Theo công văn Bộ Nông nghiệp và Môi trường gửi Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, hiện tượng El Nino có khả năng cao hình thành từ tháng 6 đến tháng 8.2026 với xác suất từ 80 – 90% và có 20 – 25% nguy cơ đạt mức rất mạnh vào các tháng cuối năm, kéo dài sang năm 2027.
Tại Việt Nam, các điều kiện khô nóng đã xuất hiện sớm từ đầu năm 2026, nắng nóng gia tăng sớm hơn trung bình nhiều năm. Lượng mưa có thể thiếu hụt ngay trong các tháng mùa khô năm 2026. Thực tế hiện nay, lượng mưa trên cả nước từ đầu năm đến giữa tháng 4 đã thiếu hụt phổ biến từ 10 – 40% so với trung bình nhiều năm, khiến dòng chảy và mực nước tại nhiều lưu vực sông chạm mức thấp nhất trong chuỗi quan trắc.
Dự báo trong giai đoạn từ cuối năm 2026 đến đầu năm 2027, lượng mưa có khả năng giảm mạnh từ 25 – 50%. Điển hình, hệ thống sông Đà có nguy cơ thiếu hụt 10 – 25% dòng chảy ngay trong khoảng từ tháng 5 đến tháng 7.2026, tiềm ẩn rủi ro lớn đến việc cấp nước hạ du và an ninh năng lượng.
Tình trạng này kéo theo nguy cơ rất cao xảy ra hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng tại khu vực nam Trung bộ, cao nguyên Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long trong mùa khô 2026 – 2027. Đồng thời, các địa phương vẫn cần đề phòng các đợt mưa cực đoan gây lũ quét, sạt lở đất và những cơn bão mạnh có quỹ đạo phức tạp trên Biển Đông. Vào cuối năm 2026, mùa mưa có khả năng kết thúc sớm hơn trung bình nhiều năm.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Giá vàng hôm nay 7.5.2026: Bật tăng 1,5 triệu đồng lên trên 167 triệu đồng mỗi lượng

Sáng nay (7.5), giá vàng miếng trong nước bật tăng trở lại. Cụ thể, Công ty Phú Quý tăng 1,5 triệu đồng so với cuối ngày hôm qua khi mua vàng miếng SJC lên 164,5 triệu đồng/lượng, bán ra 167,5 triệu đồng. Tuy nhiên, nếu so với 24 giờ trước đó thì giá vàng miếng SJC không thay đổi. Riêng vàng nhẫn tại Phú Quý tăng 1 triệu đồng, đưa chiều mua lên 164 triệu đồng và bán ra 167 triệu đồng...
Chênh lệch mua bán giữa vàng miếng hay vàng nhẫn trên thị trường vẫn đang duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng. Điều này là rủi ro đầu tiên cho người mua vào khi bị lỗ liền 3 triệu đồng/lượng dù giá vàng không thay đổi.
Giá vàng thế giới tiếp tục đi lên, đạt 4.695 USD/ounce, tăng 72 USD sau một ngày. Kim loại quý lên mức cao nhất hơn một tuần qua sau khi xuất hiện thông tin Mỹ và Iran có thể đang tiến gần tới một thỏa thuận hòa bình, qua đó làm dịu lo ngại về lạm phát tăng cao và khả năng duy trì lãi suất ở mức cao trong thời gian dài. Tuy nhiên, Tổng thống Donald Trump ngày 6.5 đã bày tỏ nghi ngờ về khả năng đạt được thỏa thuận. Ông viết trên mạng xã hội cho rằng việc Iran chấp nhận đề xuất của Mỹ là “một giả định lớn” và cảnh báo sẽ nối lại các cuộc tấn công quân sự nếu Tehran không đồng ý...
