Shing Tung Yau (Khâu Thành Đồng) sinh năm 1949, là một trong những nhà toán học đương đại có ảnh hưởng nhất thế giới. Ông là người gốc Hoa đầu tiên giành giải Fields vào năm 1982, khi mới 33 tuổi.
Yau được ghi nhận vì những đóng góp cho phương trình vi phân đạo hàm riêng, giả thuyết Calabi trong hình học đại số, giả thuyết khối lượng dương của lý thuyết tương đối rộng, các phương trình Monge-Ampère thực và phức.
Ảnh hưởng từ công trình của Yau còn thể hiện trong lĩnh vực hình học lồi, hình học đại số, hình học đếm, đối xứng gương, thuyết tương đối rộng và lý thuyết dây. Nghiên cứu của ông cũng chạm đến toán học ứng dụng, kỹ thuật và phân tích số.
Yau là người con thứ 5 trong gia đình có 8 anh, chị em. Khi ông mới vài tháng tuổi, cả gia đình chuyển đến Hong Kong. Là nhà kinh tế học và triết gia, cha ông giảng dạy tại một trường cao đẳng, sau này thuộc Đại học Trung văn Hong Kong (CUHK).
“Gia đình chúng tôi rất nghèo, ban đầu gần như chết đói”, ông Yau nói trong cuộc phỏng vấn với tờ Discover Magazine năm 2010. Họ sống trong một ngôi nhà ở ngoại ô, không có điện hay nước sinh hoạt. Yau thường xuyên trốn học, cầm đầu một nhóm lang thang khắp nơi, nhưng vẫn làm đủ bài tập mà cha giao ở nhà.
Dù khó khăn, cha của Yau luôn duy trì một nhóm sinh viên đến nhà để bàn luận về triết học và văn học. Ông cũng khuyến khích con quan tâm đến triết, toán, dạy các bài thơ và văn dài, nên khi mới 10-11 tuổi, Yau đã dần quen với lối suy luận trừu tượng.
Biến cố tới vào năm ông 14 tuổi, khi cha qua đời. Kinh tế kiệt quệ, mẹ ông phải làm hàng đan, móc để bán. Yau bắt đầu đọc và trân trọng những cuốn sách cha để lại, chú tâm học hành hơn. Ông vừa đi học, vừa làm gia sư để phụ giúp gia đình.
Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1965, ông học cử nhân toán tại Đại học Trung văn Hong Kong. Ông có sức học vượt trội, có thể làm bài thi của nhiều môn mà không cần đến lớp. Stephen Salaff, một giảng viên ở trường, đề nghị ông đến Đại học California, Berkeley (Mỹ) làm tiến sĩ vì thấy tiềm năng to lớn của học trò.
Salaff liên hệ với một phó giáo sư, thuyết phục trường miễn, giảm yêu cầu đầu vào. Ông cũng tìm cách để Yau được nhận một trong hai suất học bổng từ Tập đoàn International Business Machines (IBM) để thực hiện nghiên cứu.
“Nếu không có sự giúp đỡ của ông ấy, tôi sẽ không trở thành nhà toán học như bây giờ”, ông Yau nói.
Năm 1969, Yau phải vay bạn bè để mua vé máy bay sang San Francisco, nhận học bổng 300 USD mỗi tháng nhưng gửi một nửa về cho gia đình.
Ông đăng ký nhiều lớp học cùng lúc và bắt đầu quan tâm đến hình học. Trong đó, một khóa về phương trình vi phân riêng phần phi tuyến do Charles Bradfield Morrey Jr. giảng dạy được ông đánh giá rất xuất sắc.
Vì không đủ tiền về nhà, Yau đã dành cả kỳ nghỉ Giáng sinh trong thư viện, vùi đầu vào các bài báo nghiên cứu và chuyên khảo, đặc biệt là Tạp chí Hình học Vi phân và các bài báo của John Milnor về lý thuyết nhóm hình học.
“Tôi thấy hình học rất thanh lịch và đẹp đẽ. Tôi rất hào hứng với việc không gian có thể có độ cong và làm thế nào để nắm bắt được chúng”, ông Yau nói sau khi nhận Huân chương Khoa học quốc gia Mỹ năm 1997.
Từ năm thứ hai, Yau dành phần lớn thời gian nghiên cứu về đa tạp phức, đặc biệt say mê với giả thuyết Calabi. Chỉ sau hai năm, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, đồng thời có ba bài báo được xuất bản.
