Gần đây, khi các cảnh báo về an toàn thực phẩm liên tục vang lên, nhiều người thường lập tức nghi ngờ khâu vệ sinh của cửa hàng hoặc chất lượng nguyên liệu. Tuy nhiên, bác sĩ chuyên khoa phục hồi chức năng Vương Tuấn Bình, Trung Quốc, cảnh báo rằng, an toàn thực phẩm không chỉ nằm ở người bán, mà chính những thói quen sinh hoạt hàng ngày đang “khiến thực phẩm trở nên nguy hiểm hơn”.
Bác sĩ Vương Tuấn Bình lưu ý, có những món ăn nếu dùng ngay thì không sao, nhưng chỉ cần để lại một lúc hoặc ăn muộn hơn, rủi ro sẽ bắt đầu tích tụ. Một khi thực phẩm rơi vào “vùng nhiệt độ nguy hiểm” từ 7-60 độ C, chỉ cần để ngoài 1 giờ, lượng vi khuẩn có thể tăng trưởng gấp 8 lần.
“Vùng nhiệt độ nguy hiểm” khiến vi khuẩn sinh sôi
Trên trang cá nhân, bác sĩ Vương Tuấn Bình chia sẻ, rất nhiều người sau khi mua cơm hộp về thường có thói quen để đó, mải mê lướt điện thoại hoặc xử lý công việc rồi mới ăn. Tuy nhiên, ngay khi thức ăn rời khỏi nguồn nhiệt và tiếp xúc với nhiệt độ phòng, chúng sẽ rơi vào “vùng nhiệt độ nguy hiểm” (7-60 độ C).
Trong khoảng nhiệt độ này, các loại vi khuẩn phổ biến (như Salmonella) ở điều kiện phù hợp có thể nhân đôi số lượng sau mỗi 20 phút. Cứ như vậy, sau 1 giờ vi khuẩn tăng khoảng 8 lần, và sau 2 giờ con số này lên tới 64 lần. Nói cách khác, chỉ cần để thực phẩm ở nhiệt độ phòng từ 1 đến 2 giờ, rủi ro đã tăng lên đáng kể.
Thói quen “ủ kín” thực phẩm: Môi trường lý tưởng cho vi khuẩn
Bên cạnh thời gian chờ, trạng thái “ủ kín” còn nguy hiểm hơn. Đồ ăn mang về thường được đóng gói trong các hộp kín hoặc túi nilon. Dù trông có vẻ như đang giữ ấm, nhưng thực tế cách này khiến nhiệt độ giảm xuống rất chậm, khiến thức ăn lưu lại trong vùng nhiệt độ nguy hiểm lâu hơn.
Cộng thêm độ ẩm và không khí không lưu thông, “đây chính là môi trường lý tưởng cho vi khuẩn”, đặc biệt là với các món như cơm hộp, rau xào, trứng hay các sản phẩm từ đậu nành vốn có hàm lượng nước cao. Bác sĩ khuyên nếu chưa ăn ngay, bạn nên mở nắp hộp để hơi nóng thoát ra, tránh để thực phẩm duy trì lâu trong khoảng nhiệt độ từ 30-50 độ C.
Đừng đợi thức ăn nguội hẳn mới cho vào tủ lạnh
Đối với thức ăn thừa, chìa khóa nằm ở “tốc độ làm mát”. Thông thường, thực phẩm không nên để ở nhiệt độ phòng quá 2 giờ (với môi trường nắng nóng là dưới 1 giờ). Thay vì để nguyên nồi lớn, bạn nên chia nhỏ thức ăn vào các hộp đựng để chúng nhanh chóng đạt đến nhiệt độ an toàn. Nếu nhiệt độ ở tâm thực phẩm duy trì mức ấm nóng quá lâu, vi khuẩn vẫn sẽ tiếp tục sinh sôi.
Giải đáp thắc mắc về việc “đồ nóng bỏ trực tiếp vào tủ lạnh có làm hỏng tủ không”, bác sĩ cho biết các dòng tủ lạnh hiện đại đều có cơ chế kiểm soát nhiệt độ tốt, việc thỉnh thoảng cho đồ nóng vào sẽ không làm hỏng tủ. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn, vẫn nên chia nhỏ phần ăn để tăng tốc độ tản nhiệt.
