Tết năm nay, căn nhà của cụ Phạm Văn Phất ở thôn Đa Phạn, xã Vạn Lộc (xã Hải Lộc, huyện Hậu Lộc cũ) đông đủ con cháu. Trong những tiếng cười và chúc tụng, cụ vẫn nói mong ước lớn nhất của cả cuộc đời vẫn là tìm được gia đình ruột thịt. “Tôi mong trước khi nhắm mắt xuôi tay, biết được mình còn ai thân thích để thắp nén hương cho tổ tiên”, cụ Phất nói.
Năm 1945, cậu bé Phạm Văn Phất, 15 tuổi, theo cha – một thợ sửa đồng hồ – rời làng Tùng Sáu (huyện Hải Hậu, Nam Định cũ, nay là xã Hải Thịnh, Ninh Bình) vào Thanh Hóa mưu sinh. Trong ký ức, đó là những chuyến đi dài bằng đường biển, ghé qua các làng chài, ở lại một thời gian rồi lại tiếp tục rong ruổi.
Hai cha con dừng chân tại làng Đa Phạn, ở nhờ một gia đình người địa phương. Sau vài lần đưa con về quê rồi quay lại, đến lần thứ ba vào Thanh Hóa, người cha quyết định gửi con trai lại cho gia đình chủ nhà nuôi dưỡng rồi một mình lên thuyền về quê. Đó là lần cuối hai cha con gặp nhau.
“Tôi đứng trên đê nhìn theo thuyền cha khuất dần về phía biển. Tôi nghĩ ông sẽ sớm quay lại nhưng từ đó bặt vô âm tín”, cụ Phất kể.
Những ngày sau đó, cậu thiếu niên 15 tuổi vẫn đi ra bến thuyền, chờ đợi trong vô vọng. Không có tin tức, không một lời nhắn gửi. Giữa những năm tháng biến động của lịch sử đất nước, cậu thiếu niên 15 tuổi khi ấy tự suy đoán cha có thể gặp nạn trên biển hoặc hỏng thuyền. Phất ở lại vùng đất Hậu Lộc, được gia đình chủ nhận nuôi và đổi sang họ Phạm.
Hơn 80 năm qua, hành trình tìm lại cội nguồn của cụ Phất là một chuỗi những hy vọng, có lúc nhen nhóm nhưng rồi lụi tàn theo thời gian. Điều khiến ký ức về quê hương không bị phai mờ là bởi khi xa quê, cụ đã đủ lớn để ghi nhớ tên đất, tên làng.
Trong trí nhớ, quê nhà là làng Tùng Sáu với con đê chạy dài tít tắp, xen kẽ là cồn cát nhấp nhô, những căn nhà thưa thớt dưới rặng phi lao. Cuối làng có một chiếc cống ngăn mặn. Cụ còn nhớ lớp học chữ quốc ngữ của một ông đồ nho và căn nhà nhỏ mái tranh nơi gia đình sinh sống.
Năm 30 tuổi, khi đã lập gia đình và dù hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn, cụ từng một mình lần tìm về quê theo trí nhớ. Cụ đi bộ qua nhiều làng mạc ven biển vùng Hải Hậu, hỏi thăm nhiều người, nhưng đáp lại chỉ là những cái lắc đầu. “Tôi trở về nhà, dù rất buồn nhưng vẫn có niềm tin một ngày nào đó sẽ tìm được nguồn cội”, cụ kể.
Cụ Phất cho biết quê vợ ở Nghĩa Hưng (Nam Định cũ), cách làng Tùng Sáu khoảng 20 km. Mỗi lần về quê ngoại, cụ lại mượn xe đạp đi hỏi thăm các cụ cao niên và tìm kiếm tại các nghĩa trang địa phương. Cụ nhớ cha tên Riệp (hoặc Diệp), có bốn chị gái là Nghiệp, Nối, Bay và Máy.
Năm 2006, trong một lần trở lại Hải Hậu, cụ Phất dừng chân trước nhà thờ cổ cách đê Cồn Tròn không xa. Nhìn thấy một chiếc cống lớn, cụ nhận định đây là nơi mình từng xuống thuyền cùng cha năm xưa.
“Lúc đó, bố tôi đứng trên triền đê rất lâu nhìn về làng rồi bất chợt khóc như một đứa trẻ”, ông Phạm Văn Châu, con trai cụ, kể lại, “Đó là khoảnh khắc cụ tin rằng “mình đã chạm vào quê hương”.