Vào thời điểm ấy, nhiều người cho rằng giải được giả thuyết Calabi là bất khả thi. Nhưng ông tin rằng ngay cả khi không thể, ông vẫn phải hiểu tại sao. Ông theo đuổi bài toán xuyên suốt những năm đầu sự nghiệp, như khi gia nhập Viện Nghiên cứu cao cấp tại Princeton năm 1971, làm giáo sư bậc một ở Đại học New York-Stony Brook năm 1972, lên giáo sư bậc hai ở Stanford,…
Cuối cùng, năm 1976, ông chứng minh thành công giả thuyết Calabi. Bài báo của ông cũng đặt nền móng cho lý thuyết dây 10 năm sau đó, cho thấy hầu hết 10 chiều không gian-thời gian cần thiết cho “lý thuyết vạn vật” có thể được cuộn lại, ẩn khuất trong một không gian mà ngày nay được gọi là Calabi-Yau.
Ba năm sau, ông Yau cùng công sự chứng minh được một kết quả quan trọng khác về thuyết tương đối rộng của Einstein: bất kỳ nghiệm nào của phương trình Einstein đều phải có năng lượng dương.
“Ông ấy là một nhà giải tích hình học với năng lực kỹ thuật phi thường và tầm nhìn sâu sắc. Ông giải quyết được những vấn đề mà tiến độ nghiên cứu đã đình trệ trong nhiều năm”, Louis Nirenberg, nhà toán học người Canada, viết vào năm 1982, khi Yau nhận giải Fields.
Sau giải thưởng này, Yau tới Đại học California-San Diego, rồi tới Harvard vào năm 1987, gắn bó hơn 3 thập kỷ sau đó. Ông được phong chức Giáo sư danh dự William Caspar Graustein về Toán học ở Harvard, trước khi hồi hương, về làm việc tại Đại học Thanh Hoa năm 2022.
Yau cũng đạt nhiều thành tựu trong hình học, tôpô học và vật lý, được vinh danh bằng các giải thưởng như Veblen về Hình học (1981), giải Crafoord của Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển (1994), giải Wolf (2010) và gần đây nhất là giải Shaw (2023).
Ngoài nghiên cứu, ông dốc toàn lực để xây dựng nền toán học Trung Quốc. Ông thường về thăm Trung Quốc trong kỳ nghỉ hè khi còn dạy tại Harvard, giúp đỡ các sinh viên xuất sắc sang Mỹ học tiến sĩ.
Ông cũng góp phần gây quỹ để thành lập loạt viện toán học ở Trung Quốc, như Viện Khoa học Toán học ở CUHK (1993), Trung tâm Toán học Morningside thuộc Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc (1995) và Trung tâm Toán học và Khoa học tại ba đại học lớn, gồm Chiết Giang, Thanh Hoa và Quốc gia Đài Loan.
“Mục tiêu của tôi rất đơn giản, đó là chứng minh rằng Trung Quốc có thể phát triển một môn học cơ bản như toán học”, ông Yau phát biểu vào năm 2015 tại lễ khánh thành Trung tâm Toán và Khoa học Yau-Đại học Thanh Hoa, nơi ông làm giám đốc cho đến nay.
Hiện, ông còn là chủ tịch Học viện Qiuzhen thuộc Thanh Hoa, nơi tập trung đào tạo các nhà toán học trẻ thông qua các chương trình đặc biệt. Ông cũng đang dẫn đầu nhóm 40 nhà toán học Trung Quốc và quốc tế, tham gia vận động để Hong Kong có thể đăng cai Đại hội Toán học quốc tế (ICM), nơi trao giải Fields, vào năm 2030.
Sự thiếu hụt trầm trọng nhân lực ngành điều dưỡng đặt ra yêu cầu cấp bách về việc thu hút tuyển sinh và đào tạo người học trong các trường ĐH và CĐ.
Chia sẻ về vấn đề này, tiến sĩ Vương Ánh Dương, Phó cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế, cho biết VN hiện chỉ có khoảng 14-15 điều dưỡng/1 vạn dân trong khi Nghị quyết 20 của Ban Chấp hành T.Ư năm 2017 đặt ra mục tiêu đến năm 2025 phải có 25 điều dưỡng/1 vạn dân và năm 2030 là 33 điều dưỡng/1 vạn dân.