Một số nhà phân tích quốc tế cho rằng sự lạc quan về một thỏa thuận cuối cùng giữa Mỹ và Iran đã mang lại phần nào sự "giải tỏa" trong ngắn hạn cho vàng, khi giá dầu giảm, lo ngại lạm phát hạ nhiệt và kỳ vọng về chính sách của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) trong thời gian tới thay đổi. Đây là nguyên nhân đẩy giá vàng tăng trở lại. Hiện nhà đầu tư chuyển sự chú ý sang báo cáo việc làm của Mỹ công bố vào ngày mai bởi yếu tố này sẽ giúp đánh giá liệu nền kinh tế Mỹ còn đủ vững để Fed giữ nguyên chính sách, hay thị trường lao động suy yếu có thể mở đường cho việc cắt giảm lãi suất. Trước đó, báo cáo việc làm khu vực tư nhân ADP cho thấy số lượng việc làm mới tại Mỹ trong tháng 4 tăng mạnh hơn dự báo...
Tin Gốc: Thanh Niên

Hiện, mỗi lượng vàng miếng SJC được Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) mua vào và bán ra ở 158,5 - 161,5 triệu đồng, giảm 2,5 - 2 triệu đồng so với chốt ngày 19.5.
Các doanh nghiệp khác như Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý, Công ty Vàng bạc đá quý Bảo Tín Mạnh Hải... niêm yết giá mua - bán vàng bằng giá vàng miếng SJC.
Từ hôm qua tới nay, giá vàng miếng SJC được điều chỉnh giảm liên tiếp 4 nhịp, nâng tổng mức giảm 2 ngày qua lên 2,8 - 2,3 triệu đồng/lượng.
So với mức bán ra cao nhất từ đầu năm tới nay ghi nhận ngày 29.1 (191,3 triệu đồng/lượng), giá mỗi lượng vàng miếng SJC đã giảm 29,8 triệu đồng. Giá vàng trong nước hiện cao hơn giá vàng thế giới gần 19 triệu đồng/lượng.
Giá bạc hôm nay duy trì mức bán ra chủ yếu trên 76 triệu đồng/kg trong buổi sáng, từ đầu giờ chiều tới nay nhích lên vùng trên 77 triệu đồng/kg, giảm khoảng 500.000 - 600.000 đồng/kg so với chốt ngày 19.5, tùy thương hiệu.
Lúc gần 15 giờ, giá mỗi kg bạc được Công ty cổ phần kim loại quý Ancarat Việt Nam, Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý, Công ty Vàng bạc đá quý Bảo Tín Mạnh Hải mua vào và bán ra lần lượt: 75,280 - 77,6 triệu đồng; 75,653 - 77,999 triệu đồng; 75,759 - 78,105 triệu đồng...
So với giá đỉnh bán ra từ đầu năm đến nay ghi nhận ngày 29.1 (121,9 triệu đồng/kg), giá mỗi kg đã giảm 44 triệu đồng.
Giá vàng thế giới giao ngay lúc 14 giờ 36 (giờ Việt Nam) hôm nay là 4.478 USD/ounce, giảm 3,1 USD/ounce (tương đương 0,07%); giá bạc giao ngay là 74,8 USD/ounce, tăng 1,24 USD/ounce (tương đương 1,68%) so với chốt phiên hôm qua.
Theo TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân, trong ngắn và trung hạn, thị trường vàng và bạc toàn cầu sẽ chịu chi phối mạnh bởi các trục vĩ mô lớn gồm: chính sách tiền tệ Mỹ, "sức khỏe" kinh tế Mỹ, địa chính trị Trung Đông và quan hệ thương mại Mỹ - Trung.
Hướng đi lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) vẫn là biến số quan trọng nhất. Vàng và bạc vốn không sinh lãi, nên khi Fed duy trì lãi suất cao, chi phí cơ hội nắm giữ kim loại quý tăng lên, khiến dòng tiền ưu tiên trái phiếu và USD.
Tuy nhiên, nếu Fed phát tín hiệu rõ ràng về chu kỳ giảm lãi suất cuối năm nay hoặc đầu năm sau, vàng sẽ lập tức được kích hoạt như một tài sản đón đầu nới lỏng tiền tệ. Lịch sử cho thấy, mỗi chu kỳ Fed đảo chiều sang hạ lãi suất đều mở ra một sóng tăng mới cho kim loại quý.