Sai lầm khi nghĩ “đun nóng lại là xong”
Nhiều người chủ quan cho rằng “lát nữa đun nóng lại là không sao”, nhưng bác sĩ Vương Tuấn Bình cảnh báo: một số loại vi khuẩn (như Tụ cầu vàng – Staphylococcus aureus) có thể sản sinh ra độc tố chịu nhiệt. Ngay cả khi bạn đun nóng lại, độc tố vẫn tồn tại. Hơn nữa, nếu hâm nóng bằng lò vi sóng không đều, vi khuẩn vẫn có khả năng sống sót.
Khi hâm nóng lại, nhiệt độ ở tâm thực phẩm phải đạt ít nhất trên 75 độ C. Nên khuấy đều hoặc chia thành nhiều giai đoạn nhiệt để thực phẩm nóng đều hoàn toàn.
Bác sĩ Vương chia sẻ, trong lâm sàng không hiếm trường hợp “phản ứng của cơ thể thường chậm một nhịp”. Thời gian ủ bệnh của ngộ độc thực phẩm thường rơi vào khoảng 6 đến 48 giờ. Nhiều người vài tiếng sau, thậm chí sang ngày hôm sau mới phát triệu chứng, nên hoàn toàn không liên tưởng đến “suất đồ ăn mang về từ hôm qua”. Đây là lý do khiến nhiều người xác định sai nguồn gốc gây bệnh.
Ngoài các vấn đề tiêu hóa cấp tính, người bệnh còn có thể bị mệt mỏi toàn thân, mất nước hoặc mất cân bằng điện giải. Bác sĩ nhấn mạnh: “Vấn đề không nhất thiết xảy ra ngay lúc ăn, mà là kết quả của sự tích tụ dần dần sau đó”.
An toàn thực phẩm không chỉ nằm ở trách nhiệm của nhà hàng, mà còn nằm ở mỗi quyết định của chúng ta sau khi mang đồ ăn về nhà. “Nhiều khi, rủi ro không đến từ những món ăn kỳ lạ, mà đến từ chính những quy trình sinh hoạt rất đỗi quen thuộc hàng ngày”, bác sĩ Vương Tuấn Bình kết luận.
Trên thực tế, nếu ăn đúng cách, nhiều loại trái cây giàu chất xơ, vitamin và chất chống ô xy hóa có thể góp phần kiểm soát cân nặng, giảm viêm và hạn chế tích tụ mỡ trong gan. Do đó, người bị gan nhiễm mỡ không cần phải kiêng hoàn toàn trái cây, theo chuyên trang Eating Well (Mỹ).
Điều quan trọng là cần lựa chọn loại trái cây phù hợp và kiểm soát khẩu phần hợp lý. Những loại trái cây mà người bị gan nhiễm mỡ nên ăn gồm:
Dâu tây, việt quất, mâm xôi hay phúc bồn tử là những loại trái cây ít đường và giàu chất chống ô xy hóa. Nhóm quả này cũng chứa khá nhiều chất xơ. Người có gan nhiễm mỡ được khuyến khích ăn những loại trái cây này.
Ngoài ra, quả mọng còn giàu anthocyanin, một nhóm chất chống ô xy hóa có thể giúp ngăn ngừa ung thư, giảm căng thẳng ô xy hóa và phản ứng viêm trong cơ thể.
Táo và lê là 2 loại trái cây chứa nhiều pectin, một dạng chất xơ hòa tan giúp kiểm soát cholesterol và tạo cảm giác no lâu hơn. Điều này có lợi cho người bị gan nhiễm mỡ đang cần kiểm soát cân nặng.
Bác sĩ Kathleen Viveiros, chuyên gia gan mật tại Bệnh viện Brigham và Women (Mỹ), khuyến khích ăn trái cây nguyên quả thay vì ép lấy nước. Khi ăn nguyên quả, lượng chất xơ vẫn được giữ lại, giúp đường hấp thu chậm hơn và hạn chế tăng insulin đột ngột.