Dù vậy, gia đình vẫn không tìm thêm được dấu vết nào của người thân.
Những năm gần đây, do sức khỏe yếu, cụ Phất không thể tự đi xa. Việc tìm kiếm được con cháu tiếp nối thông qua mạng xã hội, thăm hỏi các nhà thờ và tra soát các khu nghĩa trang. Tuy nhiên, việc tìm kiếm gặp nhiều trở ngại. Theo đại diện chính quyền địa phương, sau năm 1954, nhiều gia đình ở vùng Hải Hậu đã di cư, khiến dấu vết về một gia đình thợ sửa đồng hồ từ gần một thế kỷ trước hầu như không còn.
Ở tuổi 96, điều cụ Phất trăn trở không phải là những vất vả đã trải qua, mà là câu hỏi chưa có lời đáp: người thân trong gia đình giờ có còn ai hay không.
Con cháu cụ cho biết vẫn chưa từ bỏ hy vọng. Họ tiếp tục tìm kiếm thông tin, mong một ngày nào đó có người nhận ra những chi tiết tưởng chừng nhỏ bé trong câu chuyện. “Chỉ cần một manh mối nhỏ, gia đình cũng sẽ tìm đến cùng”, ông Phạm Văn Châu nói.
Sáng 8-5, Trường đại học Tôn Đức Thắng tổ chức Ngày hội tuyển dụng và kết nối doanh nghiệp lần thứ 1 năm 2026, thu hút hơn 60 doanh nghiệp trong và ngoài nước với hơn 5.000 sinh viên tham gia.
Đánh giá về thị trường lao động hiện nay, bà Phạm Ngọc Anh Thy - trưởng phòng hành chính nhân sự Tập đoàn Ree Corporation - cho biết trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp liên tục mở rộng dự án, nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng đang ngày càng lớn. Tuy nhiên bài toán khó nhất hiện nay không chỉ là tuyển được người mà còn là giữ được nhân sự gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
Theo bà Thy, doanh nghiệp hiện ưu tiên tuyển dụng sinh viên mới ra trường đúng chuyên ngành, sau đó đào tạo và phát triển từ đầu để xây dựng đội ngũ có chuyên môn và khả năng gắn bó lâu dài.
“Kiến thức chuyên môn là điều kiện cần, nhưng chưa đủ. Điều doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn là thái độ làm việc, khả năng thích nghi và tinh thần học hỏi của các bạn trẻ”, bà nói.
Theo bà Thy, môi trường làm việc thực tế đòi hỏi người trẻ phải có tính kỷ luật, sự kiên nhẫn và khả năng thích nghi với quy trình làm việc của doanh nghiệp. Trong khi đó, nhiều sinh viên hiện nay lại chịu ảnh hưởng từ tâm lý muốn thành công nhanh, dễ thay đổi công việc hoặc kỳ vọng thăng tiến trong thời gian ngắn.
“Đối với tôi, ba năm đầu sau khi ra trường là giai đoạn để học nghề, va chạm và tích lũy kinh nghiệm. Kiến thức trong nhà trường khi bước vào thực tế không thể áp dụng hoàn toàn ngay được”, bà Thy nhận định.
Bà Thy cũng cho rằng việc nhảy việc quá nhiều trong thời gian ngắn có thể khiến ứng viên khó tạo được niềm tin về sự ổn định và cam kết lâu dài. Theo bà, điều doanh nghiệp cần là người có thể làm được việc và sẵn sàng đồng hành cùng tổ chức.
Đối với sinh viên mới tốt nghiệp, ngoài chuyên môn phù hợp, yếu tố được đánh giá cao là thái độ nghiêm túc với nghề nghiệp, tinh thần cầu tiến và sự chủ động phát triển bản thân. Bởi điều doanh nghiệp muốn nhìn thấy là sự nghiêm túc với công việc và định hướng phát triển của các bạn.
Trước nhiều tranh luận của sinh viên về việc nên lựa chọn thực tập tại doanh nghiệp lớn với công việc chuyên biệt hay ở các công ty nhỏ để được trải nghiệm đa dạng vị trí, bà Nguyễn Hoàng Ánh Nhi - chuyên viên đối ngoại Công ty cổ phần JobsGo - cho rằng mỗi môi trường đều có ưu điểm riêng, quan trọng là phù hợp với nhu cầu và định hướng của từng sinh viên.
Các doanh nghiệp nhỏ thường có môi trường linh hoạt hơn, tạo điều kiện để sinh viên dễ cân bằng giữa lịch học và lịch làm việc. Trong khi đó, doanh nghiệp lớn thường có quy trình và thời gian làm việc cố định nên các bạn cần đảm bảo được tính kỷ luật và sự ổn định.
