Năm 2016, Christine Marie, chuyên gia về tâm lý học giáo phái, cùng chồng là nhà sản xuất video âm nhạc Tolga Katas lái xe từ nhà ở Las Vegas đến cộng đồng Short Creek biệt lập ở Colorado City, bang Arizona. Mục đích của họ là thâm nhập và kết bạn với các thành viên giáo phái Fundamentalist Church of Jesus Christ of Latter-day Saints (FLDS).
Thời điểm đó, giáo phái đa thê khét tiếng này đang chao đảo sau khi người lãnh đạo của họ, nhà tiên tri tự xưng Warren Jeffs, và một số tín đồ nam bị bỏ tù vào năm 2011 vì quan hệ tình dục với những “người vợ” vị thành niên.
Chính quyền đang trong quá trình tịch thu tài sản thuộc sở hữu của FLDS và trục xuất các gia đình đã sinh sống ở đó qua nhiều thế hệ suốt gần một thế kỷ.
Christine Marie, từng trải qua cuộc hôn nhân bạo hành với người chồng tự xưng là tiên tri, quyết định đến Colorado City để giúp đỡ cộng đồng FLDS tại đây, còn Tolga Katas định thực hiện một bộ phim tài liệu về cộng đồng này.
Sau thời gian đầu bị xa lánh vì là người ngoài, vợ chồng Christine dần giành được sự tin tưởng của họ.
Cặp đôi gặp gỡ những phụ nữ đang gặp khó khăn, cung cấp viện trợ nhân đạo và giúp họ khởi nghiệp, phát triển kinh doanh để kiếm tiền nuôi sống gia đình. Một số thành viên của cộng đồng biệt lập này dần cho phép cặp đôi ghi hình các hoạt động thường nhật và các buổi tụ họp xã hội của họ để làm phim tài liệu.
Nhưng mục đích của vợ chồng Christine thay đổi khi gặp Sam Bateman – kẻ tự xưng là nhà tiên tri mới, kế thừa tinh thần của Warrren và khôi phục chế độ đa thê.
Thâu tóm quyền lực
Trong nhiều năm, giáo phái FLDS dường như không có người lãnh đạo sau khi Warren Jeffs bị kết án tù chung thân vì tội lạm dụng trẻ em. Trong giáo phái này, chỉ “nhà tiên tri” được phép cử hành hôn lễ.
Thời gian đầu, Warren vẫn tiếp tục gửi chỉ thị cho những tín đồ từ trong tù. Tuy nhiên, theo thời gian, quyền lực của ông ta suy yếu, cộng đồng FLDS chia rẽ thành các nhóm đối lập.
Năm 2019, Sam Bateman, 43 tuổi, vốn là thành viên cấp thấp của FLDS, loan tin rằng nhận được phán truyền trực tiếp từ Chúa, tuyên bố Warren đã đánh mất ân sủng và hắn được chọn làm lãnh đạo thay thế.
Sam bắt đầu thuyết giảng, thực hiện các nghi lễ và thu thập tín đồ. Để thiết lập quyền lực, hắn cưới hơn 20 người vợ theo tục đa thê gắn liền với vị trí lãnh đạo trong FLDS. Khi số lượng tín đồ tăng lên, Sam hoàn toàn tách khỏi nhóm FLDS chính và thành lập nhánh riêng. Hắn chỉ đạo các tín đồ sống ở đâu, kết hôn với ai và phải thực hành đức tin thế nào.
Theo Bộ Tư pháp Mỹ, từ năm 2019, Sam thuyết phục những tín đồ giao con gái của họ cho hắn làm vợ, tổng cộng khoảng 15 bé gái. Ít nhất 10 bé gái đã bị lạm dụng, một số chỉ mới 9 tuổi. Công tố viên cho biết Sam tấn công tình dục các bé gái và ép buộc chúng quan hệ với đàn ông khác, đồng thời phát trực tiếp video lạm dụng cho tín đồ.
Sam đối xử với “vợ” như tài sản riêng, kiểm soát chặt chẽ hành vi của họ trong khi tiếp tục bóc lột họ.
Hồ sơ tòa án cho thấy Sam sử dụng các giáo lý và nghi lễ tôn giáo để biện minh cho hành vi lạm dụng. Công tố viên cho biết hắn nói với tín đồ rằng những hành vi đó là do Chúa yêu cầu và sử dụng nỗi sợ hãi về sự trừng phạt tâm linh để duy trì quyền kiểm soát.