Ông Nhân phân tích, "sức khỏe" kinh tế của Mỹ đang tiềm ẩn rủi ro suy giảm tăng trưởng. Nếu kinh tế Mỹ suy yếu nhanh hơn dự báo, thất nghiệp tăng, tiêu dùng giảm, thị trường sẽ kỳ vọng Fed phải nới lỏng mạnh tay hơn - đây là môi trường rất thuận lợi cho vàng. Ngược lại, nếu kinh tế Mỹ tiếp tục "dai sức", vàng sẽ thiếu động lực bứt phá.
Nhấn mạnh quan hệ thương mại giữa Mỹ - Trung Quốc là biến số dài hạn, ông Nhân cho rằng, nếu căng thẳng thương mại gia tăng, chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, lạm phát có nguy cơ quay lại, thì vàng và bạc sẽ được hưởng lợi như một hàng rào chống lạm phát.
Đồng thời, xu hướng nhiều quốc gia giảm phụ thuộc vào USD trong thanh toán quốc tế cũng âm thầm hỗ trợ vai trò dự trữ của vàng.
Với bạc, yếu tố bổ sung là nhu cầu công nghiệp, đặc biệt trong năng lượng tái tạo và sản xuất chip. Nếu kinh tế toàn cầu phục hồi, bạc có thể tăng mạnh hơn vàng nhờ yếu tố công nghiệp này.
"Tóm lại, vàng và bạc sắp tới không phụ thuộc vào một yếu tố đơn lẻ, mà là sự cộng hưởng giữa chính sách tiền tệ, rủi ro kinh tế và địa chính trị. Khi các yếu tố này đồng pha, kim loại quý có thể bước vào một chu kỳ tăng mới rất đáng chú ý", ông Nhân nói.
Với năm 2026, ông Nhân khuyến cáo, mấu chốt là nhà đầu tư phải tái cân bằng danh mục, để không phụ thuộc vào một kịch bản duy nhất mà có thể linh hoạt điều chỉnh.
Nếu sẵn tiền nhàn rỗi, nhà đầu tư nên dành khoảng 30% vào vàng, bạc; 30% gửi tiết kiệm; 25% dành cơ hội cho các loại tài sản mang tính rủi ro hơn như cổ phiếu hoặc góp vốn kinh doanh; 15% để tiền mặt dự phòng.
Tin Gốc: Thanh Niên

Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, kéo theo nhu cầu vốn khổng lồ để tạo động lực cho nền kinh tế bứt phá.
Riêng trong lĩnh vực hạ tầng, hàng loạt dự án trọng điểm đang được triển khai đồng loạt như sân bay Long Thành, cao tốc Bắc - Nam, các tuyến vành đai, cảng biển, năng lượng…đều đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn và liên tục trong nhiều năm.
Tuy nhiên, trong khi thị trường vốn vẫn chưa phát triển đủ chiều sâu, tín dụng ngân hàng tiếp tục là "mạch máu" dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Điều này đặt ra áp lực không nhỏ lên hệ thống ngân hàng, đồng thời làm nổi lên yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc các kênh huy động vốn cho tăng trưởng.
Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, dư nợ tín dụng của toàn nền kinh tế trong giai đoạn 2021 - 2025 tăng rất mạnh, luôn duy trì mức tăng 2 con số. Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng của dư nợ tín dụng đạt "đỉnh" với 17,87%, đạt mức 18,4 triệu tỷ đồng. Bước sang quý I/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Trao đổi với Người Đưa Tin, TS. Nguyễn Đức Độ - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính, Học viện Tài chính cho rằng ngân hàng hiện vẫn là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo việc tăng trưởng tín dụng ở mức quá cao có thể tạo ra những rủi ro đối với an toàn của hệ thống tài chính, ngân hàng.
Theo ông Độ, trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng tín dụng luôn duy trì ở mức cao, trong khi tăng trưởng huy động vốn lại không theo kịp. Đặc biệt, năm 2025, tăng trưởng tín dụng tăng rất mạnh tới 17,87% có một phần đáng kể "chảy" vào lĩnh vực bất động sản, khiến tín dụng bất động sản tăng mạnh.