Ngoài ra hiện nay có không ít sinh viên sở hữu điểm số, GPA cao nhưng vẫn gặp khó khăn trong quá trình tìm việc sau khi ra trường, bà Nhi cho rằng đây không còn là trường hợp hiếm gặp nữa. Nhiều bạn tập trung quá nhiều vào kiến thức chuyên ngành mà quên trang bị các kỹ năng phục vụ cho môi trường làm việc thực tế.
Ngoài kiến thức chuyên môn, sinh viên cần chủ động rèn luyện kỹ năng mềm, kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm. Ngoài ra các bạn nên tham gia thêm các dự án cá nhân, hoạt động ngoại khóa hoặc làm cộng tác viên, thực tập từ sớm để tích lũy trải nghiệm thực tế.
“Điểm số đẹp chỉ phản ánh phần lý thuyết trên trường. Trong khi đó, doanh nghiệp đánh giá rất cao những trải nghiệm thực tế vì đó là cách thể hiện năng lực làm việc và khả năng thích nghi của ứng viên”, bà Ánh Nhi chia sẻ.
Tương tự, bà Lưu Thị Hồng Phúc - tổ trưởng tổ tuyển dụng, phòng tổ chức nhân sự Liên hiệp HTX thương mại TP.HCM (SaiGon Co.op) - cho rằng trong sinh viên cần bổ sung thêm ngoại ngữ, kỹ năng công nghệ, khả năng sử dụng các công cụ AI và phần mềm chuyên ngành. Đặc biệt, kỹ năng mềm như tư duy phản biện, giao tiếp hay giải quyết vấn đề là điều doanh nghiệp hiện nay rất quan tâm.
Theo bà, một trong những hạn chế phổ biến ở sinh viên hiện nay là sự thụ động trong quá trình học tập và làm việc. Nhiều bạn vẫn có tâm lý làm theo hướng dẫn thay vì chủ động tìm hiểu, đề xuất hoặc giải quyết vấn đề.
Hollie Welham, một phụ nữ trẻ đến từ Somerset, Anh, cảm thấy có điều gì đó không ổn với cơ thể mình. Hollie, 21 tuổi, làm trợ lý chăm sóc sức khỏe trong khu vực và nhìn chung có sức khỏe tốt. Nhưng rồi, cô đột nhiên nhận thấy mình liên tục bị buồn nôn và yếu ớt.
Chỉ riêng hai điểm đó thì không đến nỗi tệ, nhưng vấn đề chính là vòng eo của cô ngày càng to lên.
Ban đầu, Hollie không quá để tâm chuyện này vì cho rằng tăng cân, khó tiêu và buồn nôn đều là những hiện tượng bình thường. Tuy nhiên sau một thời gian, bụng cô không hề nhỏ lại mà ngày càng to ra, tình trạng buồn nôn trở nên tồi tệ hơn, và thỉnh thoảng cô bị đau bụng dữ dội.
Hollie đã mua que thử thai và kết quả cho thấy cô không hề mang thai. Lúc này, Hollie bắt đầu lo lắng.
Sau khi bước sang tháng 2, tình hình không những không cải thiện mà còn xấu đi. Cô bắt đầu bị chảy máu bất thường. Sợ hãi, Hollie nhanh chóng đặt lịch hẹn với bác sĩ.
Trong quá trình khám, bác sĩ sờ thấy một khối u ở bụng cô nên đã tiến hành siêu âm. Kết quả cho thấy một khối u nang khổng lồ ở buồng trứng phải. Nó đã dài tới 18cm ngay trong lần siêu âm đầu tiên, không ngạc nhiên khi Hollie cảm thấy như mình "có thai".
Một tuần sau, khi nhập viện và trải qua ca phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, các bác sĩ phát hiện khối u nang đã phát triển đến kích thước 27cm - lớn hơn cả một quả bóng đá.
Tình trạng nghiêm trọng hơn dự kiến; khối u nang đã bao trùm hoàn toàn buồng trứng phải của Hollie và không thể cắt bỏ riêng lẻ. Buồng trứng và ống dẫn trứng phải được cắt bỏ cùng nhau. Sau ca phẫu thuật, bụng của Hollie trở lại kích thước bình thường, các dấu hiệu khó chịu cũng không còn nữa.
