Nỗi lo này càng tăng lên khi được giải thích rằng đây là các thương tổn tiền ung thư dạ dày.
Tuổi Trẻ Online xin giới thiệu ý kiến của GS.TS Trần Thiện Trung về mối liên quan và cách phòng bệnh.
Viêm dạ dày do nhiễm vi khuẩn H. pylori có thể đưa đến viêm teo niêm mạc, dị sản ruột, loạn sản.
Đây là yếu tố nguy cơ quan trọng của ung thư dạ dày, đặc biệt là ở những chủng H. pylori có biểu hiện với gene cagA và vacA-dương tính, trong đó gene vacA m1 có liên quan đến mức độ biệt hóa của ung thư, đến viêm teo niêm mạc và dị sản ruột trên người bệnh Việt Nam ở khu vực phía Nam và TP.HCM.
Vi khuẩn H. pylori được Robin Warren và Barry Marshall tìm ra tại Perth, phía Tây Úc vào tháng 4-1982, kể từ đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vi khuẩn này gây bệnh trên người.
Ngày 3-10-2005, sau 23 năm phát hiện vi khuẩn H. pylori, hai giáo sư người Úc là Robin Warren và Barry Marshall được trao giải Nobel Y học và Sinh lý học vì đã có những khám phá to lớn cho khoa học về vi khuẩn H. pylori gây bệnh viêm dạ dày, loét dạ dày – tá tràng và ung thư dạ dày.
Năm 1994, Tổ chức Quốc tế nghiên cứu về ung thư (IARC: International Agency for Research on Cancer), và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xếp H. pylori là nguyên nhân hàng đầu hay là nhóm 1 gây ung thư biểu mô tuyến dạ dày.
Theo phân loại viêm dạ dày của hệ thống Sydney (1990) và Sydney cập nhật (1994) tại Houston, Texas, Hoa Kỳ, cập nhật các tiêu chuẩn về sự phân chia các mức độ và các thương tổn của viêm dạ dày có hoặc không kèm theo viêm teo niêm mạc cũng như các thương tổn “tiền ung thư” khác như: dị sản ruột/chuyển sản ruột (intestinal metaplasia) và loạn sản/nghịch sản (dysplasia).
Các thương tổn trên được coi là tiền ung thư nhưng không phải tất cả đều gây bệnh ung thư dạ dày. Trên thế giới, liên quan giữa bệnh nhân có dị sản ruột hay chuyển sản thì nguy cơ ung thư dạ dày sẽ tăng lên gấp 6 -10 lần. Tại Việt Nam, tỉ lệ này là 5,3 lần.
Về chẩn đoán các thương tổn tiền ung thư dạ dày cần phải dựa trên mô bệnh học niêm mạc dạ dày (giải phẫu bệnh), nội soi chỉ có tính gợi ý quan sát. Vì vậy ghi chẩn đoán các thương tổn trên ở đơn thuốc ngay sau khi nội soi dạ dày là chưa chính xác, điều đó làm cho người bệnh thêm lo lắng, hoang mang.
Điều trị tiệt trừ H. pylori thành công có thể ngăn ngừa được sự tiến triển thành ung thư dạ dày, các thương tổn viêm teo niêm mạc, tiền ung thư đều giảm, và có khả năng phục hồi bình thường của niêm mạc dạ dày.
Tuy nhiên đối với ung thư dạ dày, một vấn đề quan trọng đặt ra cho đến nay là còn chưa biết rõ tiến trình viêm teo niêm mạc – dị sản ruột – loạn sản – ung thư dạ dày xảy ra khi nào, vào thời điểm nào, và sau khi điều trị tiệt trừ H. pylori thì có thay đổi, đảo ngược được tiến trình này hay không? Có thể phòng ngừa hoàn toàn được ung thư dạ dày hay không?
Vì vậy cần có những nghiên cứu tiếp tục theo nhiều hướng khác nhau, và người bệnh cần phải được theo dõi lâu dài để làm sáng tỏ thời điểm, nguồn gốc phát sinh cũng như các điều kiện để viêm dạ dày tiến triển thành các thương tổn tiền ung thư và ung thư dạ dày như đã được biết đến trong những nghiên cứu của các thập kỷ qua.
Cách ăn uống đúng cách có vai trò quan trọng trong phòng bệnh, vì phòng bệnh hiệu quả hơn chữa bệnh. Với các bệnh dạ dày, mục tiêu chữa trị không chỉ là hết triệu chứng mà còn giúp người bệnh ăn uống trở lại bình thường.
Để làm được điều này, mỗi gia đình từ ông bà, cha mẹ đến con cháu cần biết và quyết tâm thay đổi thói quen ăn uống. Vì dùng đũa, muỗng (thìa) của mình đang ăn để lấy/gắp thức ăn chung hoặc lấy thức ăn cho người khác, uống chung… là nguồn lây bệnh chủ yếu.
