếu là UAV FPV và UAV trinh sát chiến thuật; sản lượng tiếp tục tăng trong năm 2025 khi nhiều dây chuyền mới đi vào hoạt động.
Trong đó, khu công nghiệp Alabuga tại Cộng hòa Tatarstan nổi lên như trung tâm sản xuất UAV lớn nhất của Nga, đảm nhiệm việc nội địa hóa và mở rộng sản xuất UAV tấn công tầm xa Geran-2 phát triển từ thiết kế Shahed-136 của Iran. Đồng thời, nhiều dòng UAV như Lancet, Kub, Orlan-30, Molniya, Gerbera cùng các mẫu FPV giá rẻ liên tục được cải tiến để đáp ứng yêu cầu thay đổi nhanh của chiến trường.
Theo nhiều chuyên gia quân sự, lợi thế lớn nhất của Nga hiện không nằm ở việc sở hữu một mẫu UAV vượt trội về công nghệ, mà ở khả năng sản xuất quy mô công nghiệp và liên tục cải tiến thiết kế dựa trên phản hồi từ thực địa. Chu trình từ nghiên cứu, thử nghiệm đến sản xuất hàng loạt được rút ngắn xuống chỉ còn vài tháng, thay vì nhiều năm như trước. Điều này phản ánh sự chuyển đổi của ngành công nghiệp quốc phòng Nga từ mô hình sản xuất thời bình sang cơ chế vận hành linh hoạt của một nền “kinh tế thời chiến”, trong đó tốc độ thích ứng trở thành yếu tố quyết định.
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh về quy mô không đồng nghĩa với việc Nga đã đạt được năng lực tự chủ hoàn toàn. Phần lớn các lĩnh vực then chốt như vi điện tử, cảm biến quang học, động cơ chính xác và linh kiện bán dẫn vẫn chịu tác động đáng kể từ các lệnh trừng phạt quốc tế. Chính sức ép cấm vận đã buộc Moscow phải thay đổi phương thức tổ chức sản xuất, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và tìm kiếm các đối tác mới nhằm duy trì đà phát triển của ngành công nghiệp UAV quân sự.
Đó cũng là nền tảng cho giai đoạn chuyển đổi sâu rộng tiếp theo, khi các lệnh trừng phạt không còn chỉ là sức ép bên ngoài mà trở thành yếu tố định hình toàn bộ mô hình phát triển của ngành công nghiệp UAV quân sự Nga.
Moscow thay đổi toàn bộ cách thức phát triển
Nếu nhu cầu chiến trường là động lực thúc đẩy Nga mở rộng sản xuất UAV, các lệnh trừng phạt của Mỹ và phương Tây lại trở thành yếu tố định hình toàn bộ mô hình phát triển của ngành công nghiệp này. Từ năm 2022, Nga phải đối mặt với các biện pháp cấm vận công nghệ và tài chính quy mô lớn, tập trung vào những lĩnh vực then chốt như vi điện tử, thiết bị bán dẫn, cảm biến quang học, hệ thống dẫn đường và công nghệ lưỡng dụng. Mục tiêu của phương Tây là làm suy giảm năng lực sản xuất quốc phòng của Moscow, trong đó ngành UAV được xác định là một trọng điểm.
Trong giai đoạn đầu, các biện pháp này đã tạo ra những tác động rõ rệt. Nhiều dây chuyền sản xuất UAV của Nga bị gián đoạn do thiếu vi mạch, camera ảnh nhiệt, mô-đun định vị vệ tinh, bộ điều khiển bay và động cơ điện cỡ nhỏ vốn phụ thuộc vào nguồn cung từ Mỹ, châu Âu và một số quốc gia châu Á. Không ít chương trình phát triển UAV mới phải điều chỉnh thiết kế hoặc lùi tiến độ vì thiếu linh kiện công nghệ cao, trong khi một số dự án UAV tấn công hạng nặng cũng chịu ảnh hưởng bởi tình trạng khan hiếm thiết bị điện tử và động cơ nhập khẩu.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy các lệnh trừng phạt không khiến ngành công nghiệp UAV Nga rơi vào tình trạng tê liệt như kỳ vọng của phương Tây. Thay vào đó, Moscow đã nhanh chóng tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng linh hoạt hơn. Bên cạnh việc thúc đẩy nội địa hóa, Nga mở rộng nhập khẩu qua các nước thứ ba và tăng cường hợp tác với những đối tác không tham gia cơ chế trừng phạt. Nhiều chuyên gia phương Tây gọi đây là quá trình chuyển đổi từ mô hình “chuỗi cung ứng toàn cầu” sang “chuỗi cung ứng thích ứng với cấm vận”.
