Mới đây, Bệnh viện Da liễu trung ương tiếp nhận một nữ bệnh nhân 50 tuổi, đến khám do xuất hiện nhiều vết đỏ bong vảy toàn thân và ngứa rất nhiều.
Bệnh diễn biến 2 năm nay, khởi phát xuất hiện dát đỏ (“dát” là thuật ngữ y khoa, chỉ những vùng da thay đổi màu sắc mà không bị gồ lên hoặc lõm xuống so với vùng da xung quanh), bề mặt bong vảy mỏng. Người bệnh đã đi khám nhiều nơi, sử dụng rất nhiều loại thuốc bôi mua qua mạng hoặc mua ở hiệu thuốc mà không có đơn thuốc.
Ngoài ra bệnh nhân còn tắm lá, uống thuốc nam, thuốc bắc hằng ngày, nhưng tổn thương không đỡ mà còn lan rộng ra toàn thân.
Qua thăm khám, bác sĩ phát hiện tổn thương cơ bản của bệnh nhân là các dát đỏ hình đa cung, ranh giới rõ với da lành, trung tâm tổn thương lành, bề mặt bong vảy mỏng dính lan tỏa đầu, mặt, tay chân, thân mình.
Xét nghiệm soi tươi tìm nấm ở vùng tay chân, thân mình phát hiện có hình ảnh nấm sợi. Bệnh nhân được chẩn đoán nấm da toàn thân, được điều trị thuốc uống và bôi thuốc kháng nấm tại chỗ.
Sau 3 ngày điều trị, tình trạng của bệnh nhân đã cải thiện tốt, các tổn thương da đã thâm lại, đỡ đỏ, không còn bong vảy da và tiếp tục điều trị theo phác đồ tại bệnh viện.
ThS Dương Phúc Hiếu, khoa điều trị bệnh da phụ nữ và trẻ em, Bệnh viện Da liễu trung ương, cho biết bệnh da do nấm sợi (dermatophytes) là tình trạng nhiễm nấm nông ngoài da, bao gồm nấm thân, nấm mặt, nấm bẹn, nấm bàn tay và nấm bàn chân.
Việc chẩn đoán chủ yếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm soi tươi tìm nấm. Tùy theo mức độ bệnh, bác sĩ có thể chỉ định thuốc bôi, thuốc uống đơn thuần hoặc kết hợp cả hai.
Bệnh thường đáp ứng điều trị khá tốt sau 1-2 tuần. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc không đúng cách có thể khiến tình trạng bệnh trở nên nghiêm trọng hơn và kéo dài thời gian điều trị.
Theo bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Thùy, Trưởng khoa điều trị bệnh da phụ nữ và trẻ em, hiện nay cùng với sự phát triển của các sàn thương mại điện tử, người dân rất dễ dàng tiếp cận nhiều loại thuốc bôi với những lời quảng cáo có cánh như: “Khỏi nấm sau 3 ngày”, “Dứt điểm chàm, tổ đỉa chỉ sau một lần bôi”, “Kem gia truyền 3 đời”…
Chính vì vậy, bệnh viện tiếp nhận rất nhiều bệnh nhân đến phòng khám trong tình trạng da trợt loét, sẩn đỏ và ngứa nhiều không thể kiểm soát. Hầu hết các loại thuốc bôi không rõ nguồn gốc hoặc thuốc tự pha trộn (kem trộn) thường chứa corticoid hàm lượng cao.
Giai đoạn đầu da hết ngứa rất nhanh, mẩn đỏ biến mất khiến người bệnh lầm tưởng đã khỏi. Thực tế corticoid chỉ làm ức chế miễn dịch tại chỗ, khiến nấm không bị tiêu diệt mà còn “nuôi” nấm phát triển âm thầm.
Các bác sĩ cũng khuyến cáo việc bôi các loại thuốc không rõ nguồn gốc, sử dụng kéo dài mà không có chỉ định của bác sĩ trên vùng da nhiễm nấm có thể khiến người bệnh phải đối mặt với nhiều biến chứng nặng nề.
Đáng lo ngại nhất là tình trạng nhiễm nấm sau bôi steroid, khi tổn thương không còn hình dạng điển hình, âm thầm lan rộng ra toàn thân và xâm nhập sâu vào nang lông, khiến việc điều trị về sau trở nên khó khăn hơn rất nhiều.
Không chỉ vậy, lạm dụng các chế phẩm chứa corticoid còn gây teo da, khiến da mỏng như giấy, lộ rõ mạch máu và xuất hiện các vết rạn không thể phục hồi. Khi hàng rào bảo vệ da bị suy yếu, vi khuẩn dễ dàng xâm nhập, gây bội nhiễm với biểu hiện mưng mủ, viêm loét, thậm chí có nguy cơ dẫn đến nhiễm trùng máu.
Bên cạnh đó có thể dẫn đến tình trạng lệ thuộc thuốc, khi ngưng bôi, bệnh không những không khỏi mà còn bùng phát dữ dội, gây ngứa ngáy, khó chịu kéo dài.
