Ông Đỗ Thành Trung 50 tuổi, kế nhiệm ông Lê Ngọc Châu vừa được bầu làm Bí thư Thành ủy. Ông quê Gia Lai, trình độ thạc sĩ Kinh tế. Ông có nhiều năm công tác tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, từng là Trưởng phòng Tổng hợp Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ, sau đó giữ chức Phó vụ trưởng rồi Vụ trưởng Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân.
Tháng 3/2023, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Tháng 2/2025, sau khi Bộ Tài chính sáp nhập với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ông giữ cương vị Thứ trưởng Bộ Tài chính.
Hơn một tháng trước, ông được điều động, chỉ định tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và giữ chức Phó bí thư Thành ủy Hải Phòng nhiệm kỳ 2025-2030.
6 Phó chủ tịch UBND thành phố tiếp tục được bầu giữ chức nhiệm kỳ 2026-2031 gồm các ông Lê Anh Quân, Vũ Tiến Phụng, Trần Văn Quân, Lê Trung Kiên, Hoàng Trung Cường, Nguyễn Minh Hùng.
Tại kỳ họp, ông Lê Văn Hiệu tái đắc cử Chủ tịch HĐND TP Hải Phòng nhiệm kỳ 2026-2031. Ông Hiệu 59 tuổi, quê Nam Sách, Hải Dương, là cử nhân Luật, thạc sĩ Kinh tế. Ông từng đảm nhiệm vị trí Chủ tịch HĐND tỉnh Hải Dương và Chủ tịch HĐND TP Hải Phòng sau sáp nhập.
Ba ông Đào Trọng Đức, Bùi Đức Quang và Nguyễn Hữu Toản tiếp tục được bầu làm Phó chủ tịch HĐND thành phố.
Sau khi sáp nhập với Hải Dương, TP Hải Phòng mới có diện tích hơn 3.190 km2, dân số hơn 4,6 triệu, đứng thứ 4 cả nước. Năm 2025, GRDP của thành phố ước tăng 11,81%, đứng thứ 2 toàn quốc và là năm thứ 11 liên tiếp tăng trưởng hai con số. Quy mô GRDP đạt 734.420 tỷ đồng, thu ngân sách đạt 190.379 tỷ đồng.
Năm 2026, thành phố đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP khoảng 13%, thu ngân sách hơn 194.000 tỷ đồng.
Tin Gốc: Vnexpress
Thời Sự
Bài phát biểu 19 lần nhắc về 'hòa bình' của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ở Đối thoại Shangri-La

Tối 29-5, tại Singapore, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có bài phát biểu dẫn đề ở Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 - diễn đàn có uy tín và ảnh hưởng lớn đối với các vấn đề hòa bình, an ninh và cấu trúc khu vực.
Bài phát biểu tập trung vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương, quan điểm và đề xuất của Việt Nam trước bối cảnh hiện tại. Xuyên suốt phát biểu là một tinh thần hành động: hòa bình không thể thụ động chờ đợi, mà phải được chủ động kiến tạo; ổn định không thể chỉ dựa vào răn đe, mà phải được nuôi dưỡng bằng luật lệ, đối thoại, tự kiềm chế và lòng tin; còn phát triển không thể đứng ngoài an ninh, mà ngược lại phải là nền tảng cho an ninh bền vững.
Tuổi Trẻ Online trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu với nhiều thông điệp quan trọng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm:
CHỦ ĐỘNG KIẾN TẠO HÒA BÌNH - ỔN ĐỊNH - PHÁT TRIỂN TRONG MỘT THẾ GIỚI NHIỀU BIẾN ĐỘNG
Thưa Ngài Lawrence Wong, Thủ tướng nước chủ nhà Singapore,
Thưa Tiến sĩ Bastian Giegerich, Tổng giám đốc Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS),
Thưa quý vị và các bạn.
Trước hết, tôi trân trọng cảm ơn Chính phủ Singapore và Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế đã dành cho tôi vinh dự phát biểu tại phiên khai mạc của diễn đàn quan trọng này. Trong hơn hai thập kỷ qua, Đối thoại Shangri-La đã trở thành không gian đối thoại hàng đầu về an ninh khu vực, nơi các quốc gia cùng chia sẻ nhận định, lắng nghe nghiêm túc và tìm kiếm những cách tiếp cận có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định và phát triển.
Chúng ta gặp nhau vào thời điểm thế giới đứng trước nhiều rủi ro, bất định: kết nối rộng hơn nhưng dễ tổn thương hơn; công nghệ tiến bộ hơn nhưng rủi ro lạm dụng lớn hơn; phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc hơn nhưng cũng dễ bị biến thành công cụ gây sức ép hơn. Trong khi các quốc gia đều nói về hòa bình, ổn định và hợp tác, môi trường chiến lược lại gia tăng nghi kỵ, phân mảnh và cạnh tranh thiếu kiểm soát.