Tùy điều kiện sinh hoạt, có thể áp dụng cách ăn uống phù hợp nhằm hạn chế nguy cơ lây nhiễm và tái nhiễm vi khuẩn H. pylori.
– Cách thứ nhất: Dọn mỗi người một phần ăn riêng hoặc một khay ăn riêng như ở Pháp, Nhật Bản…, và gần đây đang được áp dụng tại Việt Nam.
– Cách thứ hai: Ngồi ăn chung, mỗi người một chén nước chấm riêng, mỗi món ăn có muỗng chung, đũa chung để lấy thức ăn, không dùng đũa/muỗng mình đang ăn gắp/lấy thức ăn.
– Cách thứ ba: Cách ăn ở một số nơi là dùng đũa gắp/lấy thức ăn chung, và dùng muỗng/thìa của mình để ăn.
– Cách thứ tư: Cách ăn dọn từng món của người Pháp và các nước tiên tiến gần đây được dùng trong các nhà hàng Việt Nam.
– Cách thứ năm: Khi ăn chung, gắp thức ăn chung, phải trở đầu đũa hay còn gọi là “ăn đũa hai đầu”.
Bên cạnh đó, sinh hoạt ăn uống điều độ, đúng giờ. Ăn uống đủ chất dinh dưỡng, thức ăn rau sống rửa không sạch, nên nấu chín. Ăn nhiều rau xanh, trái cây, hạn chế ăn mặn, thịt cá ướp muối, hun khói, thực phẩm được bảo quản bằng nitrat…
Trong khi điều trị ở giai đoạn viêm dạ dày cấp, có thể hạn chế các thức ăn cay, chua. Sau điều trị cần cho người bệnh ăn uống bình thường.
Hút thuốc được xem là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến ung thư phổi. Do đó, người hút thuốc lâu năm trở thành nhóm có nguy cơ mắc bệnh cao, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Ngoài người hút thuốc lâu năm, những nhóm sau cũng cần tầm soát ung thư phổi dù cơ thể chưa có triệu chứng:
Trong nhiều ngành nghề, người lao động tiếp xúc lâu với các chất gây ung thư mà bản thân không nhận ra. Đó là những người làm việc trong lĩnh vực khai thác mỏ, đóng tàu, xây dựng, sản xuất vật liệu cách nhiệt, luyện kim hoặc công nghiệp hóa chất. Họ có nguy cơ phơi nhiễm với các chất như amiăng, silica, arsenic, chromium, nickel hay khí thải động cơ diesel. Đây đều là những tác nhân đã được xác định có khả năng làm tăng nguy cơ mắc ung thư phổi.
Điều đáng lưu ý là ảnh hưởng của các chất trên thường không xuất hiện ngay mà có thể kéo dài hàng chục năm sau khi tiếp xúc. Vì vậy, ngay cả khi đã nghỉ việc từ lâu và không có triệu chứng hô hấp, nguy cơ vẫn có thể tồn tại.
Một nghiên cứu đăng trên chuyên san International Journal of Environmental Research and Public Health cho thấy chụp CT liều thấp có thể giúp phát hiện sớm ung thư phổi ở những người từng tiếp xúc với amiăng. Điều này đặc biệt cần thiết nếu có thêm các yếu tố như lớn tuổi, có tiền sử hút thuốc.
Những người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), khí phế thũng hoặc một số bệnh xơ phổi có nguy cơ mắc ung thư phổi cao hơn dân số nói chung. Một trong những nguyên nhân của hiện tượng này là tình trạng viêm kéo dài trong mô phổi có thể làm tăng khả năng xuất hiện các đột biến ở tế bào.
Bên cạnh đó, nhiều người mắc COPD cũng từng hút thuốc lá trong thời gian dài, khiến nguy cơ càng cao hơn. Tuy nhiên, chỉ mắc COPD hoặc xơ phổi không có nghĩa là ai cũng cần chụp CT để tầm soát ung thư phổi. Trên thực tế, bác sĩ sẽ xem xét đồng thời nhiều yếu tố như tuổi, tiền sử hút thuốc, mức độ bệnh phổi và các yếu tố nguy cơ khác trước khi quyết định có nên chỉ định tầm soát hay không.
Tiền sử gia đình cũng là một yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Nếu cha mẹ, anh chị em ruột hoặc con từng mắc bệnh, nguy cơ của một người có thể cao hơn so với người không có tiền sử gia đình.
Điều này có thể liên quan đến yếu tố di truyền. Thế nhưng, nguyên nhân cũng có thể xuất phát từ chuyện các thành viên trong gia đình cùng chia sẻ môi trường sống, thói quen sinh hoạt hoặc cùng tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ như khói thuốc lá, theo Medical News Today.