Thâm nhập tìm chứng cứ
Sau khi phát hiện đường dây lạm dụng tình dục trẻ em trong giáo phái của Sam, vợ chồng Christine quyết định trở thành người cung cấp thông tin cho FBI. “Tôi biết mình phải làm mọi cách để đưa hắn vào tù”, bà Christine nói.
Để lấy lòng tin của Sam, Christine và Tolga đồng ý quay phim hắn thực hiện những pha mạo hiểm như chạy bộ trên địa hình núi và lái môtô địa hình. Sam từng nói với cặp đôi rằng hy vọng một ngày nào đó sẽ “cai trị Bắc – Nam Mỹ và có lẽ cả nước Anh”.
Sam luôn mặc chiếc áo khoác da màu trắng bóng bẩy và lái Bentley, khao khát được chú ý. Hắn mở cửa đón cặp đôi, cho phép họ quay phim nhà riêng, các buổi tụ họp và những tương tác của hắn với tín đồ.
Vợ chồng Christine lặng lẽ thu thập bằng chứng khi Sam ngày càng mất cảnh giác và thoải mái hơn với họ.
Sam thường xuyên mời vợ chồng Christine đến ăn tối tại nhà, nơi có tới 22 phụ nữ và bé gái cùng ở trong một phòng ngủ. Tin rằng cặp đôi đang quay phim tài liệu về mình, Sam đã tiết lộ một số bí mật gây bất lợi cho bản thân, bao gồm lời thú nhận gây sốc về việc lạm dụng tình dục những người vợ vị thành niên và việc chỉ đạo một tín đồ quan hệ tình dục với bé gái 13 tuổi.
Kinh hoàng trước những bí mật Sam tiết lộ, vợ chồng Christine mạnh dạn thâm nhập điều tra như những thám tử nghiệp dư. Lấy cớ thực hiện dự án phim tài liệu, năm 2021, cặp đôi bắt đầu ghi lại quá trình trỗi dậy của nhà tiên tri mới đầy tham vọng quyền lực và hành vi lạm dụng tình dục trẻ em gái của hắn.
Trong đoạn video tháng 11/2021, Sam mô tả một nghi lễ “Chuộc tội”, trong đó hắn ra lệnh cho tín đồ quan hệ tình dục với ba người vợ vị thành niên của mình trong khi hắn quan sát. Khi kể câu chuyện này, Sam còn cố gắng mô tả nỗi đau đớn và khổ sở phải trải qua.
Christine đã giao video cho cơ quan thực thi pháp luật địa phương, rồi chuyển cho các cơ quan liên bang. Cặp đôi làm việc với FBI trong nhiều tháng, tham gia dàn dựng đột kích bằng cách sắp xếp cuộc gặp với Sam dưới vỏ bọc quay phim.
Sam cùng một số tín đồ bị bắt vào tháng 9/2022.
Sau khi Sam bị bắt, các bé gái được đặt dưới sự bảo vệ của chính quyền. Hai tháng sau, Sam âm mưu với các tín đồ để bắt cóc 8 bé gái khỏi nơi trú ẩn, đưa qua ba tiểu bang trước khi lực lượng thực thi pháp luật tìm thấy các nạn nhân.
Tháng 4/2024, Sam nhận tội âm mưu bắt cóc và vận chuyển trẻ vị thành niên để thực hiện hành vi tình dục. Hắn bị kết án 50 năm tù và bị quản chế suốt đời. 11 tín đồ của Sam cũng bị kết tội liên quan đến âm mưu lạm dụng tình dục trẻ em, mức án nặng nhất là tù chung thân.
Nỗ lực thoát ‘bóng ma quá khứ’
Những người sinh ra trong cộng đồng FLDS thường bị cô lập khỏi thế giới bên ngoài, không có internet, không xem truyền hình hay tin tức. Điều này khiến việc thoát khỏi tư duy cũ để nhìn nhận mọi thứ bên ngoài cái hộp khép kín mà FLDS tạo ra trở nên vô cùng khó khăn.
Sau khi Sam bị bắt giam, Naomi “Nomz” Bistline, hiện 27 tuổi, một trong những vợ cũ của Sam, thấy cuộc sống đảo lộn. “Khi ông ta bị bắt, thật kinh hoàng, chúng tôi không biết phải nghĩ gì hay làm gì”, Naomi nói.