Đặc biệt, vỏ táo chứa nhiều polyphenol và flavonoid, các hợp chất chống ô xy hóa có lợi cho sức khỏe chuyển hóa. Vì vậy, nếu có thể, nên rửa sạch và ăn cả vỏ để tận dụng thêm chất xơ tự nhiên.
Kiwi là loại trái cây có chỉ số đường huyết tương đối thấp nhưng lại chứa nhiều vitamin C, kali và chất xơ. Đây là lựa chọn phù hợp cho người cần kiểm soát cân nặng và đường huyết.
Nhờ lượng chất xơ khá cao, kiwi tạo cảm giác no lâu hơn, từ đó hạn chế ăn quá nhiều trong các bữa chính hoặc ăn vặt không cần thiết. Điều này góp phần kiểm soát lượng calo nạp vào, vốn là yếu tố quan trọng giúp cải thiện gan nhiễm mỡ.
Với một số trái cây ngọt đậm như xoài chín, sầu riêng, nhãn hay vải, người bị gan nhiễm mỡ không phải kiêng hoàn toàn. Tuy nhiên, họ cần kiểm soát khẩu phần, đặc biệt ở người thừa cân, tiền tiểu đường hoặc tiểu đường loại 2, theo Eating Well.
Làm việc tại một trung tâm hỗ trợ bạo lực gia đình, Lan, 36 tuổi, từng đồng hành với nhiều phụ nữ và trẻ em vượt qua sang chấn. Mười giờ mỗi ngày, chuyên gia ngồi lắng nghe những điều không thể nói với ai khác. Một người phụ nữ với vết bầm chưa kịp tan. Một đứa trẻ không còn dám ngủ một mình. Trường hơn khác đang nghĩ đến chuyện "kết thúc tất cả" vì không thể chịu đựng những đau khổ dày vò.
Trong giai đoạn thiếu nhân sự, Lan tiếp nhận đến 10 ca trị liệu liên tiếp mỗi ngày. Những câu chuyện chất chồng không có lối thoát. Chị bắt đầu sợ đám đông, mất ngủ, thường xuyên gặp ác mộng mang hình ảnh của thân chủ. Lo âu kéo dài suốt hai năm. Người phụ nữ tự áp dụng mọi phương pháp từng hướng dẫn người khác đọc sách, chánh niệm, thiết lập ranh giới cảm xúc nhưng không có gì hiệu quả.
Những gì chuyên gia tâm lý trải qua được khoa học gọi tên là kiệt sức vì thấu cảm, hay "compassion fatigue". Đây không phải trạng thái tâm lý mơ hồ. Nghiên cứu đăng trên tạp chí Traumatology chỉ ra hơn 50% chuyên gia làm việc với nạn nhân sang chấn có biểu hiện của kiệt sức thấu cảm ở mức độ trung bình đến nặng. Với những người làm việc trong lĩnh vực bạo lực gia đình hoặc chăm sóc tâm thần cường độ cao, tỷ lệ này còn cao hơn đáng kể.
Theo Bộ Y tế, khoảng 15 triệu người Việt Nam đang mắc các rối loạn tâm thần phổ biến. Trầm cảm cùng chứng lo âu chiếm tỷ lệ cao nhất. Trong khi đó, cả nước chỉ có khoảng 1.000 bác sĩ tâm thần. Tỷ lệ gần một bác sĩ trên 100.000 dân này thấp hơn nhiều so với mức trung bình 3,96 mà Tổ chức Y tế Thế giới ghi nhận năm 2022.
Sự thiếu hụt nhân lực y khoa tuyến trên vô tình đẩy các chuyên gia tâm lý trở thành cửa ngõ tiếp nhận bệnh nhân. Khối lượng công việc khổng lồ dẫn đến hội chứng kiệt sức vì thấu cảm. Báo cáo từ Hiệp hội Tâm lý học Mỹ (APA) chỉ ra thực trạng đáng báo động khi có tới 45% chuyên gia trị liệu từng trải qua các triệu chứng kiệt sức nghề nghiệp, một con số cho thấy nguy cơ đứt gãy của hệ thống phòng vệ tuyến đầu.