U nang buồng trứng là bệnh thường gặp ở phụ nữ độ tuổi từ 14-55. U nang buồng trứng là hiện tượng một quả bóng nhỏ trong chứa đầy không khí hay chất dịch lỏng nằm ở một bên buồng trứng gây áp lực lên phần bụng dưới. 95% trường hợp u nang buồng trứng là lành tính.
Bệnh này thường gây trướng bụng, đau phần bụng dưới, đau theo chu kỳ; đau mỏi lưng, khó thở và khó cử động; đường tiết niệu bị co thắt; đau khi giao hợp; chảy máu dạ con do giảm lượng estrogen... U nang buồng trứng có thể gây vô sinh, sẩy thai, đẻ non, khó đẻ.
Có nhiều nguyên nhân gây ra bệnh u nang buồng trứng như: sử dụng quá nhiều thực phẩm chứa hormon như các loại thịt và sữa có cho thêm hormon tăng trưởng; chế độ ăn uống không cân bằng, ít thực phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên; dùng quá nhiều thuốc tránh thai; gan bị nhiễm độc hoặc do làm việc quá sức; béo phì, stress.
Cách điều trị u nang buồng trứng là phẫu thuật cắt bỏ u, phẫu thuật càng sớm càng tốt để tránh biến chứng. Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân nên tái khám theo lịch hẹn của bác sĩ.
"Bây giờ tôi đi tiếp thì đơn độc mà quay về thì dang dở", Phương Nhi, 31 tuổi, sống tại bang Illinois, Mỹ nói.
Năm 2004, bà Tô Thị Hồng (mẹ Nhi) ở phường Phú Định, TP HCM được chị ruột bảo lãnh sang Mỹ định cư theo diện F4. Hồ sơ cho phép chồng và các con dưới 21 tuổi độc thân đi kèm. Lúc đó, gia đình có 6 thành viên, gồm vợ chồng bà Hồng và bốn người con, trong đó Phương Nhi là con út.
Sau 15 năm chờ đợi, năm 2019 hồ sơ của bà Hồng được duyệt nhưng ba người con đã quá tuổi đi kèm. Vợ chồng bà và Phương Nhi (được tính dưới 21 tuổi nhờ Đạo luật CSPA) đủ điều kiện định cư.
Cuối năm đó, gia đình chia hai nửa tại sân bay Tân Sơn Nhất.
Để đưa ba người con còn lại sang Mỹ, vợ chồng bà Hồng nộp hồ sơ diện F2B (con trên 21 tuổi chưa kết hôn của thường trú nhân). Họ dự kiến chờ 5 năm, nhưng đến nay hồ sơ vẫn chưa hoàn tất do hệ thống di trú đình trệ sau Covid-19.
Không chỉ chịu cảnh gia đình chia cắt, cuộc sống của 6 thành viên trong gia đình rơi vào cảnh dở dang. Tại Mỹ, vợ chồng bà Hồng không biết tiếng Anh để giao tiếp, không nghề nghiệp và thu nhập. Họ phụ thuộc hoàn toàn vào tiền từ Việt Nam gửi sang.
Ban đầu, bà Hồng thích không khí trong lành, yên tĩnh của nước Mỹ, nhưng sự hào hứng sau đó biến thành cảm giác ngột ngạt. Hàng ngày, bà đi bộ một vòng công viên rồi về nấu ăn, cuối tuần chờ con chở đi siêu thị châu Á. Chồng bà, ông Minh, nhiều lần học lái xe nhưng đều bỏ dở vì sợ tốc độ cao trên cao tốc. Không có bằng lái, ông ví mình như "người mất chân". Nơi họ sống thưa dân và hiếm người Việt, ông quay quắt nhớ cảm giác đi xe máy uống cà phê hay trò chuyện với hàng xóm.
Cách đây bốn năm, người chị đứng đơn bảo lãnh qua đời vì ung thư khiến động lực ở lại Mỹ của vợ chồng bà Hồng càng mong manh. Vì cô đơn, cứ khoảng 6 tháng, vợ chồng bà Hồng lại mua vé bay về Việt Nam. Việc rời Mỹ nhiều tháng khiến ông bà bị ngắt quãng chuỗi cư trú liên tục, không đủ điều kiện thi lấy quốc tịch.
Cuộc sống của Phương Nhi cũng đảo lộn. Cô bỏ dở chương trình thạc sĩ tại Việt Nam để sang Mỹ. Nơi đất khách, Nhi học lại bằng đại học chuyên ngành marketing trong hai năm để tìm việc. Việc thay đổi môi trường cùng áp lực học hành khiến cô không thể hòa nhập. "Ở Mỹ tôi rất cô đơn vì không có bạn thân", Nhi nói. Sau giờ làm, cô chỉ biết xem phim, đọc truyện để lấp đầy khoảng trống.