Naomi vốn được người giám hộ giới thiệu đến giáo phái FLDS của Sam, bị dụ dỗ gia nhập nhóm. Cô bị huấn luyện theo kiểu tẩy não: “không được nghi ngờ quyền lực, không được có tư duy phản biện và phải vâng lời tuyệt đối”.
Naomi trở thành một trong những người vợ của Sam vào năm 2019, cầm đầu nhóm “vợ” bênh vực hành vi lạm dụng của hắn. Cô đứng về phía Sam, từ chối tin vào những cáo buộc, nghe lời hắn nói dối khi bị thẩm vấn, do được nuôi dạy rằng chính phủ luôn tìm cách hãm hại họ và chỉ được tin vào nhà tiên tri.
Dẫu vậy, Naomi lại chính là người đầu tiên kể cho vợ chồng Christine sự thật về các hoạt động phi pháp của Sam. Cô cũng là một trong hai người vợ trưởng thành đồng ý ra làm chứng chống lại Sam tại tòa.
Naomi và hai người vợ khác của Sam bị phạt hơn một năm tù vì tham gia vụ bắt cóc các bé gái. Trong thời gian ngồi tù, Naomi bắt đầu thoát khỏi sự kìm kẹp. Khi buộc phải tự suy nghĩ, cô dần nhận ra toàn bộ cuộc đời mình là một lời dối trá. “Lớn lên trong môi trường đó, bạn không được phép đặt câu hỏi. Giờ đây tôi suy nghĩ khác hẳn”, Naomi nói.
Trong khi một số người vợ vẫn coi Sam là nhà tiên tri, Naomi đã rời bỏ FLDS và đang theo đuổi ước mơ làm ca sĩ. Cô coi vợ chồng Christine là cha mẹ đỡ đầu.
“Tôi hy vọng vụ án này sẽ phơi bày khả năng tàn phá khủng khiếp của những kẻ lạm dụng tôn giáo đối với cá nhân và cộng đồng. Đây không chỉ là chuyện xảy ra ở thị trấn này. Có những người đàn ông như vậy ở mọi thị trấn”, bà Christine, 65 tuổi, nói.
Ngày 13/5, Tòa án nhân dân TP Hà Nội tuyên phạt Nguyễn Thị Dương (SN 1983, ở Hà Nội) tù chung thân về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Theo cáo trạng, do cần tiền chi tiêu cá nhân, Dương đã dựng vỏ bọc là nhân viên, đại lý cấp 1 của các công ty thuốc lá, đồng thời giới thiệu có quan hệ với lãnh đạo doanh nghiệp có thể mua hàng với mức chiết khấu cao hơn thị trường.
Để tạo niềm tin, bị cáo dùng một phần tiền nhận được để mua thuốc lá bán lại cho khách với giá thấp, chấp nhận lỗ nhằm khiến các bị hại tin tưởng và tiếp tục chuyển thêm tiền đặt hàng.
Dương còn thuê 3 kho hàng tại Hà Nội, tập kết thuốc lá rồi đưa khách đến xem, tạo cảm giác đây là đại lý phân phối lớn, hoạt động thực sự.
Cơ quan tố tụng xác định, từ ngày 29/3 đến 26/9/2024, bị cáo đã thực hiện 6 vụ lừa đảo, chiếm đoạt tổng cộng hơn 76 tỷ đồng của 6 bị hại.
Trong đó, anh Chu Văn T. là người bị chiếm đoạt nhiều nhất. Dương đưa ra mức chiết khấu từ 7.000 đồng đến 12.000 đồng mỗi cây thuốc lá để dụ dỗ anh này tham gia kinh doanh.
Tin tưởng, từ ngày 1/4 đến 20/9/2024, anh T. đã chuyển hơn 107 tỷ đồng vào các tài khoản do Dương chỉ định. Đến tháng 8/2024, bị cáo còn chiếm giữ hơn 26 tỷ đồng của nạn nhân.
Với thủ đoạn tương tự, Dương tiếp tục lừa anh Nguyễn Tiến C. bằng cách đưa đi xem các kho thuốc lá đã thuê rồi yêu cầu đặt cọc 10 tỷ đồng để được nhận hàng thường xuyên.
Sau đó, anh C. chuyển gần 50 tỷ đồng cho Dương để nhập nhiều loại thuốc lá. Tuy nhiên, phần lớn số tiền này được bị cáo dùng để trả nợ cá nhân, thanh toán cho các bị hại khác và duy trì hoạt động nhằm che giấu hành vi lừa đảo.