Theo các bác sĩ, nếu đã lỡ sử dụng thuốc sai cách, người bệnh cần xử trí sớm để hạn chế tổn thương lan rộng. Trước hết, cần ngừng ngay các loại thuốc đang sử dụng, chấp nhận cảm giác khó chịu trong thời gian ngắn để cắt đứt sự lệ thuộc.
Việc lưu lại hình ảnh nhãn thuốc (nếu có) cũng rất quan trọng, giúp bác sĩ xác định thành phần đã sử dụng và đưa ra hướng xử lý phù hợp.
Người bệnh nên đến khám tại cơ sở chuyên khoa da liễu để được chẩn đoán chính xác và điều trị theo phác đồ, thường bao gồm thuốc kháng nấm đường uống kết hợp với các sản phẩm bôi phục hồi da chuyên sâu.
Công ty TNHH một thành viên sản xuất và thương mại mỹ phẩm Nhật Việt (trụ sở tại TP HCM) chịu trách nhiệm sản xuất và phân phối loại mỹ phẩm này. Cơ quan chức năng yêu cầu doanh nghiệp phải khẩn trương rút lô hàng số 04 (sản xuất ngày 15/9/2023, hạn sử dụng 15/9/2028) khỏi thị trường và nộp báo cáo kết quả xử lý trước ngày 18/6. Đây là sản phẩm được bán nhiều tại các cơ sở và nền tảng thương mại điện tử, giá khoảng trên 40 nghìn đồng mỗi tuýp.
Trước đó, Trung tâm Kiểm nghiệm thuộc Sở Y tế tỉnh Thanh Hóa tiến hành lấy mẫu kiểm tra tại một công ty dược phẩm và phát hiện lô sữa rửa mặt nêu trên không đáp ứng ngưỡng pH an toàn. Cơ quan quản lý nhấn mạnh độ pH thể hiện tính axit hoặc kiềm của hàng hóa, đóng vai trò quyết định trong việc bảo vệ da. Da người bình thường duy trì độ pH ở mức 4,5-5,5, do đó các nhà sản xuất cần điều chế sản phẩm làm sạch bám sát mốc này để tránh gây hại cho người tiêu dùng.
Việc doanh nghiệp tung ra thị trường sữa rửa mặt có độ pH vượt ngưỡng hoặc dưới chuẩn sẽ trực tiếp phá hủy hàng rào bảo vệ da người dùng. Khách hàng sử dụng có nguy cơ cao đối mặt với tình trạng khô da, căng rát, bong tróc hoặc kích ứng mạnh, đặc biệt nguy hiểm đối với nhóm người sở hữu làn da nhạy cảm. Về lâu dài, hóa mỹ phẩm kém chất lượng làm mất cân bằng hệ vi sinh tự nhiên, khiến da người dùng dễ nổi mụn và viêm nhiễm nặng hơn.
Hiện, Cục Quản lý Dược giao Sở Y tế TP HCM trực tiếp giám sát quá trình công ty Nhật Việt thu hồi, tiêu hủy lô hàng vi phạm. Song song, Sở Y tế TP HCM cũng nhận nhiệm vụ thanh tra việc doanh nghiệp này chấp hành các quy định pháp luật về quản lý mỹ phẩm hiện hành.
Từ đầu năm đến nay, Bộ Y tế liên tục thu hồi, tiêu hủy các sản phẩm kém chất lượng. Mới nhất, 779 sản phẩm kem dưỡng, chống nắng, sữa rửa mặt bị thu hồi toàn quốc do không đáp ứng tiêu chuẩn sản xuất. Động thái này diễn ra trong bối cảnh cơ quan quản lý đang siết chặt kiểm soát thị trường dược, mỹ phẩm trước vấn nạn hàng giả, hàng kém chất lượng và quảng cáo sai sự thật.
Trên thực tế, chôm chôm vẫn chứa đường tự nhiên nên có thể làm tăng lượng đường glucose máu. Tuy nhiên, mức ảnh hưởng còn phụ thuộc vào lượng ăn, độ chín và cách kết hợp thực phẩm trong bữa ăn. Nếu ăn hợp lý, chôm chôm vẫn có thể nằm trong chế độ ăn lành mạnh mà không gây ảnh hưởng quá lớn đến đường huyết, theo chuyên trang Eating Well (Mỹ).
Chôm chôm dù có thể làm đường huyết tăng lên sau ăn nhưng mức tăng này thường không quá mạnh như các món chứa đường tinh luyện, chẳng hạn nước ngọt, bánh kẹo hay trà sữa.
Chôm chôm có chỉ số đường huyết từ 42 đến 59, tùy theo giống và độ chín. Do đó, đây được xem là loại trái cây có chỉ số đường huyết ở mức thấp đến trung bình. Tuy nhiên, chỉ số đường huyết không phải yếu tố duy nhất quyết định mức tăng đường huyết sau ăn. Điều quan trọng còn nằm ở lượng ăn.
Dù có chỉ số đường huyết không quá cao, chôm chôm vẫn chứa lượng đường tự nhiên đáng kể. Nếu ăn quá nhiều trong thời gian ngắn, tổng lượng đường nạp vào cơ thể sẽ tăng mạnh.
Ngoài ra, chất xơ trong chôm chôm chỉ có tác dụng làm chậm hấp thu đường ở mức nhất định. Nếu ăn quá nhiều, lượng đường vẫn có thể vượt quá khả năng kiểm soát của cơ thể, đặc biệt ở người có tình trạng kháng insulin hoặc tiểu đường.
Độ chín của trái cũng ảnh hưởng đến đường huyết. Chôm chôm càng chín ngọt thì lượng đường càng cao. Vì vậy, ăn nhiều chôm chôm chín có thể khiến glucose máu tăng nhanh hơn. Bên cạnh đó, ăn chôm chôm lúc bụng đói cũng dễ làm đường hấp thu nhanh hơn so với khi ăn sau bữa chính.
Người tiểu đường không nhất thiết phải kiêng hoàn toàn chôm chôm. Nhiều hướng dẫn dinh dưỡng hiện nay cho rằng người tiểu đường vẫn có thể ăn chôm chôm nhưng với lượng vừa phải.
Nếu muốn ăn chôm chôm mà vẫn kiểm soát đường huyết tốt thì nên chú ý cách ăn. Ăn chôm chôm sau bữa ăn chính sẽ giúp làm chậm tốc độ hấp thu đường hơn so với ăn lúc đói.
Không nên ăn quá nhiều chôm chôm trong một lần, đặc biệt khi bụng đói. Kết hợp chôm chôm với thực phẩm giàu protein hoặc chất béo lành mạnh, chẳng hạn sữa chua không đường, hạt hoặc trứng, cũng có thể giúp làm chậm hấp thu glucose. Sau khi ăn trái cây ngọt, vận động nhẹ như đi bộ cũng có thể giúp cơ thể sử dụng glucose hiệu quả hơn, theo Eating Well.
Bệnh nhân nữ N.T.H. (46 tuổi, Hà Nội) nhập viện trong tình trạng đau tức bụng kéo dài, sụt cân nhanh. Bụng phình to như mang bầu 9 tháng khiến việc ăn uống trở nên khó khăn, mỗi bữa ăn đều là nỗi ám ảnh do cảm giác căng tức bụng dai dẳng.
Đáng nói, không phải lần đầu bệnh nhân đối mặt với căn bệnh này. Cách đây 4 năm, người bệnh từng được phẫu thuật cắt bỏ một khối u tương tự nặng khoảng 6kg.
Tại Bệnh viện Đa khoa Phương Đông, PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc ngoại khoa bệnh viện - cho hay bệnh nhân được xác định bị Liposarcoma tái phát ổ bụng, kích thước rất lớn lên đến 30x25cm, trọng lượng 5kg.
Đây là một trong những dạng ung thư mô mềm nguy hiểm và phức tạp nhất của ổ bụng sau phúc mạc, có đặc điểm phát triển âm thầm trong thời gian dài, dễ tái phát và thường dính chặt vào các cơ quan, mạch máu quan trọng.
Thách thức lớn nhất của ca bệnh đến từ tình trạng dính phức tạp do cuộc mổ trước đó. Khối u dính chặt do mổ cũ, ôm chặt thận và niệu quản bên phải, đẩy hoàn toàn tụy, tá tràng, ruột non và đại tràng sang phải; đồng thời dính rất chắc vào thành bụng sau và tĩnh mạch chủ dưới.
Bên cạnh đó, hệ thống mạch máu tăng sinh dày đặc cùng nhiều thùy u len lỏi sâu trong khoang sau phúc mạc, đòi hỏi ê kíp phải hết sức tỉ mỉ để bóc tách trọn vẹn khối u mà vẫn bảo toàn các mô và cơ quan xung quanh.
Ca phẫu thuật kéo dài 4 giờ 30 phút, nhờ sự phối hợp nhịp nhàng, chủ động kiểm soát mạch máu và cầm máu hiệu quả, toàn bộ khối u đã được lấy ra trọn vẹn. Hiện bệnh nhân đã tỉnh táo, sức khỏe ổn định và đang được theo dõi, chăm sóc hậu phẫu tích cực.
Theo các bác sĩ, Liposarcoma là loại ung thư mô mềm có khả năng phát triển âm thầm trong thời gian dài mà không gây triệu chứng rõ rệt. Người bệnh thường chỉ cảm thấy bụng to dần, nặng bụng, ăn nhanh no hoặc khó thở nhẹ - những dấu hiệu dễ bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn với các vấn đề tiêu hóa thông thường.
Bác sĩ Tuấn cho hay ổ bụng có khả năng giãn nở rất lớn, vì vậy không hiếm trường hợp khối u phát triển tới 10-20kg mới được phát hiện. Khi khối u lớn lên, nó không chỉ chiếm chỗ mà còn chèn ép các cơ quan quan trọng, dẫn đến nguy cơ suy kiệt, tắc ruột, suy thận hoặc suy hô hấp.