Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành thông tư quy định việc xác định số lượng tuyển sinh đối với các trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và cao đẳng ngành giáo dục mầm non, với nhiều điểm mới đáng chú ý.
Thông tư mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo về xác định chỉ tiêu tuyển sinh đại học, sau đại học và cao đẳng mầm non đưa ra thay đổi đáng chú ý. Trong đó, thay đổi lớn nhất là cách tính hệ số quy đổi giảng viên, yếu tố then chốt trong việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh của mỗi cơ sở đào tạo. Quy định mới, giảng viên có trình độ thạc sĩ chỉ được tính hệ số 0,75, trong khi tiến sĩ giữ hệ số 1,0.
Theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Lê Quân, thông tư mới được xây dựng trên quan điểm đổi mới và đã trải qua quá trình đánh giá tác động, chạy dữ liệu kỹ lưỡng trước khi ban hành.
Điểm thay đổi căn bản là cách xác định và quy đổi giảng viên theo hướng đơn giản hóa, giảm bớt các phép tính phức tạp trước đây. Phần lớn các đối tượng giảng viên được tính hệ số 1, riêng thạc sĩ là 0,75.
Ông Quân nhấn mạnh: “Về nguyên tắc, vai trò của giảng viên trình độ thạc sĩ sẽ dần được điều chỉnh theo hướng hạn chế, tương tự vai trò trợ giảng trong hệ thống đào tạo đại học.
Điều này đồng nghĩa với việc những cơ sở giáo dục có quy mô tuyển sinh phụ thuộc nhiều vào đội ngũ thạc sĩ sẽ buộc phải rà soát, tái cơ cấu nhân sự. Nếu không có sự chuẩn bị, chỉ tiêu tuyển sinh có thể bị giảm đáng kể trong tương lai”.
Thông tư cũng quy định cụ thể thế nào là giảng viên được tính trong xác định số lượng tuyển sinh. Đây phải là những người trực tiếp giảng dạy, làm việc toàn thời gian tại cơ sở đào tạo, đáp ứng chuẩn trình độ theo quy định và được kê khai trên hệ thống dữ liệu giáo dục đại học.
Giảng viên tham gia tính chỉ tiêu phải đáp ứng chuẩn chương trình đào tạo của ngành hoặc nhóm ngành tương ứng. Đồng thời, họ phải là giảng viên cơ hữu hoặc thuộc các nhóm được pháp luật công nhận.
Đối với cơ sở công lập, giảng viên cơ hữu là những người được tuyển dụng và quản lý theo quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập.
Trong khi đó, tại các cơ sở tư thục, giảng viên cơ hữu phải ký hợp đồng lao động từ 3 năm trở lên hoặc không xác định thời hạn, không đồng thời làm việc dài hạn tại đơn vị khác và do trường trả lương theo quy định.
Thông tư quy định rõ, giảng viên được tính trong xác định chỉ tiêu tuyển sinh phải đáp ứng chuẩn trình độ theo Luật Nhà giáo, trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn người học toàn thời gian tại cơ sở đào tạo và được kê khai trên hệ thống dữ liệu giáo dục đại học.
Giảng viên cơ hữu tại cơ sở công lập là người được tuyển dụng, sử dụng theo quy định về vị trí việc làm; còn tại cơ sở tư thục phải ký hợp đồng từ 3 năm trở lên hoặc không xác định thời hạn, không là công chức hoặc viên chức nhà nước, không làm việc dài hạn nơi khác và do trường trả lương theo quy định.
Quy định cho phép tính giảng viên đồng cơ hữu, nhưng kèm theo các điều kiện cụ thể. Những giảng viên này phải đảm bảo khối lượng giảng dạy tối thiểu bằng 50% định mức của giảng viên cơ hữu và phải giảng dạy trọn vẹn ít nhất một học phần trong năm học.
Ngoài ra, giảng viên đã nghỉ hưu nhưng tiếp tục làm việc toàn thời gian cũng được tính, với điều kiện ký hợp đồng từ 12 tháng trở lên, giảng dạy trọn vẹn tối thiểu 1 học phần trong năm học trong năm xác định số lượng tuyển sinh và không ký hợp đồng lao động có thời hạn từ 3 tháng trở lên với nơi khác.
Đối với đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ, giảng viên phải đáp ứng tiêu chuẩn người hướng dẫn theo quy chế hiện hành, đồng thời ký hợp đồng toàn thời gian tối thiểu 3 năm với cơ sở đào tạo.
Một số nhóm ngành đặc thù như ngôn ngữ, văn hóa, nghệ thuật và thể thao được áp dụng cơ chế linh hoạt hơn trong việc tính giảng viên khi xác định số lượng tuyển sinh đại học.
Theo đó, các danh hiệu như nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo ưu tú, huấn luyện viên/vận động viên đã từng giành giải vô địch thế giới, vô địch châu lục, vô địch SEA Games, được phong cấp vận động viên kiện tướng quốc gia, đồng thời có bằng đại học cùng ngành hoặc cùng nhóm ngành với ngành tham gia đào tạo được tính hệ số như giảng viên có trình độ thạc sĩ; có bằng thạc sĩ được tính hệ số như giảng viên có trình độ tiến sĩ.
Đối với lĩnh vực sức khỏe, thông tư quy định: giảng viên có bằng bác sĩ nội trú hoặc chuyên khoa I được tính tương đương trình độ thạc sĩ, chuyên khoa II tương đương tiến sĩ khi xác định chỉ tiêu tuyển sinh trình độ đại học, với điều kiện có ít nhất 3 năm kinh nghiệm giảng dạy. Đồng thời, người hướng dẫn thực hành tại cơ sở thực hành cũng được tính vào đội ngũ giảng viên cơ hữu.
Ông Lê Anh Tuấn sinh năm 1975, quê quán tại tỉnh Hà Tĩnh. Ông là cựu sinh viên khóa 37 ngành Cơ khí động lực tại Đại học Bách khoa Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp loại xuất sắc, ông được giữ lại làm cán bộ giảng dạy tại Trường Cơ khí từ năm 1997.
Ông hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Kỹ thuật Graz, Cộng hòa Áo trong giai đoạn 2002-2005; được bổ nhiệm chức danh Phó Giáo sư vào năm 2009 và Giáo sư vào năm 2017.
Với trình độ chính trị cao cấp, ông đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo quan trọng tại nhà trường. Các chức vụ ông từng giữ, gồm: Trưởng bộ môn, Giám đốc Phòng thí nghiệm đầu tư tập trung, Viện trưởng Viện Cơ khí động lực.
Giai đoạn 2016 - 2025 ghi nhận sự đóng góp của ông trong công tác quản trị đại học với các vai trò: Thư ký Hội đồng trường, Phó Chủ tịch và Chủ tịch Hội đồng Đại học...
Tân Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội từng chủ biên và đồng tác giả 7 quyển sách, sở hữu 2 bằng sở hữu trí tuệ và công bố trên 150 bài báo tại các tạp chí uy tín. Chỉ số H-Index của ông đạt 32 trên Google Scholar và 29 trên Scopus.
Bên cạnh công tác tại Đại học Bách khoa Hà Nội, GS. TS Lê Anh Tuấn còn giữ nhiều trọng trách xã hội và nghề nghiệp:
Thành viên Tổ Giúp việc cho Thủ tướng Chính phủ về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06; Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội; Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư liên ngành Cơ khí - Động lực; Thành viên mạng lưới xe điện toàn cầu (GEAN).
Tại điểm thi lớp 10 tại Trường THCS Lê Lai, P.Phú Định, trưa 1.6, nhiều học sinh (HS) bước ra cổng trường và nói cười sảng khoái. "Đề dễ, vừa sức với HS", Thảo Vy, Trường THCS Bình Đông, P.Phú Định, nói. Trong khi đó, Võ Lê Tuấn, HS Trường THCS Bình Đông, P.Phú Định, cũng nói đề khá dễ, em viết được 2,5 tờ giấy thi. Chọn đề 2 trong bài viết văn nghị luận xã hội, Tuấn lập luận người trẻ hãy biết sống vì người khác, không chỉ nghĩ tới riêng mình, cụ thể hóa bằng việc hãy san sẻ, quan tâm, giúp đỡ người khác, đừng chỉ mãi ở trong "góc riêng" vì tự ti, không dám đối diện với thực tế, lâu dần sẽ bị ù lì, không hòa đồng…
Tại Trường THPT Trưng Vương (P.Sài Gòn), nhiều thí sinh chia sẻ phần tiếng Anh vừa sức và dễ đạt điểm 8 - 9 trở lên. Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh, HS Trường THCS Nguyễn Du (P.Bến Thành), và một HS khác từ Trường THCS Điện Biên (P.Gia Định) đều cho biết chỉ mất 30 phút là xong bài, tức hoàn thành môn thi trong 1/3 thời lượng làm bài. "Đề có độ khó chỉ tương đương với đề thi giữa và cuối học kỳ ở trường. Nếu so với đề năm ngoái thì độ khó chỉ bằng khoảng 50%", nữ sinh kỳ vọng đạt trên 9 điểm nhìn nhận. Quỳnh Anh thông tin thêm năm nay đề tiếng Anh có hai câu hỏi mới về viết cụm từ phù hợp theo thông tin cho sẵn. Tuy nhiên, nữ sinh nói không mất nhiều thời gian ở câu này, cho rằng đề chính thức còn dễ hơn so với các đề thi thử em từng làm trên lớp. "Em nghĩ các bạn dễ sai phần viết lại câu, nhất là với những ai không ôn kỹ ngữ pháp", Quỳnh Anh cho biết.
Vương Thục Tâm Đan, HS Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa (nay là Trường THCS-THPT Trần Đại Nghĩa, P.Bến Nghé), và Võ Ngọc Anh Minh, HS Trường THCS Colette (P.Xuân Hòa), cũng đều cho rằng hai câu hỏi mới trong đề tiếng Anh là "phần cho điểm, nhìn vô là biết ngay". Tuy nhiên, cả hai nêu quan điểm đề thi năm nay có độ khó tương đương hoặc khó hơn năm ngoái "một chút", dễ đạt điểm cao nhưng khó đạt điểm tuyệt đối.
Trong khi đó Tuyết Hằng và Lê Hân, cùng học Trường THCS Trần Danh Ninh, P.Chánh Hưng, cho biết có nhiều câu các em không tự tin về đáp án. Hai thí sinh cũng cho hay bình thường mình chỉ học và ôn tập tiếng Anh ở trên trường, về xem lại sách giáo khoa, ngoài ra không đi học thêm ở đâu. "Nếu không đi học thêm tiếng Anh, em nghĩ là được khoảng 6 - 7 điểm tiếng Anh với đề thi vào lớp 10 của TP.HCM là cao", Tuyết Hằng cho biết.
Thí sinh Phương Linh, HS Trường THCS Lý Thánh Tông, P.Chánh Hưng, đã có chứng chỉ Movers từ tiểu học, bên cạnh đó cũng có chứng chỉ KET, đang học PET, đồng thời có ôn luyện thêm tiếng Anh 3 buổi/tuần. Phương Linh nhận thấy đề thi tiếng Anh không quá khó, nếu thí sinh học chắc từ vựng, ngữ pháp, cấu trúc trong sách giáo khoa, kèm với phần ôn luyện kỹ lưỡng của giáo viên trên lớp thì có thể được 7 - 8 điểm.
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố dự thảo thông tư ban hành quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học để lấy ý kiến góp ý.
Tại dự thảo, lần đầu bộ đưa ra cơ chế miễn phản biện độc lập đối với nghiên cứu sinh có kết quả nghiên cứu xuất sắc đạt chuẩn quốc tế cao.
Theo đó luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh sẽ được miễn quy trình phản biện độc lập khi đáp ứng điều kiện có ít nhất 3 bài báo khoa học là kết quả nghiên cứu liên quan trực tiếp đến nội dung luận án, được công bố trên tạp chí khoa học thuộc danh mục WoS hoặc Scopus, trong đó có ít nhất 2 bài thuộc nhóm Q1.
Trong các công bố này, nghiên cứu sinh phải là tác giả đứng tên đầu hoặc tác giả liên hệ của các bài báo. Các công bố không quá 60 tháng tính đến thời điểm tổ chức đánh giá luận án.
Phản biện độc lập là quy trình đánh giá luận án trước khi nghiên cứu sinh bảo vệ luận án tại hội đồng đánh giá luận án.
Cơ sở đào tạo có trách nhiệm hoàn thành quy trình phản biện độc lập trong thời gian tối đa 6 tháng kể từ thời điểm nghiên cứu sinh nộp dự thảo luận án đã được đơn vị chuyên môn thông qua. Trong trường hợp phải thực hiện lấy ý kiến phản biện độc lập lần thứ hai theo quy định, thời gian được kéo dài thêm tối đa 3 tháng.
Với những trường hợp không thuộc diện miễn phản biện độc lập, luận án của nghiên cứu sinh sẽ được gửi lấy ý kiến phản biện của 2 nhà khoa học hoặc chuyên gia không thuộc cơ sở đào tạo ở trong nước hoặc nước ngoài.
Người được lấy ý kiến phản biện phải không có lợi ích liên quan trực tiếp đến nghiên cứu sinh hoặc người hướng dẫn.
Ý kiến của người phản biện độc lập phải kết luận rõ đồng ý hoặc không đồng ý về chất lượng chuyên môn của luận án.
Luận án được xác định đạt yêu cầu phản biện độc lập khi có ít nhất 2 ý kiến đồng ý của người phản biện độc lập. Trong trường hợp có 1 ý kiến không đồng ý, cơ sở đào tạo gửi luận án để lấy thêm ý kiến của 1 người phản biện độc lập khác làm căn cứ xem xét, quyết định.
Trường hợp có từ 2 ý kiến không đồng ý về chất lượng chuyên môn của luận án, cơ sở đào tạo yêu cầu nghiên cứu sinh và người hướng dẫn chỉnh sửa, bổ sung luận án và thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ hai. Không thực hiện phản biện độc lập lần thứ ba.
Bên cạnh đó, dự thảo bổ sung quy định về tổ chức bảo vệ luận án trực tuyến trong trường hợp cần thiết khi đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, tính khách quan, công khai và minh bạch.
Dự thảo quy định chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ chỉ được tổ chức theo hình thức đào tạo chính quy nhằm tăng cường môi trường học thuật, nghiên cứu và bảo đảm chất lượng đào tạo nghiên cứu sinh.
Các cơ sở đào tạo được chủ động quyết định hình thức, phương thức tổ chức đào tạo, kế hoạch học tập toàn khóa và thời gian đào tạo chuẩn của từng chương trình. Đồng thời phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, công bằng trong tuyển sinh và tổ chức đào tạo.
Các cơ sở đào tạo được ứng dụng công nghệ thông tin trong tuyển sinh, đăng ký dự tuyển, quản lý và lưu trữ hồ sơ người học khi bảo đảm độ tin cậy, tính xác thực và công bằng trong đánh giá người dự tuyển.
Dự thảo bổ sung nhiều quy định nhằm tăng tính liên thông giữa các trình độ đào tạo trong giáo dục đại học. Dự thảo quy định kết quả học tập và chứng chỉ giáo dục đại học dùng để công nhận, chuyển đổi tín chỉ có giá trị trong thời hạn 60 tháng kể từ ngày hoàn thành học phần hoặc thời điểm được cấp chứng chỉ.
Người học phải hoàn thành chương trình đào tạo trong thời gian tối thiểu bằng hai phần ba và tối đa không vượt quá 2,5 lần thời gian đào tạo chuẩn của chương trình.
Trường hợp quá thời gian đào tạo tối đa mà chưa hoàn thành chương trình, người học phải thực hiện xét lại điều kiện đầu vào theo quy định của cơ sở đào tạo và chỉ được bảo lưu các học phần, chứng chỉ còn thời hạn công nhận.
Đối với chương trình đào tạo tích hợp, người học tích lũy đủ số lượng tín chỉ của trình độ nào thì được xem xét công nhận và cấp bằng ở trình độ tương ứng theo quy định của chương trình đào tạo.