Ngày 6/5, Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP Đà Nẵng cho biết đã bàn giao hồ sơ vụ trộm cắp tài sản cho Công an xã Hòa Tiến để tiếp tục thụ lý, xử lý thiếu niên 19 tuổi (trú xã Hòa Tiến) và đồng phạm 17 tuổi (trú phường An Hải).
Theo điều tra, khoảng 2h45 ngày 3/5, người phụ nữ trú tại xã Hòa Tiến đi làm về thì phát hiện cửa sau bị cạy phá. Trong phòng ngủ, két sắt bị đục thủng, toàn bộ tài sản gồm 70 triệu đồng tiền mặt và một mặt dây chuyền trị giá 26 triệu đồng đã bị lấy mất. Tổng thiệt hại khoảng 96 triệu đồng.
Vào cuộc truy xét, lực lượng chức năng xác định người thực hiện hành vi là con trai ruột của bị hại và một người bạn đi cùng.
Tại cơ quan công an, nam thanh niên 19 tuổi khai, tối 2/5 nhắn tin xin tiền mẹ không được nên nảy sinh ý định trộm tài sản của gia đình và rủ bạn tham gia.
Cả hai thuê xe về nhà. Người con sang nhà người thân gần đó lấy một búa và một đục sắt; phân công bạn đứng ngoài cảnh giới, còn mình phá cửa sau đột nhập.
Tại phòng ngủ, anh ta đục phá két, rồi rời đi. Sáng hôm sau, người con dùng số tiền trộm được mua điện thoại iPhone 14 và xe máy Suzuki Satria. Riêng mặt dây chuyền bị làm rơi trong quá trình di chuyển.
Cơ quan công an đã thu giữ xe máy, điện thoại cùng các tang vật liên quan để phục vụ công tác điều tra.
Một nhân viên tại Sydney, Australia, kể trước đây sếp hôm nào cũng nhắn tin gọi điện giao việc lúc nửa đêm. Không ai bắt cô phải trả lời, nhưng nếu không, hôm sau sẽ là một ngày "giông bão".
Câu chuyện ấy không xa lạ với hàng triệu lao động hiện đại. Điện thoại thông minh, email và các ứng dụng như Messenger, Zalo hay WhatsApp khiến công việc không còn kết thúc khi rời văn phòng. Sau giờ làm, cuối tuần, kỳ nghỉ, người lao động vẫn có thể bị kéo trở lại guồng quay công việc chỉ bằng một tiếng chuông điện thoại.
Từ thực tế đó, nhiều quốc gia bắt đầu công nhận "right to disconnect" - quyền từ chối trả lời liên lạc công việc ngoài giờ trong những trường hợp không hợp lý. Cùng với sự ủng hộ chính sách này cũng gây tranh cãi gay gắt trong cộng đồng doanh nghiệp, đôi khi chính cả người lao động.
Nhân viên: Trả lời thì phiền, không trả lời thì ngại
Pháp là một trong những quốc gia đầu tiên luật hóa quyền ngắt kết nối vào năm 2017. Còn tại Australia, luật tương tự có hiệu lực từ năm 2024 đối với đa số doanh nghiệp lớn. Canada, Ireland, Bỉ và một số nước châu Âu khác cũng đang xây dựng hoặc áp dụng các quy định tương tự.
Lý do thúc đẩy các chính sách này khá rõ ràng: Ngày càng nhiều người cảm thấy công việc đang lấn át đời sống cá nhân.
Trong một bài viết của Time về luật tại Pháp, nhiều nhân viên mô tả cảm giác "không bao giờ thực sự tan làm". Một quản lý truyền thông nói rằng ngay cả khi đi nghỉ, cô vẫn liên tục kiểm tra email vì sợ bỏ lỡ thông tin quan trọng. Một số người cho biết họ bắt đầu cảm thấy tội lỗi nếu không phản hồi tin nhắn từ sếp vào buổi tối.
Nhiều nghiên cứu về lao động sau đại dịch Covid-19 cũng cho thấy làm việc từ xa khiến ranh giới giữa công việc và cuộc sống riêng bị xóa mờ. Nhân viên ở nhà nhưng luôn trong trạng thái "có thể bị gọi bất cứ lúc nào".
Với nhiều người, quyền ngắt kết nối không đơn thuần là chuyện trả lời email, mà là vấn đề sức khỏe tinh thần.