"Nếu tiếp tục đẩy tăng trưởng tín dụng lên quá cao sẽ gây áp lực lên mặt bằng lãi suất. Khi lãi suất tăng, nhiều doanh nghiệp và dự án đầu tư có thể không còn đủ khả năng hấp thụ vốn, từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như chất lượng tăng trưởng", ông Độ nói.
TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng nếu tiếp tục đẩy tăng trưởng tín dụng lên quá cao sẽ gây áp lực tăng lãi suất. Khi lãi suất tăng các dự án và một số doanh nghiệp có thể không đủ khả năng chịu được lãi suất đó, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và hiệu quả đầu tư.
Theo vị chuyên gia, định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% trong năm 2026 của Ngân hàng Nhà nước là mức tương đối phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Về dài hạn, vai trò của chính sách tiền tệ cần ưu tiên nhiều hơn cho mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô thay vì liên tục gánh trọng trách thúc đẩy tăng trưởng thông qua mở rộng tín dụng.
Tính đến cuối năm 2025, Việt Nam có khoảng 1,1 triệu doanh nghiệp. Trong đó, có đến gần 98% là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đóng vai trò nòng cốt của nền kinh tế.
Trong mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026 - 2030, bên cạnh vai trò "đầu tàu" của các tập đoàn, doanh nghiệp lớn, sự đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng để mở rộng dư địa tăng trưởng.
Tuy nhiên, bài toán lớn nhất của nhóm doanh nghiệp này vẫn là khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là vốn tín dụng ngân hàng. Với quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, thiếu tài sản bảo đảm và mức độ minh bạch chưa cao, nhiều doanh nghiệp gặp khó trong việc đáp ứng điều kiện vay vốn, dù nhu cầu mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh ngày càng lớn.
Đề cập đến khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp hiện nay, TS. Nguyễn Đức Độ cho biết các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang thiếu vốn, song đây lại là nhóm có mức độ rủi ro cao hơn, chi phí giám sát khoản vay lớn hơn và tính minh bạch tài chính cũng hạn chế hơn.
"Vì vậy, các ngân hàng thường ưu tiên cho vay đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn, tình hình tài chính rõ ràng và khả năng kiểm soát rủi ro tốt hơn", ông Độ nói.
Về vai trò của hệ thống ngân hàng trong thời gian tới, ông Độ nhận định ngành ngân hàng hiện đã ở trạng thái "quá tải" khi phải đảm nhận phần lớn vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế. Mức tăng trưởng tín dụng khoảng 15% đã là nỗ lực lớn, trong khi việc giảm thêm lãi suất cũng không dễ thực hiện.
Do đó, Việt Nam cần phát triển mạnh hơn các kênh dẫn vốn khác như thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán để giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng. Nếu tiếp tục đặt quá nhiều gánh nặng lên ngân hàng, nguy cơ mất an toàn hệ thống và tác động ngược đến nền kinh tế là điều cần được lưu ý.
TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa hiện nay về cơ bản vẫn được thực hiện thường xuyên giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống ngân hàng đã có dấu hiệu quá tải, ông nhận định vai trò của chính sách tiền tệ sẽ cần tập trung nhiều hơn vào mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Trong khi đó, chính sách tài khóa sẽ đóng vai trò quan trọng hơn trong việc thúc đẩy tăng trưởng hai con số.
Còn theo TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng cho rằng, nguồn lực cho nền kinh tế hiện nay vẫn phụ thuộc nhiều vào hệ thống ngân hàng.
Trong ngắn hạn, chưa thể thay đổi ngay lập tức vai trò của tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, về trung và dài hạn, yêu cầu bắt buộc là phải phát triển thị trường vốn.
Theo ông Võ Trí Thành, cần đẩy mạnh kênh huy động qua thị trường chứng khoán, phát hành cổ phiếu (IPO), trái phiếu và phát triển các loại hình quỹ đầu tư. Đây sẽ là những kênh dẫn vốn trung, dài hạn bền vững hơn cho doanh nghiệp.
Riêng với hệ thống ngân hàng, mục tiêu vẫn là điều hòa tốt nhất giữa chống lạm phát và hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