"Tỷ lệ này đang thuộc nhóm thấp của ASEAN. Thái Lan có khoảng 20-25 điều dưỡng/1 vạn dân, Malaysia khoảng 30-35, Singapore trên 70; các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD trung bình từ 80-120. Chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt điều dưỡng cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng chuyên môn so với yêu cầu thực tế và so với mặt bằng chung của khu vực cũng như thế giới", tiến sĩ Dương nhận định.
Theo khảo sát của Cục Quản lý khám chữa bệnh, trong cùng một ca trực, trung bình một điều dưỡng tại khoa hồi sức tích cực phải chăm sóc từ 3-4 bệnh nhân.
"Khi số lượng điều dưỡng không đủ, người bệnh không được theo dõi và chăm sóc toàn diện, liên tục. Tại nhiều khoa lâm sàng, đặc biệt là hồi sức tích cực, một tỷ lệ lớn bệnh viện (BV) vẫn phải huy động người nhà người bệnh tham gia hỗ trợ chăm sóc thường ngày", ông Dương cho hay.
Hiện nay, VN có trên 100 cơ sở tham gia đào tạo điều dưỡng, tuy nhiên không phải trường nào cũng tuyển được đủ chỉ tiêu hằng năm. Năm 2025, hàng loạt trường phải tuyển bổ sung ngành điều dưỡng như Trường ĐH Y Dược (ĐH Huế, 65 chỉ tiêu), Trường ĐH Y Dược Thái Bình (86 chỉ tiêu), Trường ĐH Y Dược Hải Phòng (60 chỉ tiêu)… Trường ĐH Tây Nguyên tuyển 34 chỉ tiêu ngành điều dưỡng ở phương thức xét điểm thi tốt nghiệp thì không có thí sinh (TS) nào nhập học, tổng chỉ tiêu của các phương thức là 48 thì có khoảng 41 TS nhập học.
Các cơ sở đào tạo như ĐH Phenikaa, ĐH Duy Tân, các trường ĐH Văn Lang, Quốc tế Hồng Bàng, Nguyễn Tất Thành, Tân Tạo... đều phải tuyển bổ sung ngành này.
Ở bậc CĐ, số lượng người học ngành điều dưỡng cũng giảm nhiều so với những năm trước. Tiến sĩ Lê Lâm, Hiệu trưởng Trường CĐ Đại Việt Sài Gòn, cho biết: "Cách đây khoảng chục năm, TS đăng ký ngành này rất đông. Thời điểm hiện tại, nhu cầu nhân lực cần nhiều do hệ thống BV tư phát triển, BV công nâng cấp mở rộng, nhưng tại trường, người học điều dưỡng giảm từ 50-70%".
Trong một nghiên cứu của giảng viên Phạm Dương Thanh Tâm và Nguyễn Thị Thảo Ngọc, Khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật y học Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch, hầu hết sinh viên các ngành điều dưỡng, dược và y khoa được phỏng vấn đều cho rằng nghề điều dưỡng vất vả và áp lực nhất trong hệ thống y tế.
"Định kiến về ngành điều dưỡng còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các yếu tố gia đình, truyền thông và môi trường. Sinh viên cả 3 ngành trên đều nhận định ngành điều dưỡng thiếu vai trò lãnh đạo và cơ hội thăng tiến trong bộ máy quản lý. Hình ảnh người điều dưỡng bị lu mờ, ít được ghi nhận những đóng góp. Các gia đình có xu hướng thiên vị các ngành y đa khoa, dược hơn là điều dưỡng", nhóm nghiên cứu chia sẻ.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Uyên, Phó khoa Điều dưỡng - Hộ sinh Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng, nêu sự thiếu hụt điều dưỡng tại VN đến từ nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, chế độ đãi ngộ và mức lương chưa tương xứng khi lương khởi điểm của một điều dưỡng mới ra trường tại các BV công lập hiện nay còn thấp.
"Thứ hai là áp lực công việc. Vì thiếu nguồn điều dưỡng nên một số điều dưỡng phải chăm sóc số lượng bệnh nhân nhiều hơn so với tiêu chuẩn khuyến cáo. Bên cạnh đó là áp lực từ người nhà bệnh nhân cùng với trực đêm dẫn đến dễ kiệt sức. Vị thế xã hội chưa được nhìn nhận đúng khi trong tâm thức của nhiều người dân, bác sĩ là người ra y lệnh, còn điều dưỡng chỉ là người làm theo", tiến sĩ Uyên nhận định.
