“Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chọn Trung Quốc là điểm đến đầu tiên trong chuyến thăm nước ngoài sau khi nhậm chức cho thấy quan hệ Trung Quốc – Việt Nam đối với Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Và đối với Trung Quốc, quan hệ Trung Quốc – Việt Nam tiếp tục được ưu tiên, giữ vị trí hàng đầu trong chính sách ngoại giao của Bắc Kinh với các nước láng giềng”, giáo sư Wang Wen thuộc Đại học Nhân dân Bắc Kinh (Trung Quốc) nhận định với Tuổi Trẻ.
Ngoài tính thời điểm, giới quan sát còn dành sự chú ý về thành phần đoàn tháp tùng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Trung Quốc lần này.
Với 10 Ủy viên Bộ Chính trị (bao gồm Tổng Bí thư, Chủ tịch nước), 8 bộ trưởng và lãnh đạo nhiều ban, ngành và địa phương, chuyến đi lần này đánh dấu một trong những chuyến công tác có thành phần cấp cao đông đảo nhất, qua đó phản ánh sự coi trọng và kỳ vọng thúc đẩy quan hệ Việt – Trung toàn diện, đi vào chiều sâu và thực chất hơn nữa.
Nhận định tổng thể về quan hệ Việt Nam và Trung Quốc thời gian gần đây, giáo sư Wang chỉ ra việc quan hệ chính trị là một yếu tố quan trọng với nhiều chuyến thăm, gặp gỡ và tiếp xúc cấp cao giữa hai nước chỉ trong thời gian ngắn. Nền tảng chính trị tốt đẹp đó đã thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước phát triển, đưa quan hệ chiến lược giữa hai nước ngày càng thắt chặt.
“Có thể nói nhìn từ phía Trung Quốc, quan hệ Trung – Việt đang ở giai đoạn nồng ấm và tốt đẹp nhất trong lịch sử quan hệ hai nước thời hiện đại. Nhân dân hai bên đều tràn đầy kỳ vọng về một mối quan hệ tốt đẹp hơn nữa trong tương lai”, ông Wang chia sẻ với Tuổi Trẻ.
Một đặc điểm của quan hệ Trung Quốc – Việt Nam, theo ông Wang, là việc nó thể hiện rõ vai trò dẫn dắt và định hướng của người đứng đầu Đảng, Nhà nước mỗi bên.
Sự chỉ đạo chiến lược của các nhà lãnh đạo cấp cao của hai đảng và hai nước có thể xem như một lợi thế lớn nhất và là sự đảm bảo chính trị quan trọng nhất cho sự phát triển của quan hệ Trung Quốc – Việt Nam.
Chuyến thăm lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm diễn ra đúng một năm sau chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình (từ ngày 14 đến 15-4-2025).
Đồng thời đây là lần thứ ba trong thời gian ngắn chưa đầy hai năm, hai lãnh đạo cao nhất của hai Đảng, hai nước thăm song phương.
“Mối quan hệ cá nhân giữa lãnh đạo hai nước sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự ấm lên liên tục của quan hệ song phương và tạo dựng niềm tin, sự hiểu biết lẫn nhau trong quan hệ xã hội”, ông Wang nêu nhận định.
Nhận định của ông Wang có thể được tìm thấy trong bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước chuyến thăm đăng trên Nhân Dân nhật báo – cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Trong đó nhà lãnh đạo Việt Nam chia sẻ Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam hết sức trân trọng tình cảm hữu nghị, tâm huyết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình với từng bước phát triển của quan hệ Việt – Trung trong những năm qua.
Cũng trong bài viết trên Nhân Dân nhật báo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhắc lại lịch sử hữu nghị giữa hai nước. Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc được ông đặt trong bức tranh lớn của đường lối đối ngoại Việt Nam là “độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa”.
Ông nhấn mạnh trong quan hệ giữa các quốc gia láng giềng, điều bền vững nhất là “biết nhìn nhận quan hệ từ tầm cao chiến lược với tầm nhìn lâu dài”, “biết đặt lợi ích căn bản, lâu dài của nhân dân lên trên hết, trước hết”.
Phát triển quan hệ với Trung Quốc, theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, được Việt Nam xác định là “chủ trương nhất quán”, “lựa chọn chiến lược” và “ưu tiên hàng đầu”. Ở chiều ngược lại, phía Trung Quốc cũng xác định Việt Nam là phương hướng ưu tiên trong ngoại giao láng giềng.
Cách diễn đạt này, theo giới quan sát, nhấn mạnh tính khách quan của việc phát triển quan hệ Việt Nam và Trung Quốc: vừa là sự kế thừa lịch sử, vừa có thể là đáp án cho yêu cầu giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển trong giai đoạn mới.