Một trong những giải pháp quan trọng là mở rộng mạng lưới mua sắm linh kiện thông qua các quốc gia trung gian. Theo nhiều cuộc điều tra quốc tế, lượng vi mạch, linh kiện điện tử và thiết bị lưỡng dụng xuất khẩu sang Kazakhstan, Kyrgyzstan, Armenia, Thổ Nhĩ Kỳ, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE), Serbia hay Malaysia tăng mạnh sau năm 2022, trước khi một phần được tái xuất sang Nga. Dù Mỹ và Liên minh châu Âu liên tục siết chặt các biện pháp trừng phạt thứ cấp, nhiều kênh thương mại vẫn tồn tại thông qua mạng lưới doanh nghiệp trung gian và công ty vỏ bọc. Vì vậy, trên nhiều UAV Nga thu giữ tại chiến trường vẫn xuất hiện các loại chip, bộ nhớ, cảm biến và vi điều khiển do các hãng phương Tây sản xuất.
Song song với việc tìm kiếm nguồn cung thay thế, Nga cũng đẩy mạnh chiến lược “thay thế nhập khẩu”. Chính phủ dành nguồn lực lớn để phát triển ngành vi điện tử, động cơ cỡ nhỏ, thiết bị quang điện tử và vật liệu composite phục vụ sản xuất UAV. Các doanh nghiệp thuộc Rostec, Roselectronics, Vega và Almaz-Antey được giao phát triển hệ thống điều khiển, thiết bị liên lạc, cảm biến và phần mềm dẫn đường do Nga tự thiết kế. Dù chưa thể thay thế hoàn toàn công nghệ nước ngoài, quá trình nội địa hóa từng phần đã giúp giảm đáng kể mức độ phụ thuộc đối với nhiều nhóm linh kiện cơ bản.
Hợp tác quốc tế cũng được Nga điều chỉnh theo hướng đa dạng hơn. Nếu Iran từng giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ Nga phát triển UAV tấn công tầm xa thông qua thiết kế Shahed-136, thì từ năm 2024, Nga mở rộng hợp tác với nhiều đối tác tại châu Á, Trung Đông và không gian hậu Xô viết trong các lĩnh vực điện tử, vật liệu mới, trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ sản xuất. Mục tiêu không chỉ là bổ sung linh kiện mà còn từng bước xây dựng mạng lưới công nghệ thay thế, giảm sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng do phương Tây kiểm soát.
Dẫu vậy, chiến lược này vẫn bộc lộ nhiều giới hạn. Theo đánh giá của nhiều tổ chức nghiên cứu quốc tế, Nga duy trì được sản lượng UAV ở mức cao nhưng chưa giải quyết được bài toán công nghệ lõi. Những lĩnh vực như bán dẫn tiên tiến, chip xử lý AI, cảm biến hồng ngoại thế hệ mới, thiết bị quang điện tử độ chính xác cao và động cơ hiệu suất lớn vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung bên ngoài. Việc phải nhập khẩu qua nhiều tầng trung gian không chỉ làm tăng chi phí mà còn khiến chuỗi cung ứng luôn tiềm ẩn nguy cơ gián đoạn khi các biện pháp kiểm soát xuất khẩu tiếp tục được mở rộng.
Ở góc độ khác, nhiều chuyên gia cho rằng hiệu quả của các lệnh trừng phạt không nên chỉ đánh giá bằng câu hỏi liệu Nga còn sản xuất được UAV hay không. Tác động lớn nhất của cấm vận là làm tăng chi phí, kéo dài thời gian tiếp cận công nghệ, hạn chế tốc độ đổi mới và buộc Moscow phải phân bổ nhiều nguồn lực hơn để duy trì cùng một năng lực sản xuất. Nói cách khác, các lệnh trừng phạt chưa làm suy sụp ngành UAV quân sự Nga, nhưng đã khiến quá trình phát triển trở nên tốn kém, phức tạp và phụ thuộc nhiều hơn vào các giải pháp thích ứng.