Tuy nhiên, theo tiến sĩ Uyên, hiện nay có 2 nhóm TS nhận thức theo 2 hướng. Một là e ngại vì vẫn còn định kiến, coi điều dưỡng là công việc phục vụ, vất vả, trực đêm hôm nhưng thu nhập không tương xứng. Do đó, tỷ lệ TS chọn ngành điều dưỡng có xu hướng sụt giảm. Nhiều trường gặp khó khăn trong việc tuyển sinh đủ chỉ tiêu.
"Trong khi đó, nhóm còn lại vẫn yêu ngành do được xã hội trọng dụng và dễ kiếm việc làm do cầu cao, đặc biệt cơ hội chuyển dịch lao động quốc tế. Các em có thể tới các thị trường lớn như Đức, Nhật Bản, Canada, Úc, Đài Loan với nhiều chương trình học bổng, tuyển dụng với mức lương rất cao và cơ hội định cư rõ ràng", tiến sĩ Uyên thông tin.
Tiến sĩ Lưu Nguyễn Đức Hạnh, Phó khoa Điều dưỡng Trường ĐH Nguyễn Tất Thành, cũng cho hay bên cạnh nhóm TS e ngại thì vẫn có nhiều bạn trẻ nhận thấy điều dưỡng là công việc có tính ổn định cao, nhu cầu xã hội lớn và vị thế của người điều dưỡng trong hệ thống y tế hiện đại đã được nâng tầm, không còn đơn thuần là người hỗ trợ mà là một cộng sự quan trọng trong quá trình chăm sóc người bệnh.
Để giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực và giữ chân sinh viên với nghề, tiến sĩ Đức Hạnh nêu: "Chương trình học của các trường phải bám sát thực tế, chú trọng kỹ năng lâm sàng. Giảng viên giàu kinh nghiệm và tâm huyết để truyền lửa nghề cho sinh viên. Bên cạnh đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị đào tạo và cơ sở thực tập. Khi sinh viên nhìn thấy cơ hội việc làm rộng mở, thu nhập ổn định và môi trường làm việc chuyên nghiệp ngay sau khi tốt nghiệp, các em sẽ tự tin theo đuổi nghề".
Trong khi đó, tiến sĩ Nguyễn Thị Anh, Phó khoa Điều dưỡng - Hộ sinh Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng, cho rằng Bộ Y tế và các cơ quan ban ngành cần ban hành chính sách tăng lương cơ bản, tăng phụ cấp ưu đãi nghề, đặc biệt là phụ cấp trực đêm, phụ cấp độc hại riêng cho khối điều dưỡng để họ yên tâm sống được với nghề.
"Phải đẩy mạnh truyền thông để xã hội hiểu rằng điều dưỡng là một ngành khoa học chăm sóc độc lập, phối hợp bình đẳng với bác sĩ chứ không phải nghề phụ thuộc. Môi trường làm việc cũng nên được cải thiện, giảm tải thủ tục hành chính bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin để họ có nhiều thời gian tập trung vào chuyên môn chăm sóc người bệnh, giảm áp lực tâm lý", tiến sĩ Ánh chia sẻ thêm.
Theo tiến sĩ Ánh, nhà nước cũng có thể cân nhắc áp dụng chính sách miễn giảm học phí hoặc cấp học bổng cho sinh viên theo học ngành điều dưỡng nhằm thu hút học sinh nộp hồ sơ.
Với gần 2,6 triệu học sinh (HS) và khoảng 180.000 cán bộ, giáo viên (GV), nhân viên tại 3.428 cơ sở giáo dục các cấp, hệ thống giáo dục của TP.HCM có quy mô lớn nhất cả nước và đang đứng trước áp lực kép từ việc sáp nhập và biến động dân số.
Tính trung bình mỗi năm TP.HCM tăng cơ học từ 50.000-60.000 HS và khoảng 24% HS không thường trú. Điều này dẫn tới quá tải cục bộ ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới; từ đó phá vỡ sĩ số chuẩn, cản trở mục tiêu học 2 buổi/ngày và chỉ tiêu trường đạt chuẩn quốc gia.
Ông Nguyễn Văn Hiếu, Giám đốc Sở GD-ĐT, cho biết tính đến nay tỷ lệ trung bình toàn TP đạt con số 277 phòng học/10.000 dân. Tuy nhiên số trung bình này đang che lấp sự đứt gãy hạ tầng tại khu vực Bình Dương cũ và các vành đai công nghiệp.