Khi đặt vào bối cảnh chuyến thăm đang diễn ra, đó còn là một thông điệp xuyên suốt: Việt Nam muốn chủ động định hình không gian hợp tác với Trung Quốc theo hướng ổn định, lâu dài, dựa trên nền tảng chính trị và xã hội đã được bồi đắp qua lịch sử, thay vì chỉ nhìn quan hệ qua các lát cắt ngắn hạn.
Hướng về tương lai, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh trong bài viết: “Chúng tôi hiểu rõ rằng muốn phát triển nhanh và bền vững thì phải giữ vững môi trường hòa bình; muốn thực hiện thành công các mục tiêu đến năm 2030 và 2045 thì phải phát huy cao nhất nội lực, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế hiệu quả trên cơ sở độc lập, tự chủ”.
Nếu nhìn từ lời khẳng định trên, chuyến đi không đơn thuần là một hoạt động “phát huy truyền thống hữu nghị”, mà còn là một nỗ lực kéo quan hệ song phương vào quỹ đạo phục vụ trực tiếp cho các yêu cầu tăng trưởng chất lượng, bền vững và tự chủ.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến chuyển mang tính thời đại rất sâu sắc, tạo ra cơ hội lẫn thách thức, Việt Nam và Trung Quốc đang ở giai đoạn cơ hội lịch sử chưa từng có. Nói như Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ, chuyến thăm đánh dấu “một khởi đầu mới” trong quan hệ song phương khi cả hai nước đều bước vào giai đoạn phát triển mới.
Ở trong nước, Việt Nam bước vào giai đoạn triển khai nghị quyết Đại hội XIV với hai mục tiêu chiến lược 100 năm, trong đó nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu”.
Ở phía bên kia biên giới, Trung Quốc mở đầu thời kỳ thực hiện Quy hoạch 5 năm lần thứ 15 với trọng tâm phát triển chất lượng cao, tự cường khoa học công nghệ, chuyển đổi xanh và mở cửa ở trình độ cao hơn.
Hai “đường ray” phát triển đó, theo giới quan sát, là cơ sở để hai nước tìm điểm gặp nhau bằng “kết nối chiến lược” thay vì chỉ tăng trưởng thương mại thuần túy.
Tầm nhìn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với quan hệ Việt – Trung không chỉ dừng lại ở giao thương hay kết nối hạ tầng. Khi đến Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc) chiều 14-4, ông nhấn mạnh mong muốn hợp tác Việt Nam – Trung Quốc sẽ không chỉ mạnh hơn về thương mại và đầu tư, mà còn mạnh hơn về tri thức, công nghệ, sáng tạo và năng lực kiến tạo tương lai.
Nhà lãnh đạo Việt Nam nêu rõ Việt Nam đang bước vào một thời kỳ phát triển mới, trong đó khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chính để thực hiện các mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và 2045.
Việt Nam đặc biệt coi trọng hợp tác với Trung Quốc trong các lĩnh vực mà hai bên có thể bổ sung cho nhau và cùng phát triển, nhất là trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, bán dẫn, tự động hóa, robot, công nghệ xanh, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng sạch và các ngành công nghệ chiến lược khác.
Theo một nhà nghiên cứu quan hệ Việt Nam và Trung Quốc, chuyến thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có thể gói gọn trong ba cụm từ khóa: kế thừa hữu nghị, nâng tầm kết nối chiến lược và mở ra tầm nhìn phát triển mới trong kỷ nguyên mới.
Nếu nhìn bằng lăng kính cách Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu phát triển gần nhất là vào năm 2030, chuyến thăm này được định vị như một bước để vừa tranh thủ hợp tác cho các đột phá về hạ tầng, chuỗi cung ứng, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, vừa giữ cho môi trường hòa bình – ổn định trong giai đoạn phát triển mới.
Đài khí tượng thủy văn Nam Bộ cho biết qua theo dõi trên ảnh mây vệ tinh, ảnh ra đa thời tiết, định vị sét cho thấy mây dông đang phát triển gây mưa rào và kèm theo dông, sét trên khu vực tỉnh Tây Ninh.
Tại TP.HCM, mây dông xuất hiện tại các xã Bình Khánh, Hưng Long, Bình Chánh, Bình Hưng, xã Nhà Bè, các phường Phú Định, Tân Mỹ, An Lạc, Tân Hưng, Bình Phú, Bình Tiên, Chánh Hưng, Tân Thuận, Bình Thới, Diên Hồng, Chợ Quán, Cầu Ông Lãnh, Xóm Chiếu, An Khánh, Cát Lái, Bến Thành, Bình Trưng.