Vì vậy, điều chúng ta cần là thống nhất và triển khai một tầm nhìn chung, tối thiểu và thiết yếu, để bảo đảm hòa bình, lòng tin và phát triển cho nhân loại trong thế kỷ XXI. Đồng thời, nâng cao năng lực ngăn ngừa khủng hoảng từ sớm, từ xa; bởi thực tế cho thấy, nhiều khủng hoảng lớn thường bắt đầu từ những hiểu lầm không được hóa giải, những tín hiệu không được giải mã đúng và những cơ chế phòng ngừa không kích hoạt kịp thời.
Trên tinh thần ấy, tôi muốn chia sẻ chủ đề: Chủ động kiến tạo hòa bình - ổn định - phát triển trong một thế giới nhiều biến động.
Thưa quý vị,
Biến động là trạng thái thường trực của thế giới. Nhưng để biến động dẫn tới xung đột hay trở thành động lực tiến tới hòa bình lại là lựa chọn chiến lược của các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Khi nhìn vào thế giới hôm nay, tôi cho rằng những bất ổn hiện nay phản ánh ba cuộc khủng hoảng nền tảng đang diễn ra đồng thời và tác động lẫn nhau. Đó là: Khủng hoảng trật tự quốc tế, khủng hoảng mô hình phát triển và khủng hoảng lòng tin chiến lược.
Trước hết là khủng hoảng trật tự quốc tế. Trật tự quốc tế không phải là điều bất biến. Một trật tự công bằng có thể điều chỉnh để phản ánh những thay đổi của thế giới. Nhưng mọi sự điều chỉnh cần diễn ra bằng luật lệ, đối thoại, chia sẻ và tự kiềm chế; không thể bằng cưỡng ép, áp đặt, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc tạo "sự đã rồi".
Khủng hoảng trật tự quốc tế bắt đầu khi luật lệ vẫn được nhắc đến, nhưng sức ràng buộc suy giảm; khi cam kết vẫn được tuyên bố, nhưng hành động thực tế lại làm xói mòn chính những cam kết ấy; khi nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế bị diễn giải theo hướng áp đặt chủ quan, được thực thi không nhất quán, hoặc bị đặt sau tư duy ưu tiên sử dụng sức mạnh, "cá lớn nuốt cá bé".
Trong một môi trường như vậy, các quốc gia, nhất là các quốc gia vừa và nhỏ, phải đối mặt với sức ép chọn phe, sự cưỡng ép về kinh tế, công nghệ, tài chính và an ninh; đồng thời những không gian kết nối như biển và đại dương, không gian mạng, chuỗi cung ứng, hạ tầng số, tuyến cáp dữ liệu lại có nguy cơ trở thành không gian cạnh tranh. Những căng thẳng gần đây tại các tuyến hàng hải chiến lược ở Trung Đông cho thấy xung đột tại một điểm nóng có thể nhanh chóng tác động đến thương mại, năng lượng, logistics và đời sống kinh tế - xã hội của nhiều khu vực khác nhau trên phạm vi toàn cầu.
Hai là khủng hoảng mô hình phát triển. Trong nhiều thập kỷ, toàn cầu hóa, thương mại, đầu tư, công nghệ và kết nối chuỗi cung ứng đã tạo ra cơ hội phát triển to lớn cho nhiều quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển. Nhưng cũng chính những động lực ấy đang đứng trước nhiều sức ép mới. Tăng trưởng chậm lại. Nợ công và chi phí vốn gia tăng. Biến đổi khí hậu đe dọa sinh kế của hàng trăm triệu người. Công nghệ mới mở ra cơ hội lớn nhưng cũng tạo ra khoảng cách mới. Thương mại, tài chính, thuế quan, năng lượng, lương thực, dữ liệu và công nghệ có nguy cơ bị sử dụng như công cụ gây sức ép.
Đối với rất nhiều quốc gia, phát triển không phải là lựa chọn thứ yếu đặt sau an ninh. Phát triển chính là nền tảng của an ninh bền vững. Nếu quá trình phát triển bị gián đoạn, nếu các nước đang phát triển bị thu hẹp cơ hội vươn lên, thì sự "tròng trành" về kinh tế rất dễ chuyển hóa thành bất ổn về xã hội, chính trị và thậm chí bất định về chiến lược.
Ba là khủng hoảng lòng tin chiến lược. Đây là cuộc khủng hoảng âm thầm nhưng nguy hiểm, vì nó khiến các quốc gia dễ nhìn hành động của nhau qua lăng kính nghi kỵ và bất an. Khi lòng tin suy giảm, một động thái phòng vệ có thể bị diễn giải thành khiêu khích, một khác biệt lợi ích có thể bị đẩy thành đối đầu, một sự cố nhỏ có thể kích hoạt vòng xoáy phản ứng nếu thiếu đối thoại, liên lạc và tự kiềm chế.
Lòng tin chiến lược không phải là xóa bỏ khác biệt hay phủ nhận cạnh tranh. Điều cốt lõi là quản trị khác biệt trong khuôn khổ luật lệ, làm cho cạnh tranh có giới hạn, có trách nhiệm và có thể dự báo. Một trật tự khu vực bền vững không thể được xây dựng trên nỗi sợ thường trực và sự thiếu tin cậy lẫn nhau.