Các công đoàn tại Australia khi vận động cho luật này đã viện dẫn tình trạng kiệt sức, căng thẳng kéo dài và số giờ làm thêm không lương tăng mạnh. Theo họ, nhiều lao động hiện đại đang phải "tặng miễn phí" cho công ty hàng giờ làm việc mỗi tuần chỉ vì văn hóa luôn online.
Một nhân viên IT được News.com.au dẫn lời cho biết anh từng xem việc phản hồi ngoài giờ là "tinh thần trách nhiệm", cho đến khi nhận ra bản thân gần như không còn thời gian nghỉ thật sự. "Điện thoại rung là tôi căng thẳng ngay lập tức", anh nói.
Nhưng không phải người lao động nào cũng ủng hộ hoàn toàn quyền ngắt kết nối. Một số nhân viên trẻ trong ngành công nghệ hoặc truyền thông cho rằng họ thích mô hình làm việc linh hoạt hơn là tách bạch cứng nhắc. Có người chấp nhận trả lời tin nhắn buổi tối để đổi lại việc được chủ động nghỉ giữa ngày, làm việc từ xa hoặc tự sắp xếp lịch cá nhân.
Trong các cuộc tranh luận ở Australia, một số lao động nói họ không muốn nhà nước "quản lý cách họ giao tiếp với sếp". Theo họ, vấn đề nằm ở văn hóa công ty hoặc sếp trực tiếp, chứ không nhất thiết cần một đạo luật cấm sếp liên lạc công việc với nhân viên sau giờ quy định.
Một nhân viên startup tại Melbourne nói trên truyền thông Australia rằng: "Nếu tôi đang làm dự án với đội ở Mỹ thì việc nhắn tin buổi tối là bình thường. Tôi không cảm thấy mình bị bóc lột".
Điều này cho thấy ngay trong chính giới lao động cũng tồn tại hai cách nhìn: Một bên muốn có ranh giới rõ ràng để bảo vệ đời sống cá nhân, bên còn lại ưu tiên tính linh hoạt và quyền tự thỏa thuận.
Phản đối từ giới doanh nghiệp khá mạnh, đặc biệt ở các ngành công nghệ, tài chính, logistics và dịch vụ toàn cầu. Hiệp hội doanh nghiệp Australia cho rằng luật có nguy cơ tạo thêm rào cản pháp lý mà không giải quyết được gốc rễ vấn đề.
Lập luận là thị trường lao động hiện đại vận hành theo múi giờ toàn cầu. Một công ty ở Sydney có thể phải làm việc với khách hàng Mỹ hoặc châu Âu, khiến liên lạc ngoài giờ gần như không thể tránh khỏi.
Các doanh nghiệp lo ngại nhân viên sẽ dùng quyền ngắt kết nối như một "lá chắn pháp lý", khiến việc xử lý tình huống khẩn cấp khó khăn hơn.
The Australian dẫn ý kiến của một số nhóm sử dụng lao động cho rằng quan hệ giữa sếp và nhân viên nên được điều chỉnh bằng thỏa thuận và văn hóa doanh nghiệp thay vì luật hóa cứng nhắc.
Một chủ doanh nghiệp nhỏ nói rằng ông không đủ nguồn lực để xây dựng quy trình pháp lý phức tạp về "liên lạc hợp lý" hay "không hợp lý". Theo ông, các công ty lớn có thể thích nghi, nhưng doanh nghiệp nhỏ sẽ chịu gánh nặng lớn hơn.
Một số người còn cho rằng chính sách này có thể tạo tâm lý "đúng giờ là ngắt não", làm giảm tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp.
Giới startup là nhóm phản ứng tiêu biểu nhất. Nhiều nhà sáng lập công nghệ cho rằng các công ty khởi nghiệp thường phải vận hành với tốc độ rất cao, nguồn lực hạn chế và môi trường cạnh tranh khốc liệt. Họ lo nếu mọi tương tác ngoài giờ đều bị đặt dưới góc nhìn pháp lý, startup sẽ mất tính linh hoạt vốn là lợi thế sống còn.
Một doanh nhân Australia bình luận: "Khách hàng không quan tâm luật lao động của bạn. Họ chỉ quan tâm sự cố có được xử lý ngay hay không".
Điều thú vị là không phải doanh nghiệp nào cũng phản đối quyền ngắt kết nối. Một số tập đoàn lớn ở châu Âu thậm chí áp dụng chính sách này trước cả khi luật ra đời.
Theo Time, nhiều công ty tại Pháp từng chủ động cài đặt hệ thống chặn email ngoài giờ hoặc khuyến khích nhân viên không gửi thư công việc vào ban đêm. Một số nơi quy định rõ: Email gửi sau giờ hành chính chỉ được xem là "không cần phản hồi ngay".
Lập luận của nhóm doanh nghiệp này khá thực dụng: Nhân viên kiệt sức cuối cùng cũng khiến công ty thiệt hại.
Nhiều nhà quản lý cho rằng văn hóa "always on" tạo cảm giác năng suất cao nhưng thực tế lại làm giảm hiệu quả dài hạn. Người lao động mệt mỏi hơn, khó tập trung hơn và nghỉ việc nhiều hơn.
Một số chuyên gia nhân sự ở Australia nhận định quyền ngắt kết nối buộc sếp phải lập kế hoạch tốt hơn thay vì "dựng" nhân viên giữa giấc. Nếu công việc liên tục cần xử lý ngoài giờ, đó có thể là dấu hiệu doanh nghiệp đang vận hành thiếu hiệu quả.
Nhiều công ty cũng nhìn thấy lợi ích, trong bối cảnh lao động trẻ ngày càng coi trọng work-life balance - cân đối công việc và cuộc sống, việc cam kết tôn trọng thời gian cá nhân trở thành lợi thế tuyển dụng. Một số doanh nghiệp tại châu Âu quảng bá quyền ngắt kết nối như một phần của "phúc lợi mềm", thu hút người tài.
Hiệp hội Luật sư Quốc tế (IBA) trong một phân tích về Canada và Australia cho biết ngày càng nhiều doanh nghiệp nhận ra rằng việc bảo vệ sức khỏe tinh thần của nhân viên không còn chỉ là vấn đề đạo đức mà còn liên quan trực tiếp đến hiệu suất và khả năng giữ người.
"Ngắt kết nối" không phải cắt đứt hoàn toàn
Thực ra, phần lớn các đạo luật ngắt kết nối của các nước hiện nay không cấm tuyệt đối việc liên lạc ngoài giờ.
Luật Australia chẳng hạn không quy định sếp không được gọi điện sau giờ làm. Thay vào đó, người lao động có quyền từ chối những liên lạc "không hợp lý".
Cơ quan Fair Work Ombudsman của Australia cho biết khi xem xét một liên lạc có hợp lý hay không, cơ quan chức năng sẽ cân nhắc nhiều yếu tố: tính chất công việc, mức độ khẩn cấp, trách nhiệm của nhân viên, việc có được trả phụ cấp trực ca hay không...
Nói cách khác, quyền ngắt kết nối không nhằm xóa bỏ hoàn toàn liên lạc ngoài giờ, mà chủ yếu đặt ra giới hạn cho văn hóa "luôn luôn phải phản hồi".
Thực tế, tranh luận lớn nhất không nằm ở việc có nên liên lạc ngoài giờ hay không, mà ở câu hỏi: Đâu là giới hạn hợp lý giữa công việc và đời sống cá nhân trong thời đại số?
Điều khiến quyền này trở thành đề tài gây tranh cãi là bởi nó phản ánh xung đột lớn hơn của lao động hiện đại.
Người lao động muốn được bảo vệ khỏi áp lực vô hình của công nghệ và văn hóa luôn online. Nhưng doanh nghiệp cũng muốn duy trì sự linh hoạt trong một nền kinh tế toàn cầu hóa và cạnh tranh tốc độ cao.
Ngay cả trong từng nhóm cũng không tồn tại sự đồng thuận tuyệt đối. Có nhân viên xem quyền ngắt kết nối là "cứu cánh" cho sức khỏe tinh thần, nhưng cũng có người coi đó là sự can thiệp không cần thiết. Có doanh nghiệp tin rằng nghỉ ngơi giúp năng suất bền vững hơn, nhưng cũng có nơi lo ngại luật sẽ bóp nghẹt tính linh hoạt.
Do vậy nhiều quốc gia hiện nay đang chọn cách tiếp cận mềm hơn: không cấm đoán tuyệt đối, không buộc mọi công ty vận hành giống nhau, mà tạo ra nguyên tắc để người lao động có quyền nói "không" trong những tình huống bị làm phiền quá mức.