Sau hơn 4 năm xung đột, cuộc cạnh tranh UAV giữa Nga và Ukraine đã vượt ra ngoài khuôn khổ của một cuộc đua về số lượng. Thực chất, đây là sự cạnh tranh giữa hai mô hình phát triển công nghiệp quốc phòng khác nhau: một bên dựa vào khả năng huy động nguồn lực trong nước để duy trì sản xuất dưới sức ép cấm vận, bên kia dựa vào mạng lưới viện trợ, chuyển giao công nghệ và năng lực công nghiệp của Mỹ cùng các đồng minh phương Tây. Kết quả của cuộc cạnh tranh này không chỉ ảnh hưởng đến cục diện chiến trường Nga - Ukraine, mà còn định hình xu hướng phát triển của ngành công nghiệp UAV quân sự toàn cầu trong những năm tới.
Tự chủ công nghệ và những giới hạn khó vượt qua
Ngành công nghiệp UAV quân sự Nga đã có bước phát triển vượt bậc về quy mô sản xuất, tốc độ đổi mới và khả năng đáp ứng nhu cầu chiến trường. Nếu đầu năm 2022 nhiều chuyên gia dự báo các lệnh trừng phạt của phương Tây sẽ nhanh chóng làm tê liệt năng lực sản xuất UAV của Moscow, thì đến giữa năm 2026, thực tế cho thấy nhận định đó chỉ đúng một phần. Nga không chỉ duy trì được năng lực chế tạo mà còn xây dựng được hệ sinh thái công nghiệp đủ sức vận hành trong điều kiện bị cấm vận kéo dài. Tuy nhiên, phía sau những kết quả này vẫn là hàng loạt điểm nghẽn mang tính cơ cấu, khiến mục tiêu tự chủ hoàn toàn về công nghệ còn khá xa.
Thành công rõ nét nhất của Nga là chuyển từ tư duy phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu sang xây dựng năng lực sản xuất trong nước. Chuỗi sản xuất UAV hiện đã từng bước làm chủ nhiều khâu như khung thân, vật liệu composite, hệ thống điều khiển bay, phần mềm tác chiến, thiết bị liên lạc và một số dòng động cơ. Việc huy động doanh nghiệp tư nhân, viện nghiên cứu, trường đại học kỹ thuật và cộng đồng công nghệ tham gia nghiên cứu, sản xuất cũng tạo nên mô hình phát triển linh hoạt hơn so với cơ chế công nghiệp quốc phòng truyền thống.
Một bước tiến quan trọng khác là rút ngắn đáng kể chu trình đổi mới công nghệ. Thay vì mất nhiều năm để phát triển một mẫu vũ khí mới, nhiều dòng UAV của Nga hiện được thiết kế, thử nghiệm và đưa vào sản xuất chỉ trong vài tháng. Mối liên kết chặt chẽ giữa đơn vị tác chiến và nhà sản xuất giúp các doanh nghiệp liên tục điều chỉnh thiết kế nhằm đối phó với tác chiến điện tử, hệ thống phòng không và các biện pháp đánh chặn của Ukraine. Chính khả năng thích ứng nhanh này đã giúp Nga duy trì cường độ sử dụng UAV ở mức cao trong giai đoạn 2025-2026, bất chấp việc cả hai bên liên tục thay đổi chiến thuật.
Tuy nhiên, năng lực sản xuất quy mô lớn không đồng nghĩa với ưu thế tuyệt đối về công nghệ. Phần lớn các nghiên cứu quốc tế đều cho rằng Nga vẫn phụ thuộc đáng kể vào những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như bán dẫn tiên tiến, chip xử lý trí tuệ nhân tạo, cảm biến quang - hồng ngoại, hệ thống dẫn đường chính xác và máy công cụ phục vụ sản xuất vi điện tử. Dù chương trình thay thế nhập khẩu đạt một số kết quả tích cực, khoảng cách công nghệ với các quốc gia dẫn đầu trong lĩnh vực bán dẫn vẫn rất lớn và khó có thể thu hẹp trong thời gian ngắn.
Áp lực cũng đến từ chính mô hình kinh tế thời chiến. Chi tiêu quốc phòng tăng mạnh giúp duy trì tốc độ mở rộng của ngành công nghiệp UAV, nhưng đồng thời tạo sức ép lên ngân sách, thị trường lao động và các ngành kinh tế dân sự. Nhu cầu sản xuất hàng triệu UAV/năm đòi hỏi nguồn cung ổn định về linh kiện, vật liệu và nhân lực kỹ thuật cao, những yếu tố ngày càng khó bảo đảm nếu chiến sự tiếp tục kéo dài.
Bên cạnh đó, bản chất của cuộc cạnh tranh UAV cũng đang thay đổi nhanh chóng. Nếu trước đây ưu thế chủ yếu được quyết định bởi số lượng phương tiện, thì hiện nay trọng tâm chuyển dần sang chất lượng và mức độ thông minh của hệ thống. Các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, điều khiển theo bầy đàn, dẫn đường chống gây nhiễu, nhận dạng mục tiêu tự động hay phối hợp với hệ thống tác chiến điện tử đang trở thành tiêu chuẩn mới. Đây đều là những lĩnh vực đòi hỏi nền tảng vi điện tử, phần mềm và năng lực xử lý dữ liệu rất cao - những mảng mà Nga vẫn còn khoảng cách đáng kể so với các cường quốc công nghệ.
Dù vậy, giới phân tích cho rằng không nên đánh giá thấp khả năng thích ứng của ngành công nghiệp quốc phòng Nga. Kinh nghiệm thời gian qua cho thấy mỗi vòng trừng phạt mới đều buộc Nga tìm kiếm giải pháp thay thế, từ mở rộng hợp tác với đối tác ngoài phương Tây, đa dạng hóa chuỗi cung ứng đến đẩy mạnh nội địa hóa công nghệ. Quá trình này làm gia tăng chi phí, kéo dài thời gian phát triển, nhưng đồng thời thúc đẩy Nga từng bước giảm phụ thuộc vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Triển vọng của ngành công nghiệp UAV Nga phụ thuộc vào nhiều biến số. Nếu xung đột tiếp diễn, nhu cầu chiến trường vẫn là động lực duy trì tốc độ mở rộng sản xuất. Ngược lại, nếu chiến sự hạ nhiệt hoặc xuất hiện giải pháp chính trị, mô hình “kinh tế thời chiến” nhiều khả năng sẽ phải điều chỉnh, kéo theo thay đổi về quy mô đầu tư và định hướng phát triển. Đồng thời, khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến, hiệu quả của chương trình thay thế nhập khẩu và mức độ siết chặt kiểm soát xuất khẩu của phương Tây sẽ tiếp tục quyết định tốc độ phát triển của ngành UAV Nga.
Có thể nói, các lệnh trừng phạt quốc tế đã tạo ra một nghịch lý đáng chú ý. Cấm vận không làm Nga từ bỏ tham vọng phát triển UAV, mà trở thành động lực thúc đẩy nước này tái cơ cấu toàn bộ hệ thống nghiên cứu, sản xuất và bảo đảm kỹ thuật. Dù còn nhiều hạn chế về công nghệ lõi, Nga đã chứng minh khả năng duy trì một nền công nghiệp UAV quy mô lớn trong điều kiện bị cô lập tương đối khỏi chuỗi cung ứng phương Tây.
Điều đó cho thấy, trong chiến tranh hiện đại, năng lực huy động nguồn lực công nghiệp và khả năng thích ứng với sức ép bên ngoài có thể quan trọng không kém những đột phá về công nghệ. Cạnh tranh giữa Nga và phương Tây trong lĩnh vực UAV sẽ còn kéo dài, trở thành một trong những mặt trận quyết định của cuộc cạnh tranh công nghệ trong kỷ nguyên chiến tranh không người lái.
Tin Gốc: Dân Trí

Thị trưởng Moscow Sergey Sobyanin tuyên bố quân đội Ukraine đã phóng hàng loạt máy bay không người lái (UAV) về phía Moscow vào rạng sáng nay 26/6, trong bối cảnh Kiev tiếp tục tăng cường các cuộc tấn công nhằm vào thủ đô của Nga.
Theo ông Sobyanin, tính đến 5h45 giờ địa phương, ít nhất 39 máy bay không người lái đã bị bắn hạ khi đang tiếp cận thủ đô Moscow. Đợt máy bay không người lái đầu tiên bắt đầu một giờ trước đó, vào khoảng 2h30.
Hiện chưa có thông tin về việc có mục tiêu nào bị tấn công hay không. Các đội cứu hộ đang đánh giá thiệt hại do mảnh vỡ máy bay không người lái gây ra.
Các cuộc tấn công mới nhất nhằm vào Moscow diễn ra chỉ một tuần sau đợt tấn công bằng máy bay không người lái quy mô lớn nhất của Ukraine vào thủ đô của Nga kể từ đầu xung đột, với thiệt hại lớn tại nhà máy lọc dầu Moscow.
Reuters dẫn nguồn tin cho biết nhà máy lọc dầu lớn nhất của Moscow khó có thể hoạt động trở lại trong năm nay sau khi bị hư hại nặng nề.
Ukraine ngày càng triển khai nhiều máy bay không người lái tự sản xuất để tấn công các mục tiêu sâu bên trong lãnh thổ Nga, đặc biệt là các cơ sở liên quan đến lọc dầu, hậu cần và sản xuất quốc phòng.
Trong bài phát biểu trực tuyến hôm 24/6, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky tuyên bố ông đã "chỉ thị cho các cơ quan tình báo và quân đội hành động phủ đầu chống lại các cơ sở mà Nga sử dụng để mở rộng hoạt động quân sự của họ”.
Tuyên bố được đưa ra trong bối cảnh Ukraine mở rộng các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng năng lượng nhằm gây sức ép buộc Moscow ngồi vào bàn đàm phán.
Vào cuối tuần qua, quân đội Ukraine đã thực hiện một loạt cuộc tấn công mạnh vào các mục tiêu quân sự của Nga tại bán đảo Crimea. Các mục tiêu bao gồm các trạm phân phối ga, cảng dầu, hệ thống phòng không và cơ sở hạ tầng hậu cần.
Ngoài ra, Kiev cũng thực hiện các cuộc tấn công thường xuyên vào ngành nhiên liệu và năng lượng của Nga.
Tổng thống Nga Vladimir Putin đã chỉ thị cho chính phủ và Bộ Quốc phòng Nga thực hiện các biện pháp nhằm giảm thiểu về mức bằng không hậu quả từ các cuộc tấn công của Ukraine vào cơ sở hạ tầng.
"Chúng ta có thể thấy rằng khi tình hình tại mặt trận đang xấu đi nhanh chóng đối với Ukraine và khi đối phương mất dần lãnh thổ này đến lãnh thổ khác, họ đã áp dụng chiến thuật tấn công vào các cơ sở hạ tầng của chúng ta. Họ đang cố gắng làm gián đoạn nguồn cung cấp năng lượng và gây ảnh hưởng đến mùa du lịch", Tổng thống Putin phát biểu tại một cuộc họp trực tuyến ngày 23/6.
Tổng thống Zelensky dẫn thông tin tình báo quân sự cho biết Nga đang biến Moscow thành một "pháo đài" phòng không kiên cố, khi thủ đô của Nga được các hệ thống tên lửa tiên tiến nhất bảo vệ.
Theo ông Zelensky, các hệ thống phòng không S-400 và S-500, với sự hỗ trợ của các hệ thống phòng không Pantsir, đã được triển khai xung quanh khu vực Moscow để bảo vệ thành phố khỏi các mối đe dọa trên không.
Ông Zelensky cho biết Nga đang tập trung thêm các hệ thống phòng không về phía thủ đô Moscow, vùng Valdai, khu vực có nơi ở của các lãnh đạo cao nhất của Nga, và cây cầu bắc qua eo biển Kerch nối bán đảo Crimea và đất liền Nga. Điều này đồng nghĩa với việc Nga phải cắt giảm các hệ thống phòng không ở các hướng khác.
Tin Gốc: Dân Trí