Công nghệ mới đang làm thách thức này phức tạp hơn. Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, không gian mạng, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động và hạ tầng số vừa mở rộng năng lực phát triển cao hơn, vừa có thể khuếch đại nghi kỵ, thao túng thông tin, rút ngắn thời gian ra quyết định và làm tăng nguy cơ tính toán sai lầm. Khi công nghệ vượt quá tốc độ của luật lệ và sự kiểm soát của con người, ổn định chiến lược trở nên mong manh hơn.
Vì vậy, vượt qua khủng hoảng lòng tin đòi hỏi có một khung chiến lược để xây dựng lòng tin chiến lược, gồm kênh liên lạc nhanh khi có sự cố, minh bạch, đối thoại, chia sẻ thông tin thực chất để giảm hiểu lầm, quy tắc ứng xử rõ ràng để ngăn va chạm và chuẩn mực công nghệ đủ mạnh để bảo đảm con người luôn giữ trách nhiệm cuối cùng trong những quyết định có hệ quả an ninh nghiêm trọng.
Ba cuộc khủng hoảng nêu trên đang hội tụ rõ nét tại châu Á - Thái Bình Dương. Đây là trung tâm tăng trưởng năng động của thế giới, nhưng cũng là nơi cạnh tranh chiến lược gay gắt; là không gian của các tuyến hàng hải huyết mạch, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trên biển; là khu vực hưởng lợi sâu từ toàn cầu hóa, nhưng đang chịu sức ép trực tiếp từ phân mảnh chuỗi cung ứng, biến đổi khí hậu, chuyển đổi công nghệ và cạnh tranh địa kinh tế mới.
Chính vì là nơi hội tụ thách thức, châu Á - Thái Bình Dương cũng phải là nơi khởi phát lời giải. Khu vực này có lợi ích chung trong hòa bình, kết nối và phát triển; có kinh nghiệm hợp tác đa tầng; có ASEAN như một cấu trúc đối thoại và cân bằng; có đủ động lực và quyết tâm không để cạnh tranh trượt thành đối đầu, không để các tuyến kết nối trở thành đường ranh chia cắt, không để an ninh của nước này thành bất an của nước khác.
Từ cách nhìn đó, tôi xin chia sẻ một số định hướng để cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, phát triển, tự cường và có năng lực giảm thiểu rủi ro từ sớm, từ xa.
Thứ nhất, phải làm cho luật lệ và đối thoại trở thành phương tiện hữu hiệu giảm thiểu rủi ro thực sự. Đối thoại Shangri-La là nơi các quốc gia lắng nghe nhau, làm rõ ý định, tìm kiếm điểm chung và kiểm soát khác biệt, nhưng đối thoại không nên dừng ở phát biểu lập trường. Đối thoại phải giúp nhận diện sớm rủi ro, chia sẻ thông tin, duy trì kênh liên lạc khi căng thẳng và ngăn khác biệt trượt thành khủng hoảng.
Trật tự dựa trên luật lệ cũng không thuộc về riêng một nhóm quốc gia nào, mà là nền tảng chung để các nước lớn, vừa và nhỏ cùng tồn tại hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và bình đẳng giữa các quốc gia. Luật lệ chỉ có sức sống khi được thực thi nhất quán và chuyển hóa thành cơ chế cụ thể như cảnh báo sớm, liên lạc khẩn cấp, xử lý sự cố, tự kiềm chế và hợp tác có thể kiểm chứng.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với biển và đại dương. Biển và đại dương là tài nguyên, là không gian kết nối chung, là huyết mạch của thương mại, năng lượng, lương thực và chuỗi cung ứng toàn cầu. Không quốc gia nào được lợi nếu các tuyến kết nối ấy trở thành nơi phô diễn sức mạnh, cưỡng ép hoặc đối đầu.
Đối với Biển Đông, lập trường của Việt Nam là nhất quán, rõ ràng và có nguyên tắc. Việt Nam ủng hộ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Việt Nam tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các quốc gia khác; đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của mình theo luật pháp quốc tế.
Thứ hai, cần kiến tạo một cấu trúc khu vực mở, bao trùm và lấy ASEAN làm trung tâm. Trong bối cảnh nhiều cơ chế và sáng kiến mới xuất hiện, chúng ta cần xây dựng một cấu trúc có khả năng kết nối lợi ích, giảm nghi kỵ và bổ trợ cho các cơ chế hiện có. Mọi sáng kiến đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển đều đáng được hoan nghênh, nếu minh bạch, tôn trọng luật pháp quốc tế, bổ trợ cho nhau và không làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN và không biến Đông Nam Á thành không gian đối đầu giữa các khối.
Vai trò trung tâm của ASEAN không tự nhiên mà có và cũng không tự duy trì. ASEAN chỉ có thể giữ vai trò đó bằng đoàn kết, tự chủ chiến lược và năng lực kiến tạo chương trình nghị sự chung. Bao trùm phải gắn với hiệu quả, đối thoại phải tạo ra hành động, đồng thuận phải giúp khu vực phản ứng kịp thời trước các vấn đề chung.
Việt Nam ủng hộ và sẵn sàng hợp tác chặt chẽ với Philippines trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2026, cùng các nước thành viên củng cố hòa bình, an ninh, mở rộng các hành lang thịnh vượng, thúc đẩy kết nối, phát triển bao trùm, bền vững và đặt người dân ASEAN ở vị trí trung tâm.