"Khoảng trống nhân lực đó dồn gánh nặng xuống tầng chuyên gia tâm lý và tham vấn viên ở tuyến tiếp cận ban đầu. Họ trở thành 'cửa ngõ' đầu tiên mà người dân tìm đến khi gặp khủng hoảng tinh thần, nhưng lại là nhóm ít được bảo vệ nhất trong hệ thống", TS.BS Ngô Thị Thanh Hương, cố vấn cao cấp và đồng sáng lập dự án Safe and Sound thuộc Viện Ứng dụng Công nghệ Y tế, nói.
Áp lực đó còn đi kèm rủi ro chuyên môn. TS Hương chỉ ra rằng nhiều ca ban đầu trông như stress thông thường hoặc kém thích nghi, nhưng thực chất đang ở giai đoạn sớm của rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu nặng, thậm chí loạn thần.
"Nếu thiếu kiến thức nền tảng về tâm thần, người làm chuyên môn rất dễ bỏ sót tín hiệu quan trọng hoặc đánh giá thấp mức độ nguy cơ", bà nói. Sai lầm đó không chỉ ảnh hưởng đến thân chủ mà còn tích lũy thành gánh nặng tâm lý ngược chiều lên chính người trị liệu.
Một vấn đề khác là sự thiếu thống nhất ngôn ngữ chuyên môn giữa tâm lý học và tâm thần học, làm giảm hiệu quả phối hợp ở các ca cần kết hợp trị liệu tâm lý và dùng thuốc. ThS.BS Nguyễn Văn Công, Viện trưởng Viện Ứng dụng Công nghệ Y tế, cho rằng xu hướng đào tạo hiện nay cần dịch chuyển mạnh hơn theo hướng thực hành, tăng phân tích ca bệnh và phối hợp đa chuyên khoa, nhằm thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn lâm sàng. Ông cho rằng người làm tâm lý tuyến đầu không chỉ cần kiến thức nền mà còn phải biết khi nào cần chuyển tuyến và cách phối hợp với bác sĩ tâm thần trong từng tình huống cụ thể.
Nhưng tất cả giải pháp hệ thống đó đều có một điều kiện tiên quyết là bản thân người làm nghề phải còn đủ sức để ở lại. Chị Lan cuối cùng đã tìm đến một đồng nghiệp để được trị liệu. Ngày đầu tiên ngồi ở vị trí của người cần được hỗ trợ, chị bật khóc. Không phải vì đau, mà vì nhẹ nhõm khi được tháo bỏ "chiếc mặt nạ" của người luôn phải mạnh mẽ.
Sau thời gian nghỉ ngơi, thiết lập lại ranh giới công việc và tiếp tục trị liệu, chị dần lấy lại thăng bằng để trở về với nghề. Với Lan, bài học không nằm ở kỹ thuật hay lý thuyết nào.
"Người làm công tác hỗ trợ tâm lý chỉ có thể đi đường dài cùng người khác khi biết chăm sóc chính sức khỏe tinh thần của mình", chuyên gia tâm sự.
Bác sĩ chuyên khoa 1 Đỗ Anh Tuấn, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện đa khoa Tâm Anh TP.HCM, cho biết thời điểm nhập viện, bà H. rơi vào trạng thái sốc mất máu, huyết áp chỉ còn 82/47 mmHg (bình thường khoảng 110/70 - 120/80 mmHg), da và niêm mạc nhợt nhạt.
Kết quả chụp CT bụng cho thấy một khối u mạch cơ mỡ (AML) ở thận phải vỡ, tạo thành khối máu tụ 40 x 90 mm trong khoang sau phúc mạc, chèn ép niệu quản và tĩnh mạch chủ dưới. Ngoài ra, thận trái của người bệnh cũng ghi nhận có khối u tương tự.
Bà H. từng được bác sĩ chẩn đoán có khối u ở thận nửa năm trước. Tuy nhiên, vì là u lành nên được chỉ định điều trị nội khoa bằng thuốc và theo dõi định kỳ, chưa can thiệp. Dù vẫn đang tuân thủ lộ trình tái khám, khối u bất ngờ gặp biến chứng vỡ, khiến bà rơi vào tình trạng nguy kịch.
Cùng với đó, kết quả chụp mạch máu số hóa xóa nền (DSA) phát hiện một nhánh động mạch nuôi khối u ở thận phải có túi giả phình kích thước 9 x 7 mm (tình trạng rò rỉ máu ra ngoài thành động mạch và tạo khối máu tụ) được bao bọc bởi các mô xung quanh. “Đây là nguyên nhân chính gây tình trạng mất máu, tiềm ẩn nguy cơ vỡ mạch cao, cần phải can thiệp ngay lập tức”, bác sĩ Tuấn nhận định, và cho biết thêm rằng người bệnh có tiền sử mắc nhiều bệnh nền như: tim thiếu máu cục bộ mạn tính, tăng huyết áp, tiểu đường loại 2 và loét dạ dày, gây nhiều thách thức khi can thiệp.
Do sốc mất máu, người bệnh yếu không thể phẫu thuật ngay, bác sĩ quyết định can thiệp nút động mạch chọn lọc để cầm máu nhanh nhất. Một ống thông được luồn qua động mạch chủ đùi của người bệnh đến nhánh động mạch bị tổn thương, từ đó bơm chất gây tắc mạch để cầm máu và chặn nguồn máu nuôi u.
Sau 2 tiếng can thiệp (gấp rưỡi thời gian thông thường vì tổn thương phức tạp, người bệnh lớn tuổi), tình trạng chảy máu được kiểm soát mà không cần phải cắt bỏ thận, giúp bảo tồn tối đa chức năng thận cho người bệnh.
Do mất lượng máu lớn trước đó, sau can thiệp, bà H. phải truyền tổng cộng 4 đơn vị hồng cầu lắng để bổ sung. Ngoài ra, người bệnh còn gặp các biến chứng viêm phổi, thở khò khè, ho đàm xanh và nhiễm trùng tiết niệu. Các bác sĩ phối hợp sử dụng kháng sinh phổ rộng liều cao cùng các thuốc hỗ trợ tim mạch, ổn định đường huyết và huyết áp để kiểm soát.
Sau 2 tuần điều trị tích cực, sức khỏe bà H. hồi phục nhanh chóng. Kết quả siêu âm và chụp CT cho thấy khối máu tụ đã ổn định, không tăng kích thước, dự kiến tan hết sau 3 tháng. Tình trạng viêm phổi được kiểm soát, các chỉ số sinh hiệu trở về mức an toàn. Bà H. xuất viện trong trạng thái tỉnh táo, ăn uống tốt và không còn đau bụng.
Sau 1 tháng, bà H. tái khám tại bệnh viện và được chỉ định phẫu thuật u thận bằng robot Da Vinci Xi. Từ đường mổ nhỏ chỉ khoảng 1 cm, bác sĩ điều khiển cánh tay robot linh hoạt, dưới sự dẫn đường của hệ thống camera 3D tiếp cận tổn thương trong khoang bụng, tỉ mỉ bóc tách khối u khỏi thận và lấy sạch mô hoại tử, vừa cắt vừa cầm máu, sau đó khâu phục hồi nhu mô thận nhanh chóng chỉ trong 2 giờ đồng hồ.
Theo bác sĩ Tuấn, u mạch cơ mỡ thận thường là u lành tính, nhưng nếu kích thước u lớn (hơn 4 cm), hoặc có giả phình mạch máu bên trong sẽ rất dễ vỡ gây xuất huyết nội, người bệnh tử vong nhanh vì mất máu.
Bác sĩ khuyến cáo, những người có khối u thận nên đi thăm khám định kỳ mỗi 6 - 12 tháng để theo dõi u tiến triển, kịp thời phát hiện các tình trạng bất thường. Nếu có triệu chứng đau hông lưng đột ngột, tiểu ra máu hoặc chóng mặt, cần đến bệnh viện tầm soát và điều trị, tránh những biến chứng nguy hiểm.