Ba anh chị của Nhi ở lại Việt Nam mắc kẹt theo một kiểu khác. Để không bị ảnh hưởng đến việc xét duyệt hồ sơ, hơn 20 năm qua họ không dám yêu đương, kết hôn.
Mỗi dịp Tết, cảm giác cô đơn và nhớ nhà của Nhi càng lớn. Cô muốn về nước. Nhưng cuối năm 2022, luật sư thông báo hồ sơ của ba anh chị em đã bước vào giai đoạn xử lý tại Trung tâm Thị thực Quốc gia (NVC). Cô đành tiếp tục ở lại Mỹ chờ đợi. "Chúng tôi chỉ muốn gia đình được ở cùng một nơi nhưng chờ đợi quá lâu khiến ai cũng mệt mỏi", Nhi nói.
Tình cảnh của gia đình Nhi không hiếm gặp trên các hội nhóm của những người chuẩn bị di cư Mỹ. Dữ liệu năm 2025 của Sở Di trú và Nhập tịch Mỹ (USCIS) ghi nhận khoảng 2,4 triệu đơn I-130 (công dân hoặc thường trú nhân Mỹ bảo lãnh người thân sang định cư) đang chờ xét duyệt.
Tình trạng tồn đọng kéo dài khiến thời gian chờ đợi ngày càng tăng. Nghiên cứu của Viện Cato (Mỹ) chỉ ra thời gian chờ trung bình cho các diện bảo lãnh gia đình tăng từ 4 năm 3 tháng (năm 1991) lên 8 năm 1 tháng (năm 2018). Trong đó, diện F4 có thời gian chờ lâu nhất, trung bình 14 năm 7 tháng. Sự chậm trễ khiến nhiều người bỏ lỡ các cột mốc quan trọng cuộc đời như học hành, kết hôn, sinh con, chăm sóc cha mẹ. Đặc biệt, việc phải hoãn hay bỏ dở học tập, mua nhà do tình trạng pháp lý không rõ ràng để lại ảnh hưởng rất lâu dài.
Ông José Latour, Luật sư trưởng của Văn phòng Luật di trú LatourLaw, trụ sở ở TP HCM, cho biết nhóm hồ sơ toàn cầu diện F4 hiện mới giải quyết đến các đơn nộp trước năm 2008.
"Trong nền văn hóa coi trọng gia đình như Việt Nam, sự chậm trễ này tạo ra áp lực lớn, đôi khi trở nên đau lòng", luật sư nói. Trong 33 năm hỗ trợ các gia đình bị xáo trộn vì chính sách di trú của Mỹ, ông từng chứng kiến nhiều người phải hoãn việc học của con, hoãn nghỉ hưu, đám cưới hay lễ tốt nghiệp. "Họ không biết mình nên chờ đợi cơ hội định cư hay từ bỏ để ổn định cuộc sống tại quê nhà", ông José Latour nói.
Ông dẫn chứng trường hợp một người cha nộp hồ sơ diện F4, luôn giữ tâm thế sẵn sàng lên máy bay nên dừng mọi kế hoạch đầu tư dài hạn tại Việt Nam với hy vọng các con được sang Mỹ học tập. Khi con ông đã tốt nghiệp đại học, đi làm và quá 21 tuổi khi người cha được cấp thị thực và không còn đủ điều kiện đi cùng. Người con này rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan giữa việc chờ khiếu nại để giữ cơ hội định cư Mỹ hay kết hôn ở Việt Nam để ổn định cuộc sống và chấp nhận từ bỏ quyền lợi di trú.
Từ thực tế trên, đại diện LatourLaw khuyên các gia đình nên chủ động chuẩn bị kế hoạch học tập, nghề nghiệp và tài chính theo kịch bản thời gian chờ kéo dài, thay vì phụ thuộc vào mốc xét duyệt của cơ quan di trú.
Dù hệ thống di trú Mỹ gặp nhiều khó khăn và tồn đọng lớn, ông José Latour vẫn đánh giá lạc quan về tương lai. Ông tin rằng Mỹ sẽ sớm quay lại truyền thống đón nhận người nhập cư hợp pháp và quy trình xử lý hồ sơ bảo lãnh gia đình sẽ hiệu quả hơn trong vài năm tới.