Thứ ba, cần đặt an ninh con người và năng lực chống chịu xã hội vào trung tâm của an ninh bền vững. Bất ổn hôm nay không chỉ đến từ xung đột quân sự mà còn từ những đứt gãy trong đời sống phát triển. Vì vậy, củng cố quốc phòng là nhu cầu chính đáng, nhưng an ninh bền vững không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân sự, càng không thể được xây bằng chạy đua vũ trang hoặc bằng cách làm gia tăng bất an phát triển cho nước khác.
Điều chúng ta cần là một nền tảng phát triển có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc, chuỗi cung ứng mở và đa dạng, kết nối hạ tầng thông suốt, hợp tác về tài chính, công nghệ và nhân lực; đồng thời thúc đẩy hợp tác thiết thực trong cứu trợ thảm họa, y tế, an ninh nguồn nước, lương thực, năng lượng, an ninh mạng, bảo vệ hạ tầng trọng yếu và tìm kiếm cứu nạn. Một khi hợp tác mang lại sự bảo đảm an toàn, sinh kế và nâng cao đời sống của người dân, lòng tin chiến lược sẽ được củng cố và bồi đắp.
Thứ tư, cần kiến tạo các chuẩn mực trách nhiệm đối với công nghệ mới và công nghiệp quốc phòng. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động, công nghệ không gian, an ninh mạng và chuỗi cung ứng công nghệ cao đang định hình lại an ninh quốc tế. Những công nghệ này có thể mở rộng năng lực phát triển, dự báo rủi ro và quản trị, nhưng cũng có thể bị lạm dụng để tấn công mạng, thao túng thông tin, tự động hóa xung đột, giám sát bất hợp pháp hoặc tạo ra các hình thức cưỡng ép mới.
Trong quốc phòng - an ninh, câu hỏi hệ trọng không phải là công nghệ mạnh đến đâu, mà là con người có thể kiểm soát được công nghệ ấy đến mức nào. Vì vậy, chúng ta cần thúc đẩy đối thoại về AI trong quốc phòng - an ninh, bảo đảm trách nhiệm cuối cùng của con người trong các quyết định có hệ quả nghiêm trọng, quy tắc ứng xử trên không gian mạng, bảo vệ cáp biển, hạ tầng dữ liệu trọng yếu, minh bạch đối với các công nghệ tác động đến ổn định chiến lược. Công nghiệp quốc phòng cần phục vụ phòng vệ chính đáng và ổn định khu vực, không trở thành động lực cho chạy đua vũ trang.
Thứ năm, cần củng cố nền tảng xã hội và khả năng chống chịu; bảo vệ không gian thông tin và nâng cao nhận thức. Trong thế giới kết nối số sâu rộng, bất ổn không chỉ đến từ xung đột quân sự, đứt gãy chuỗi cung ứng hay tấn công mạng, mà còn có thể bắt đầu từ sự xói mòn niềm tin trong xã hội. Tin giả, thao túng thông tin, kích động cực đoan, phân cực xã hội và các chiến dịch gây ảnh hưởng có chủ đích có thể làm suy yếu đồng thuận quốc gia, làm méo mó nhận thức công chúng, khoét sâu chia rẽ và khiến khủng hoảng lan nhanh hơn.
Vì vậy, bảo vệ hòa bình trong thời đại mới cũng đòi hỏi phải bảo vệ sự thật, củng cố niềm tin xã hội, nâng cao năng lực truyền thông chiến lược, giáo dục công dân số, thúc đẩy trách nhiệm của các nền tảng công nghệ và hợp tác quốc tế trong chống thông tin sai lệch. Một xã hội có khả năng phân biệt đúng sai, giữ được đồng thuận trước biến động và không bị dẫn dắt bởi sợ hãi, thù hận hay thao túng sẽ là nền tảng quan trọng của an ninh bền vững.
Thứ sáu, cần nâng cao năng lực ngoại giao phòng ngừa, hòa giải và trung gian trong khu vực. Nhiều cuộc khủng hoảng không bùng phát chỉ vì khác biệt lợi ích mà vì các bên thiếu kênh trao đổi đáng tin cậy, thiếu không gian để xuống thang và thiếu cơ chế giúp chuyển đối đầu trở lại đối thoại.
Vì vậy, châu Á - Thái Bình Dương cần coi ngoại giao phòng ngừa là một năng lực chiến lược, không phải là biện pháp tình thế sau khi khủng hoảng đã xảy ra. Chúng ta cần nhiều hơn các kênh tham vấn khác nhau, các cơ chế trung gian linh hoạt, các nhóm tiếp xúc khi có sự cố, các diễn đàn bán chính thức và những sáng kiến xây dựng lòng tin giữa quân đội, an ninh, lực lượng thực thi pháp luật, học giả, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Mục tiêu là tạo ra những "lối thoát ngoại giao" trước khi các bên bị cuốn vào vòng xoáy leo thang dẫn đến nguy cơ xung đột.
Với các đối tác có ảnh hưởng lớn trong và ngoài khu vực, Việt Nam mong muốn gửi một thông điệp chân thành: châu Á - Thái Bình Dương là không gian mở, mọi quốc gia có lợi ích chính đáng đều có thể đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển.
Khu vực hoan nghênh sự hiện diện minh bạch, có trách nhiệm, tôn trọng luật pháp quốc tế, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và góp phần giảm căng thẳng.
Điều khu vực mong muốn không phải là sự hiện diện hay vắng mặt thuần túy của bất kỳ nước lớn nào, mà là một cam kết có trách nhiệm. Chúng tôi nhìn nhận cạnh tranh là tất yếu, nhưng cạnh tranh phải được đặt trong giới hạn của luật pháp, minh bạch và tự kiềm chế.
Ba cuộc khủng hoảng của thế giới hôm nay không phải là điều tất yếu mà chúng ta buộc phải chấp nhận. Điều quan trọng là phải nhìn thẳng vào khủng hoảng, nhưng không để khủng hoảng che khuất cơ hội hành động. Khủng hoảng trật tự quốc tế cho thấy luật pháp quốc tế và sự tự kiềm chế cần được củng cố. Khủng hoảng mô hình phát triển cho thấy cần làm mới các động lực tăng trưởng theo hướng bao trùm, bền vững và lấy con người làm trung tâm. Khủng hoảng lòng tin chiến lược đòi hỏi đối thoại, minh bạch, trách nhiệm và những cơ chế hợp tác thực chất hơn.
Những câu trả lời ấy sẽ không tự hình thành. Chúng chỉ có thể trở thành hiện thực nếu các quốc gia cùng nhau duy trì và kiến tạo luật lệ, kết nối lợi ích, củng cố lòng tin và xây dựng các cơ chế giảm thiểu rủi ro có hiệu lực trong thực tế.
Trong một thế giới nhiều biến động, thách thức không chỉ đến từ những bất ổn bên ngoài, mà còn từ việc chúng ta chưa chuẩn bị đủ tốt để quản trị rủi ro. Điều quan trọng là chuyển từ ứng phó bị động sang kiến tạo chủ động; từ nhắc lại nguyên tắc sang vận hành cơ chế; từ quản lý khủng hoảng sau khi xảy ra sang giảm thiểu rủi ro trước khi khủng hoảng bùng phát.
Vì vậy, lựa chọn của châu Á - Thái Bình Dương hôm nay không phải là giữa cạnh tranh hay không cạnh tranh, bởi cạnh tranh là một thực tế của quan hệ quốc tế. Lựa chọn quan trọng hơn là giữa cạnh tranh thiếu kiểm soát và cùng tồn tại có trách nhiệm; giữa chia rẽ và đối thoại; giữa nghi kỵ, cưỡng ép và một trật tự dựa trên luật lệ và lòng tin. Việt Nam tin rằng khu vực của chúng ta có đủ bản lĩnh và lợi ích chung để lựa chọn con đường hòa bình, hợp tác và thịnh vượng.
Việt Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình bằng chính lịch sử của mình, hiểu giá trị của phát triển bằng chính hành trình Đổi mới và hội nhập của mình. Từ trải nghiệm ấy, Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng lợi ích quốc gia của chúng tôi gắn bó chặt chẽ với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực.
Đóng góp cho hòa bình khu vực cũng là bảo vệ lợi ích lâu dài của Việt Nam. Mở rộng hợp tác, giảm thiểu rủi ro và kết nối các lợi ích chính đáng cũng chính là cách Việt Nam thực hiện trách nhiệm của mình đối với cộng đồng quốc tế.
Hòa bình, ổn định và phát triển là mẫu số chung của mọi quốc gia và dân tộc. Nhưng chỉ có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành hành động cụ thể, kiềm chế trước bất đồng, đối thoại khi khác biệt gia tăng, hợp tác khi thách thức vượt qua biên giới, và xây dựng những cơ chế giảm thiểu rủi ro có thể vận hành trong thực tế.
Với tinh thần đó, Việt Nam sẵn sàng cùng các quốc gia trong và ngoài khu vực củng cố luật lệ, bồi đắp lòng tin, thúc đẩy đối thoại, tăng cường hợp tác, giảm thiểu rủi ro và cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương an toàn hơn, tự cường hơn và thịnh vượng hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Tiến sĩ - bác sĩ (TS-BS) Bùi Minh Trạng, Giám đốc Viện Tim TP.HCM (nguyên Chánh thanh tra Sở Y tế TP.HCM), cho biết hiện có các loại hình phương pháp phi y tế phổ biến. Đó là liệu pháp thải độc, chế độ ăn đặc biệt, sử dụng vitamin hoặc thực phẩm chức năng liều cao; phương pháp "tự nhiên" thay thế điều trị chuẩn.
Theo TS Bùi Minh Trạng, sự gia tăng các phương pháp chữa bệnh phi y tế cùng bùng nổ mạng xã hội đang gây áp lực lớn cho hệ thống y tế. Thông tin sai lệch lan nhanh, khiến người dân trì hoãn điều trị, tăng nguy cơ biến chứng và giảm niềm tin vào y học chứng cứ. Tại VN, hiện tượng này chịu tác động từ y học cổ truyền, thương mại điện tử và mạng xã hội. Trong kỷ nguyên số, thông tin sức khỏe không còn thuộc riêng giới chuyên môn, nhưng lại thiếu kiểm chứng. Khái niệm "infodemic" do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) nêu trong đại dịch Covid-19 mô tả tình trạng dư thừa thông tin, gây khó khăn cho việc tiếp cận nguồn tin đáng tin cậy, đồng thời thúc đẩy các phương pháp chữa bệnh thiếu cơ sở khoa học lan rộng.
Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nội dung y tế sai lệch trên mạng xã hội đang ở mức đáng báo động, đặc biệt trong các lĩnh vực như ung thư, vắc xin và dinh dưỡng. Các nền tảng như TikTok, YouTube và Instagram trở thành nguồn thông tin chính của một bộ phận lớn người dùng, trong đó nội dung thiếu bằng chứng lại thường có mức lan truyền cao hơn.
TS-BS Bùi Minh Trạng nhấn mạnh một đặc điểm đáng chú ý là sự xuất hiện của những "người có ảnh hưởng" cung cấp thông tin y tế nhưng không có nền tảng chuyên môn. Những cá nhân này thường sử dụng cách truyền đạt cảm xúc, đơn giản hóa vấn đề để thu hút người theo dõi, từ đó làm tăng nguy cơ hiểu sai kiến thức y khoa.
Ở VN, việc sử dụng y học cổ truyền khá phổ biến, song ranh giới giữa phương pháp chính thống và không kiểm chứng còn mờ nhạt. Điều này tạo điều kiện cho nhiều sản phẩm và liệu pháp chưa đạt chuẩn lưu hành trên thị trường.
Hiện các nền tảng như Facebook, TikTok và Zalo đang là kênh chính để quảng bá các sản phẩm như "thuốc gia truyền", thực phẩm chức năng hay liệu pháp chưa được kiểm chứng. Nội dung quảng cáo thường dựa vào lời chứng thực cá nhân, cam kết hiệu quả tuyệt đối hoặc đưa ra thông tin sai lệch về cơ chế bệnh, thậm chí khuyến khích người bệnh không cần đến cơ sở y tế. Dù đã có quy định pháp lý liên quan đến quảng cáo và kinh doanh sản phẩm y tế, việc giám sát trên môi trường số vẫn đối mặt nhiều thách thức như khó kiểm soát nội dung xuyên biên giới, thiếu nguồn lực và chế tài chưa đủ sức răn đe.
Người tiêu dùng chỉ cần vào mạng xã hội gõ chữ "thải độc", "giải độc" hay còn gọi là detox… thì sẽ hiện ra hàng loạt kết quả. Những đường link sẽ dẫn đến những nội dung quảng cáo thải độc, thải độc tự nhiên, thải độc ruột, thải độc cà phê… Kèm theo đó là các sản phẩm, phương pháp được rao bán và được cho là có công dụng.
TS-BS Nguyễn Quang Huy, Trưởng khoa Ngoại tổng quát, Bệnh viện Nhân dân 115 (TP.HCM), cho biết hiện nhiều sản phẩm quảng cáo thải độc trên thị trường thực chất là thực phẩm bổ sung, không phải thuốc. Thành phần thường là chiết xuất từ các loại thực vật. Tuy nhiên, khái niệm "detox" trong các sản phẩm này không mang ý nghĩa y khoa chuẩn.
"Về mặt sinh lý, cơ thể con người vốn đã có hệ thống giải độc tự nhiên. Gan, thận và ruột đảm nhiệm các chức năng chuyển hóa và đào thải độc chất thông qua mật và nước tiểu. Vì vậy, việc lạm dụng các sản phẩm gắn mác thải độc có thể dẫn đến nhiều hiểu lầm", TS-BS Nguyễn Quang Huy nói.
Theo TS Huy, một trong những nguy cơ đáng lo ngại là người bệnh trì hoãn điều trị chính thống. Với các bệnh lý như gan nhiễm mỡ, viêm gan hay u gan, việc tin vào sản phẩm "detox" thay vì điều trị theo phác đồ có thể gây hậu quả nghiêm trọng. Bên cạnh đó, một số thành phần trong thực phẩm bổ sung có thể tương tác với thuốc điều trị, đặc biệt là thuốc chống đông, thuốc tiểu đường hoặc các thuốc chuyển hóa qua gan. Người sử dụng cũng có thể gặp tác dụng phụ như rối loạn tiêu hóa (đầy bụng, tiêu chảy) hoặc dị ứng, dù hiếm gặp.
"Trong y khoa, giải độc là khái niệm rõ ràng, chỉ việc loại bỏ hoặc trung hòa các chất độc đã được xác định trong những tình huống cụ thể. Ví dụ như ngộ độc thuốc (paracetamol, morphin), ngộ độc rượu, ngộ độc kim loại nặng (chì, thủy ngân), hoặc các trường hợp suy gan, suy thận dẫn đến tích tụ độc chất. Các phương pháp giải độc đúng nghĩa trong đời sống thực chất là hỗ trợ chức năng gan - thận, tức nền tảng sinh lý tự nhiên của cơ thể. Điều này bao gồm uống đủ nước, hạn chế rượu bia và thuốc không cần thiết, kiểm soát đường huyết và mỡ máu", TS Huy nói.
Ngược lại, nhiều phương pháp thải độc phổ biến như uống nước ép trong vài ngày, nhịn ăn cực đoan, sử dụng than hoạt tính thường xuyên hay "làm sạch gan" bằng thảo dược không có cơ sở khoa học rõ ràng, thậm chí tiềm ẩn rủi ro.
PGS-TS Phan Minh Hoàng, Chủ tịch Hội Thầy thuốc trẻ TP.HCM (Giám đốc Bệnh viện Phục hồi chức năng - điều trị bệnh nghề nghiệp TP.HCM), khẳng định chủ trương siết chặt quản lý thông tin sức khỏe của Bộ Y tế là hoàn toàn cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Mạng xã hội xuất hiện ngày càng nhiều nội dung thiếu kiểm chứng, thậm chí sai lệch, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.
Thực tế ghi nhận hàng loạt trào lưu phản khoa học đang lan truyền mạnh, như uống nước cốt chanh kéo dài để thải độc; nhịn ăn nhiều ngày, hoặc phơi nắng liên tục với niềm tin có thể "thải độc", "diệt tế bào ung thư". Tuy nhiên, các phương pháp này không có cơ sở khoa học, thậm chí tiềm ẩn nhiều nguy cơ.
Cụ thể, theo ông, nước chanh chứa hàm lượng a xít cao, nếu sử dụng thường xuyên khi bụng đói có thể gây tổn thương niêm mạc dạ dày. Trong khi đó, việc nhịn ăn kéo dài khiến cơ thể suy kiệt, thiếu năng lượng, rối loạn chuyển hóa. Nếu kết hợp với phơi nắng nhiều giờ, cơ thể còn đối mặt nguy cơ mất nước nghiêm trọng, gia tăng lão hóa và tổn thương tế bào.
"Đáng chú ý, một số quan điểm sai lầm cho rằng "bỏ đói" có thể tiêu diệt tế bào ung thư. Đây là nhận định nguy hiểm, vì tế bào ung thư có khả năng "tranh giành" dinh dưỡng từ cơ thể, phát triển dựa trên nguồn nuôi từ các tế bào lành. Khi cơ thể bị thiếu hụt dinh dưỡng, tế bào bình thường sẽ bị tổn thương trước, trong khi khối u vẫn tiếp tục tiến triển", PGS-TS Phan Minh Hoàng nói.
Không chỉ các trào lưu, tình trạng quảng cáo sai sự thật về thuốc và thực phẩm chức năng cũng gây hệ lụy đáng kể. Theo PGS-TS Phan Minh Hoàng, tại các bệnh viện, nhiều trường hợp nhập viện trong tình trạng xuất huyết tiêu hóa nặng sau thời gian dài tự ý sử dụng sản phẩm "bổ khớp", "thuốc gia truyền" được quảng cáo tràn lan. Qua khai thác bệnh sử, không ít sản phẩm bị phát hiện chứa corticoid - hoạt chất có thể giảm đau nhanh nhưng gây biến chứng nghiêm trọng nếu dùng kéo dài.
Một vấn đề khác là sự xuất hiện tràn lan của các "chuyên gia dinh dưỡng tự phong" trên mạng xã hội. Nhiều người không có chứng chỉ hành nghề, không làm việc tại cơ sở y tế, nhưng vẫn đưa ra lời khuyên điều trị cho các bệnh lý như tiểu đường, ung thư, kèm theo quảng bá và bán sản phẩm. Điều này dễ khiến người dân hiểu sai, áp dụng sai phương pháp, dẫn đến hậu quả đáng tiếc. Trong khi đó, theo nguyên tắc y khoa, dinh dưỡng là một phần của điều trị và cần được cá thể hóa cho từng bệnh nhân. Ví dụ, người mắc tiểu đường không chỉ kiểm soát lượng đường mà còn cần chia nhỏ bữa ăn (có thể 5 - 6 bữa/ngày), cân đối giữa tinh bột, đạm và chất béo theo chỉ định chuyên môn.
Theo PGS-TS Phan Minh Hoàng, cần có chế tài mạnh đối với hành vi quảng cáo sai sự thật, đồng thời quy định rõ ràng về việc phát ngôn trong lĩnh vực y tế. Người cung cấp thông tin cần có chuyên môn, chứng chỉ hành nghề và được xác thực bởi cơ quan chức năng hoặc đơn vị y tế uy tín. Song song đó, cần đẩy mạnh truyền thông chính thống đến cộng đồng.
Theo đại diện Hội Thầy thuốc trẻ TP.HCM, thời gian tới hội sẽ tăng cường các hoạt động phổ biến kiến thức y khoa tại cơ sở, phối hợp với trạm y tế và khu dân cư để giúp người dân tiếp cận thông tin đúng, từ đó nâng cao khả năng tự bảo vệ sức khỏe. Về lâu dài, việc kết hợp giữa quản lý chặt chẽ thông tin và nâng cao nhận thức cộng đồng được xem là giải pháp căn cơ nhằm hạn chế những hệ lụy từ "ma trận" thông tin y tế trên không gian mạng.
Đồng quan điểm, TS-BS Bùi Minh Trạng cho rằng việc tăng cường truyền thông về khoa học dựa trên bằng chứng là một nhiệm vụ quan trọng. Các cơ quan y tế, các cơ sở đào tạo và đội ngũ nhân viên y tế cần đóng vai trò tích cực trong việc cung cấp thông tin chính xác và đáng tin cậy cho cộng đồng.
"Thật ra răn đe (xử phạt) chỉ là một phần trong chiến lược kiểm soát vấn đề này. Một chiến lược hiệu quả cần kết hợp giữa kiểm soát, truyền thông và giáo dục, với sự tham gia của nhiều bên liên quan. Quan trọng hơn, nó đòi hỏi sự thích nghi của hệ thống y tế với một môi trường thông tin ngày càng biến động", TS-BS Bùi Minh Trạng nói.
Theo TS Trạng, WHO đã nhấn mạnh vai trò của hợp tác liên ngành: y tế, công nghệ, truyền thông, khoa học hành vi. Trong đó vai trò của nền tảng công nghệ là: gắn nhãn nội dung sai lệch; giảm hiển thị thông tin độc hại; ưu tiên nguồn tin đáng tin cậy. Đối với y tế, cần truyền thông chủ động: các chuyên gia y tế cần tham gia mạng xã hội; cung cấp thông tin dễ hiểu; phản biện thông tin sai lệch. Không thể thiếu việc nâng cao hiểu biết sức khỏe, là yếu tố then chốt giúp người dân đánh giá thông tin để đưa ra quyết định đúng.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cho biết, ngày 4.6, đồng bằng Bắc bộ có nắng nóng, có nơi nắng nóng gay gắt với nhiệt độ lúc 13 giờ phổ biến 35 - 37 độ C, có nơi trên 37 độ C, như các trạm: Bắc Mê (Tuyên Quang) 37,4 độ C; tại Thái Bình (Hưng Yên) 37,3 độ C; tại Ninh Bình 37,8 độ C.
Còn tại miền Trung, nắng nóng xảy ra từ Thanh Hóa - Đà Nẵng và phía đông các tỉnh Quảng Ngãi và Gia Lai, một số nơi có nắng nóng gay gắt. Nhiệt độ lúc 13 giờ ở các khu vực nói trên phổ biến 36 - 38 độ C, có nơi trên 38 độ C như các trạm: Tĩnh Gia (Thanh Hóa) 38, 3 độ C; Con Cuông (Nghệ An) 38,5 độ C; Hương Khê (Hà Tĩnh) 39 độ C; Tam Kỳ (Đà Nẵng) 38,1 độ C...
Cùng ngày, Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia đã cảnh báo về mưa giông ở miền Bắc trong đêm nay và ngày mai 5.6.
Bà Lê Hồng Vân, Dự báo viên, Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, cho biết trong chiều 4.6, mưa giông đang phát triển ở vùng núi Bắc bộ. Trong đêm nay và rạng sáng mai, các tỉnh vùng núi Bắc bộ sẽ có mưa vừa, mưa to, với lượng mưa phổ biến từ 20 - 40 mm, một số nơi có mưa to đến rất to trên 130 mm.
Trong đó, 4 tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Cao Bằng nhiều nơi sẽ xảy ra mưa lớn, nguy cơ xuất hiện những trận mưa cường suất lớn, lượng mưa trên 100 mm/3 giờ gây ngập úng cục bộ. Trong mưa giông, người dân đề phòng có khả năng xảy ra lốc, sét, mưa đá, gió giật mạnh.
Cũng theo bà Lê Hồng Vân, mưa lớn, mưa giông ở miền Bắc xảy ra về đêm và sáng sớm. Do ảnh hưởng của mưa giông, nắng nóng tạm thời gián đoạn ở miền Bắc trong ngày 5.6, nhiệt độ cao nhất ngày là 32 - 35 độ C. Dự báo thời tiết từ ngày 6 - 7.6, nắng nóng ở miền Bắc gia tăng trở lại, nhiệt độ cao nhất ngày trong ngưỡng 35 - 37 độ C.
Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cũng cảnh báo, từ chiều tối nay 4.6 đến ngày 5.6, cao nguyên Trung bộ và Nam bộ có mưa rào và giông rải rác với lượng mưa 10 - 30 mm, có nơi mưa to trên 50 mm. Mưa giông tập trung vào chiều tối và tối, đề phòng có mưa đá, sét đánh, gió giật mạnh.
Dự báo thời tiết ngày mai 5.6 đến ngày 7.6, từ Thanh Hóa - Đà Nẵng và phía đông các tỉnh Quảng Ngãi và Gia Lai tiếp tục nắng nóng, có nơi nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 36 - 38 độ C, có nơi trên 39 độ C.
Dự báo thời tiết khu vực trung du và đồng bằng Bắc bộ có nắng nóng, có nơi nắng nóng gay gắt đến hết ngày 7.6, sau đó từ ngày 8.6 trở đi nắng nóng dịu dần. Ở miền Trung, dự báo từ ngày 9.6 nắng nóng có khả năng dịu dần.
Tin Gốc: Thanh Niên