Cụ thể, theo thống kê từng khu vực của Sở GD-ĐT TP.HCM, khu vực 1 (TP.HCM cũ) đã tiệm cận chuẩn, đạt 297 phòng/10.000 dân và "điểm nóng" rơi vào địa bàn các quận 12, Gò Vấp, các huyện Hóc Môn, Bình Chánh trước sáp nhập.
Khu vực 2 (Bình Dương cũ) chỉ đạt khoảng 200 phòng/10.000 dân, được coi là "báo động đỏ", mất cân đối trầm trọng với tốc độ tăng dân số cơ học cực cao do địa phương có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất.
Trong khi đó, khu vực 3 (Bà Rịa-Vũng Tàu cũ) đã vượt chuẩn với tỷ lệ 316 phòng/10.000 dân và chỉ thiếu hụt cục bộ ở một số ít phường, xã.
Số liệu của Sở GD-ĐT TP.HCM cho thấy sau sáp nhập, một số phường tồn tại tình trạng quá tải trường, lớp. Chẳng hạn tại P.Dĩ An, Trường THCS Võ Trường Toản có 99 lớp với 4.534 HS; Trường THCS Dĩ An có 78 lớp với 3.643 HS.
Hay tại P.An Phú có 8 trường công lập, gồm 2 trường mầm non, 5 trường tiểu học nhưng chỉ có 1 trường THCS. Trong đó cấp tiểu học với 232 lớp/10.625 HS nhưng chỉ 142 lớp/6.460 HS được học 2 buổi/ngày. Cấp THCS có 1 trường là Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi với 103 lớp/4.658 HS, song chỉ có 54 phòng học, số phòng học không đáp ứng đủ số lớp nên chỉ học được 1 buổi/ngày.
Báo cáo từ P.An Phú cho thấy đầu năm học 2025-2026, dân số cơ học tăng nhanh kéo theo trung bình mỗi năm tăng thêm gần 2.000 HS, gây quá tải trường lớp, sĩ số trung bình 48-52 HS/lớp. Đa số các trường phải tận dụng tất cả các phòng chức năng để làm phòng học, gặp khó khăn khi dạy học 2 buổi/ngày.
Tại khu vực 1 có Trường tiểu học Ngô Quyền (Q.Bình Tân cũ) là trường công lập có đông HS nhất TP. Trường có 109 lớp với tổng số hơn 5.000 HS, sĩ số trung bình khoảng 47 HS/lớp. Tình trạng quá tải trường, lớp khiến các nhà trường gặp khó khăn trong việc bố trí lớp học và giảng dạy.
Theo Sở GD-ĐT, thời gian qua TP đã chỉ đạo ngành GD-ĐT rà soát, điều chỉnh quy hoạch mạng lưới trường lớp phù hợp với quy mô dân số từng địa bàn, thực hiện phân tuyến tuyển sinh hợp lý. Đồng thời đưa các dự án xây dựng mới, cải tạo, mở rộng trường học vào kế hoạch đầu tư công trung hạn. Bên cạnh đó, TP.HCM tăng cường đầu tư trang thiết bị dạy học; bố trí, bổ sung đội ngũ GV; từng bước giảm sĩ số HS/lớp theo lộ trình quy định của Bộ GD-ĐT.
Sở cho hay khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, việc chủ động rà soát quỹ đất, lập quy hoạch và đề xuất đầu tư xây dựng mới hoặc mở rộng các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học và THCS thuộc thẩm quyền và trách nhiệm trực tiếp của chính quyền cấp xã.
Sở GD-ĐT đề nghị các địa phương trực tiếp chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xử lý theo thẩm quyền. Cụ thể, khẩn trương rà soát tình hình thực tế về mạng lưới trường lớp, quỹ đất giáo dục và nhu cầu học tập, học bán trú của HS trên địa bàn để có phương án bố trí nguồn lực đầu tư phù hợp. Tổ chức làm việc, đối thoại trực tiếp để làm rõ nội dung kiến nghị và thông tin cụ thể về kế hoạch đầu tư công trung hạn, các dự án trường học dự kiến triển khai và các giải pháp tạm thời nhằm đảm bảo quyền lợi học tập cho HS.
Giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM Nguyễn Văn Hiếu cho biết từ nay đến hết năm 2026, TP dự kiến đưa vào sử dụng thêm 1.200 phòng học, năm 2027 thêm 1.500 phòng, cơ bản đáp ứng nhu cầu chỗ học vào cuối năm 2027; phấn đấu đến năm 2030 đạt tỷ lệ 300 phòng học/10.000 dân trong độ tuổi đi học.
Giai đoạn từ 2026-2030, TP.HCM cần 17.483 phòng học, trong khi khả năng đáp ứng hiện chỉ đạt 12.814 phòng, dẫn đến thiếu hụt 4.669 phòng.
Liên quan đến công tác xây dựng trường lớp tại TP.HCM, vào giữa tháng 4, ông Nguyễn Phước Lộc, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ VN TP.HCM, có buổi làm việc với đại diện các sở, ngành, UBND 168 phường, xã, đặc khu về công tác xây dựng trường học.
Tại buổi làm việc này, Phó chủ tịch HĐND TP.HCM Huỳnh Thanh Nhân đề nghị các địa phương rà soát tất cả quỹ đất giáo dục, siết chặt quản lý đối với kế hoạch xây dựng trường học trong các dự án đầu tư bất động sản, không để xảy ra tình trạng đất xây trường bị chuyển đổi mục đích sử dụng. Đặc biệt, để hoàn thành mục tiêu 80% trường học đạt chuẩn quốc gia vào năm 2030 thì các dự án xây dựng mới trường học triển khai trong giai đoạn này phải đảm bảo chuẩn quốc gia.
Phó giám đốc Sở Tài chính TP.HCM Lai Xuân Đạt cho hay hiện nay nguồn vốn dành cho giáo dục đã được TP chỉ đạo bổ sung khoảng 65.000 tỉ đồng để chuẩn bị cho công tác xây dựng trường lớp. Theo đó, để đáp ứng nhu cầu, lãnh đạo các phường, xã đóng vai trò chủ chốt trong việc xác định quy hoạch phù hợp và chọn vị trí xây dựng; xác định quy mô xây dựng, thời gian hoàn thành và dự kiến nguồn vốn. Trên cơ sở đề xuất của UBND xã, phường, sở GD-ĐT tổng hợp thành danh mục ưu tiên. Sở Tài chính sẽ tham mưu với UBND TP cân đối ngân sách để đảm bảo không thiếu chỗ học.
Phó chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Mạnh Cường đề nghị Sở GD-ĐT làm đầu mối tổng hợp nhu cầu trường lớp theo từng cấp học để điều tiết hợp lý trên toàn địa bàn, tránh đầu tư cục bộ. Đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng, cải thiện môi trường học tập, khắc phục tình trạng trường lớp chật hẹp, thiếu sân chơi, đảm bảo cả 2 yêu cầu về số lượng và chất lượng.
Chỉ đạo về công tác xây dựng trường lớp, ông Nguyễn Phước Lộc yêu cầu ngành giáo dục và các địa phương đánh giá sát thực trạng hệ thống trường lớp theo từng cấp học, từng địa bàn. Trên cơ sở đó, chủ động đề xuất giải pháp bảo đảm đủ trường lớp cho HS trên địa bàn.
Về tổ chức thực hiện, ông Nguyễn Phước Lộc yêu cầu rà soát, xác định quỹ đất phát triển giáo dục và phải hình thành danh mục hoàn thiện theo hướng đồng bộ giữa các địa bàn, làm rõ hơn mức độ sẵn sàng triển khai của từng khu đất và gắn chặt hơn với danh mục dự án, tiến độ thực hiện và khả năng bố trí nguồn lực; không dàn trải; có trọng tâm, trọng điểm.
Phó bí thư Thành ủy TP.HCM nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt: "Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, cho tương lai; xác định GD-ĐT là một trong những cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của TP; giáo dục phải bảo đảm công bằng, toàn diện, không rào cản, hướng tới nền giáo dục tiên tiến, hội nhập quốc tế".
Những ánh nhìn ấy đôi khi trở thành áp lực vô hình đối với gia đình có con tự kỷ.
Không chỉ là buổi thảo luận chuyên môn, chương trình do khoa tâm lý - giáo dục - công tác xã hội Trường đại học Sư phạm - ĐH Đà Nẵng tổ chức ngày 5-4 còn là nơi phụ huynh, chuyên gia và giáo viên cùng chia sẻ những câu chuyện nhiều cảm xúc.