Với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), ngày càng nhiều ứng dụng công nghệ có thể phân tích âm thanh và đưa ra dự đoán về nhu cầu của trẻ, từ đó hỗ trợ phụ huynh trong quá trình chăm sóc con nhỏ, báo Straits Times đưa tin ngày 12-6.
Tại Nhật Bản, ngày càng nhiều công cụ ứng dụng AI được phát triển nhằm giải mã tiếng khóc của trẻ sơ sinh. Một trong những ứng dụng thu hút sự chú ý là Babylingual, do Moto Numazawa, một ông bố 25 tuổi sống tại tỉnh Kanagawa, phát triển và ra mắt vào tháng 3 năm nay.
Ứng dụng hoạt động bằng cách ghi nhận âm thanh trẻ phát ra rồi sử dụng AI để phân tích. Khi anh Numazawa thử sử dụng ứng dụng với cậu con trai ba tháng tuổi Saku, hệ thống nhanh chóng đưa ra kết quả rằng em bé đang đói. Ứng dụng cũng hiển thị mức độ tin cậy của nhận định này và gợi ý phụ huynh nên cho trẻ bú. Sau khi được cho ăn, Saku nhanh chóng chìm vào giấc ngủ.
Theo nhà phát triển, Babylingual được xây dựng dựa trên các nghiên cứu cho rằng trẻ sơ sinh tạo ra những kiểu âm thanh khác nhau tương ứng với từng nhu cầu như đói, buồn ngủ hoặc khó chịu.
Hiện ứng dụng phân loại tiếng khóc thành năm nhóm chính. Ngoài ra, người dùng có thể lưu lại các bản ghi âm để chia sẻ với người thân hoặc sử dụng tính năng hướng dẫn bằng giọng nói nhằm hỗ trợ ru trẻ ngủ.
Dù thừa nhận cha mẹ sẽ dần học được cách nhận biết tín hiệu của con theo thời gian, anh Numazawa cho rằng công nghệ có thể đóng vai trò hỗ trợ trong giai đoạn đầu.
Không chỉ Babylingual, nhiều dự án tương tự cũng đang được triển khai tại Nhật Bản. Công ty Cross Medicine thuộc Đại học Tokushima đã phát triển ứng dụng Awababy, sử dụng AI được huấn luyện từ hơn 160.000 bản ghi âm tiếng khóc của trẻ sơ sinh. Ứng dụng này có khả năng nhận diện 11 trạng thái cảm xúc khác nhau và đưa ra các khuyến nghị phù hợp cho phụ huynh.
Theo Cross Medicine, dịch vụ đặc biệt được sử dụng nhiều vào ban đêm - thời điểm các bậc cha mẹ thường khó tìm kiếm sự hỗ trợ từ người khác. Công ty cũng kỳ vọng công nghệ này có thể góp phần giảm nguy cơ trầm cảm sau sinh.
Một số địa phương tại Nhật Bản hiện đã bắt đầu thử nghiệm hoặc xem xét cung cấp miễn phí các ứng dụng dạng này cho người dân.
Nội dung khám: các dấu hiệu sinh tồn; đánh giá tình trạng dinh dưỡng; đánh giá sự phát triển tinh thần, vận động; đánh giá tiêm chủng. Thực hiện khám tổng thể và các bộ phận: da, đầu - cổ, mắt, tai mũi họng, răng miệng, hô hấp, tim mạch, bụng và cơ quan sinh dục, cơ xương khớp và thần kinh; trắc nghiệm phát hiện nguy cơ tự kỷ (áp dụng cho trẻ từ 16 - 30 tháng tuổi).
Cũng theo hướng dẫn của Bộ Y tế, sẽ khám sức khỏe cho các nhóm: từ 6 đến dưới 18 tuổi; khám chuyên khoa phụ sản trong khám sức khỏe định kỳ cho lao động nữ; khám sức khỏe định kỳ đối với cán bộ, học sinh, người lao động thuộc các ngành nghề đặc thù…
Trong đó, với người từ đủ 18 tuổi trở lên, ngoài khám đầy đủ các nội dung chuyên khoa lâm sàng cơ bản, sẽ thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng bao gồm: xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu, chẩn đoán hình ảnh. Các xét nghiệm khác thực hiện theo tình hình thực tiễn về khả năng hỗ trợ chi trả của địa phương hoặc khi có yêu cầu tự nguyện chi trả của người dân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
Hướng dẫn cũng lưu ý cần phân nhóm đối tượng ưu tiên và sắp xếp lịch khám đảm bảo phù hợp và thuận tiện cho người dân, tránh quá tải. Khi hỏi tiền sử bệnh tật, khám lâm sàng, cận lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh, nếu có dấu hiệu tổn thương nghi ngờ mắc bệnh lao, u phổi hay bệnh lý khác, người hành nghề cần chỉ định thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng chuyên khoa làm căn cứ chẩn đoán, điều trị hoặc chuyển cơ sở khám chữa bệnh phù hợp để chẩn đoán và can thiệp sớm.