Ở tỉnh Đồng Nai, mây dông tại xã Đại Phước, Phước An, Nhơn Trạch, Long Thành.
Từ giờ tới tối, mây dông tiếp tục phát triển và gây mưa rào kèm theo dông, sét cho các khu vực kể trên. Sau đó mây dông xu hướng mở rộng và lan sang các khu vực lân cận khác. Lượng mưa phổ biến từ 2-20mm, có nơi trên 20mm.
Trong cơn dông đề phòng lốc, sét, mưa đá, gió giật mạnh cấp 5-8 (8-21m/s), mưa lớn gây ngập úng cục bộ.
Hiện tại Nam Bộ đang bắt đầu thời điểm giao mùa, đây là giai đoạn chuyển từ mùa khô sang mùa mưa và gió tây nam hoạt động trở lại.
Tuy vậy mưa chỉ lác đác vài nơi, nắng nóng vẫn chiếm ưu thế trong diễn biến thời tiết hằng ngày.
Ngày 26.5, tin từ Cơ quan điều tra Viện KSND tối cao cho hay vừa tống đạt quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam bà Nguyễn Thị Phương Lan, cựu Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới (tỉnh Quảng Bình cũ), để điều tra hành vi “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Theo Thông báo số 45/TB-VKSTC-C1(P3) ngày 19.5.2026, Cơ quan điều tra Viện KSND tối cao đã ra quyết định khởi tố bị can đối với bà Lan theo khoản 3, điều 360 bộ luật Hình sự, đồng thời áp dụng biện pháp tạm giam 4 tháng để phục vụ công tác điều tra.
Các quyết định và lệnh bắt tạm giam đã được Vụ 6 Viện KSND tối cao phê chuẩn theo quy định pháp luật.
Bà Nguyễn Thị Phương Lan là đảng viên thuộc Chi bộ Phòng Kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo của Đảng bộ Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Sau khi khởi tố bị can, Cơ quan điều tra Viện KSND tối cao cũng đã có văn bản thông báo đến Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Quảng Trị và Đảng bộ Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị để xem xét, xử lý về mặt Đảng.
Vụ việc được xác định liên quan quá trình tổ chức thi hành án đối với khoản vay giữa Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) và bà P.T.A.T, trong đó tài sản thế chấp là khách sạn Green Star tại thành phố Đồng Hới cũ, nay thuộc phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị (Báo Thanh Niên đã nhiều lần thông tin).
Theo hồ sơ vụ việc, sau khi bà T. đã thanh toán phần lớn nghĩa vụ nợ, phần còn lại được phía ngân hàng đồng ý miễn giảm, MB đã có văn bản đề nghị Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới đình chỉ thi hành án và hoàn trả giấy tờ tài sản cho khách hàng. Tuy nhiên, cơ quan thi hành án không ban hành quyết định đình chỉ theo đề nghị, mà tiếp tục đưa khách sạn Green Star ra đấu giá nhiều lần.
Sau đó, Viện KSND tỉnh Quảng Bình (cũ) đã ban hành kháng nghị, cho rằng việc không đình chỉ thi hành án là vi phạm nghiêm trọng quy định pháp luật. Không chỉ vậy, Tổng cục Thi hành án dân sự, Viện KSND tối cao cũng nhiều lần yêu cầu giải quyết dứt điểm vụ việc nhưng vẫn không được thực hiện.
Cây điều (hay còn gọi là đào lộn hột) có nguồn gốc từ Brazil, được du nhập vào miền Nam Việt Nam từ thế kỷ XVIII. Khi bén rễ tại vùng Đồng Nai, loại cây này đã nhanh chóng trở thành cây "xóa đói giảm nghèo" và làm giàu cho người nông dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc S'tiêng ở khu vực tỉnh Bình Phước cũ trước đây.
Từ những vườn cây sinh kế ban đầu, đến nay Đồng Nai đã phát triển thành vùng trồng điều tập trung lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 50% với tổng diện tích gần 175.000 ha.
Danh tiếng của hạt điều nơi đây được tạo nên từ sự ưu đãi tuyệt vời của tự nhiên: vùng đất đỏ bazan phì nhiêu kết hợp với khí hậu đặc trưng của Đông Nam bộ. Đặc biệt, mùa khô kéo dài tại đây trùng khớp hoàn toàn với giai đoạn cây điều ra hoa, kết trái. Cùng với kinh nghiệm canh tác và bí quyết chế biến được tích lũy qua nhiều thế hệ của người dân bản địa, hạt điều Đồng Nai sở hữu một hương vị đặc trưng mà không nơi nào có được.
Về cảm quan, hạt điều Đồng Nai có đặc điểm thân tròn, chắc, mẩy, cuống hạt phình to, bề mặt vỏ cứng sáng bóng với màu trắng sữa hoặc ngà nhẹ.
Theo Hiệp hội Điều Việt Nam, Hội đồng Hạt quốc tế đã đánh giá Bình Phước cũ là vùng có hạt điều "ngon nhất thế giới". Không chỉ chứa hàm lượng dinh dưỡng cao, giàu protein và chất béo lành mạnh, hạt điều nơi đây còn chinh phục người tiêu dùng nhờ vị đậm đà, giòn rụm và hậu vị ngọt thanh tự nhiên.
Ông Nguyễn Hoàng Đạt, Phó chủ tịch Hiệp hội Điều Đồng Nai, cho biết địa phương không chỉ dẫn đầu về diện tích vùng trồng mà đã trở thành công xưởng chế biến hạt điều của thế giới.
Hiện trên địa bàn thành phố có hơn 1.400 doanh nghiệp chế biến. Trong đó, nhiều đơn vị đã chủ động đầu tư công nghệ chế biến sâu, xây dựng thương hiệu bài bản và xuất khẩu thành công đến những thị trường khó tính nhất toàn cầu như Mỹ, Trung Quốc, châu Âu…
Sự bứt phá của các doanh nghiệp đã đóng góp lớn vào bức tranh xuất khẩu chung của cả nước. Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong năm 2025, ngành điều Việt Nam đã lập kỷ lục lịch sử với kim ngạch xuất khẩu vượt mốc 5 tỉ USD.
Trước đó, tháng 5.2018, thương hiệu "Hạt điều Bình Phước" đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý (bao gồm hạt điều nguyên liệu, hạt điều nhân và hạt điều rang muối) trên địa bàn 91 đơn vị cấp xã (toàn bộ thuộc tỉnh Bình Phước cũ).
Việc bảo hộ này có ý nghĩa pháp lý quan trọng nhằm khẳng định chất lượng đặc thù, bảo vệ danh tiếng sản phẩm sau khi sáp nhập địa giới hành chính, đồng thời ngăn chặn tình trạng hàng giả, hàng nhái trôi nổi trên thị trường.
Dù vị thế xuất khẩu liên tục thăng hạng, ngành điều tại Đồng Nai lại đang đối mặt với một nghịch lý lớn: diện tích vùng trồng liên tục sụt giảm mạnh, gây ra tình trạng khan hiếm nguyên liệu thô trong nước.
Số liệu thống kê cho thấy xu hướng sụt giảm rất rõ rệt. Riêng tại khu vực Bình Phước cũ, nếu năm 2020 diện tích cây điều đạt khoảng 170.000 ha thì đến năm 2025 chỉ còn khoảng 152.000 ha.
Hiện tổng diện tích toàn thành phố Đồng Nai khoảng 175.000 ha. Tuy nhiên, theo kế hoạch phát triển cây ăn trái và cây công nghiệp chủ lực của địa phương, dự kiến đến năm 2030, con số này sẽ tiếp tục thu hẹp xuống còn khoảng 163.000 ha.
Nhìn nhận về thực tế này, ông Nguyễn Hoàng Đạt cho biết khoảng 5 năm trở lại đây, người trồng điều gặp quá nhiều áp lực. Thời tiết diễn biến thất thường ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, tỷ lệ vườn điều già cỗi quá lớn, sâu bệnh phức tạp trong khi giá cả thị trường biến động mạnh khiến thu nhập của người dân không ổn định.
"Xu hướng chuyển đổi sang các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn đang diễn ra khá rõ ràng. Điều này tạo áp lực cực kỳ lớn cho ngành điều khi vùng nguyên liệu lớn nhất trong nước đang ngày càng thu hẹp", ông Đạt nhận định.
Cũng theo Phó chủ tịch Hiệp hội Điều Đồng Nai, nguồn nguyên liệu nội địa hiện chỉ đáp ứng được một phần nhỏ công suất các nhà máy, phần lớn nguyên liệu phải nhập khẩu từ châu Phi.
Việc này dù giúp duy trì chuỗi sản xuất nhưng lại đẩy doanh nghiệp vào thế bị động trước rủi ro chất lượng nguyên liệu không đồng đều, chi phí logistics neo ở mức cao và khó kiểm soát chặt chẽ tiêu chuẩn đầu vào.
"Về lâu dài, nếu không có chiến lược phục hồi và phát triển vùng nguyên liệu bền vững ngay trong nước, ngành điều Việt Nam sẽ rất khó để xây dựng và duy trì một thương hiệu mạnh, ổn định trên trường quốc tế", ông Đạt bày tỏ lo lắng.