PGS.TS Võ Văn Minh, Hiệu trưởng Trường đại học Sư phạm - ĐH Đà Nẵng, xuất hiện không phải với vai trò nhà quản lý hay nhà khoa học, mà là một người cha có con tự kỷ, đồng thời là tác giả cuốn sách Tự kỷ - một phần của thế giới này.
Từ góc nhìn của một nhà nghiên cứu sinh học, ông chia sẻ một triết lý giản dị: một đàn gà con không con nào giống con nào, một cành cây không có chiếc lá nào giống hệt chiếc lá nào, và mỗi đứa trẻ cũng vậy. Trong sinh thái học, một hệ sinh thái càng đa dạng thì càng bền vững, và ông tin xã hội cũng thế.
Là người cha đồng hành cùng con, ông nghẹn ngào kể: "Người tự kỷ thường hạn chế giao tiếp bằng mắt. Nhưng những người xung quanh tôi lại "giao tiếp" với chúng tôi chủ yếu bằng ánh mắt từ xa đến gần.
Có ánh mắt cảm thông, có ánh mắt thương hại, có cả những ánh mắt băn khoăn. Chính những điều đó, đôi khi tạo nên một áp lực vô hình… và không hề dễ chịu".
Từ trải nghiệm của mình, ông cho rằng gia đình hay nhà trường thôi vẫn chưa đủ, mà cần sự thấu hiểu và chung tay của cả cộng đồng để tạo nên môi trường tốt hơn cho trẻ tự kỷ và gia đình của các em.
Nhiều phụ huynh có con tự kỷ đã rưng rưng xúc động khi nghe những chia sẻ chạm đến nỗi lòng. Rất nhiều người cho biết họ cũng đang đối diện với những "ánh mắt" ấy mỗi ngày và mong xã hội có cái nhìn "chấp nhận" sự khác biệt để hành trình đồng hành với con bớt nhọc nhằn.
BSCK II Lâm Tứ Trung - Phó chủ tịch Hội Tâm lý trị liệu Việt Nam - nhấn mạnh trong quá trình hỗ trợ trẻ tự kỷ, gia đình là yếu tố quan trọng nhất.
"Một đứa trẻ có thể học ở trung tâm vài giờ mỗi ngày, nhưng phần lớn thời gian là ở nhà, vì vậy cha mẹ mới chính là người đồng hành lâu dài và hiểu con nhất", ông Trung nói.
Tuy nhiên, theo ông, điều đáng lo là sức khỏe tinh thần của chính cha mẹ. Áp lực chăm con, công việc và kinh tế khiến nhiều gia đình rơi vào căng thẳng kéo dài. Vì vậy, hỗ trợ trẻ tự kỷ không thể chỉ tập trung vào trẻ, mà cần quan tâm đến cả gia đình, bởi khi gia đình ổn định thì đứa trẻ mới có thể phát triển tốt.
Ông cũng lưu ý cách ứng xử với các con khác trong gia đình. Khi một đứa trẻ cần được chăm sóc nhiều hơn, cha mẹ cần giải thích để các con hiểu và vẫn dành sự quan tâm phù hợp, tránh tạo ra cảm giác bị so sánh hay bỏ quên, dẫn đến những tổn thương tâm lý.
Từ góc nhìn của người làm việc lâu năm trong lĩnh vực tâm lý học và giáo dục hòa nhập, PGS.TS Nguyễn Thị Hằng Phương cho biết ở nhiều quốc gia, các chương trình hỗ trợ trẻ tự kỷ không chỉ dành cho trẻ mà còn dành riêng cho phụ huynh.
Không chỉ hướng dẫn cách can thiệp, các chương trình này còn tạo không gian để phụ huynh chia sẻ, hỗ trợ tinh thần cho nhau.
Theo bà, căng thẳng tâm lý kéo dài là vấn đề phổ biến ở phụ huynh có con tự kỷ, vì vậy việc chăm sóc sức khỏe tinh thần cho cha mẹ cũng quan trọng không kém việc can thiệp cho trẻ.
Các giáo viên cũng cho rằng việc dạy trẻ tự kỷ không chỉ là dạy một đứa trẻ, mà là đồng hành với cả gia đình. Mỗi em là một hoàn cảnh khác nhau, nên việc can thiệp cần được cá nhân hóa và có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường.