Theo báo cáo của Sở GD-ĐT TP.HCM, năm 2026 có 169.927 học sinh lớp 9 dự kiến xét hoàn thành chương trình giáo dục THCS năm học 2025-2026; trong đó 169.602 học sinh hoàn thành chương trình giáo dục THCS, đạt tỷ lệ 99,81%.
Tổng số học sinh đăng ký tham gia kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026-2027 là 151.269 em. Trong quá trình đăng ký tuyển sinh, Sở GD-ĐT ghi nhận 45.263 lượt điều chỉnh nguyện vọng và dữ liệu đang được rà soát, đồng bộ để phục vụ công tác tổ chức thi và tuyển sinh.
Tổng số thí sinh đăng ký nguyện vọng vào lớp 10 chuyên, tích hợp và chương trình đặc thù là 11.354 em. Trong đó lớp chuyên tiếng Anh có số lượng đăng ký cao nhất với 3.342 thí sinh, tiếp theo là lớp chuyên toán với 2.072 thí sinh và chuyên ngữ văn với 1.368 thí sinh…
Thành phố có 1.515 thí sinh thuộc diện tuyển thẳng vào lớp 10 trung học phổ thông theo quy định trong đó gồm 100 học sinh thuộc diện tuyển thẳng do đạt thành tích thể thao cấp quốc gia, 3 học sinh dân tộc thiểu số rất ít người và 1.412 học sinh khuyết tật.
Ông Nguyễn Văn Hiếu, Giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM, cho biết với số lượng thí sinh đăng ký dự thi lớp 10 như trên, sở này tổ chức kỳ thi vào ngày 1-2.6 tại 242 điểm thi có tổng số 6.443 phòng thi. Đồng thời Sở GD-ĐT huy động gần 18.000 cán bộ, giáo viên, nhân viên tham gia công tác thi.
Giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM cho hay, sau sắp xếp đơn vị hành chính và mở rộng địa giới hành chính TP.HCM, quy mô tuyển sinh lớp 10 tăng đáng kể. Công tác quy hoạch điểm thi được thực hiện theo hướng tạo thuận lợi tối đa cho học sinh, đặc biệt tại các địa bàn xa trung tâm, khu vực giáp ranh và các địa bàn đặc thù.
Thành phố tiếp tục duy trì một số điểm thi có quy mô nhỏ tại các địa bàn xa trung tâm nhằm giảm áp lực di chuyển, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tham gia kỳ thi. Đồng thời bảo đảm đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, an ninh, an toàn và tổ chức thi theo đúng quy định.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tôi từng nghe một người mẹ thở dài: "Không cho con dùng điện thoại thì sợ tụt lại việc học, mà cho dùng thì sợ nó lạc vào những thứ mình không kiểm soát nổi". Đó có lẽ là nỗi niềm không của riêng ai.
Trong những ngày gần đây, đề xuất hạn chế, thậm chí cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội được đưa ra, xuất phát từ những lo ngại rất thật: bắt nạt trực tuyến, lừa đảo, xâm hại, nghiện mạng… Những điều ấy không còn là cảnh báo xa xôi, mà đã hiện diện trong đời sống mỗi gia đình.
Song, nhìn kỹ, ta sẽ thấy mình đang đứng trước một nghịch lý: chính những nền tảng mà người lớn muốn "cấm", lại đang là công cụ học tập quen thuộc của trẻ. Lớp học hôm nay không còn gói gọn trong bốn bức tường. Bài tập được giao qua Zalo, thảo luận nhóm trên Facebook, tài liệu chia sẻ qua các ứng dụng nhắn tin.
Một học sinh nếu bị "cắt mạng", đôi khi cũng đồng nghĩa bị cắt khỏi dòng chảy học tập. Vậy nên, câu chuyện không còn đơn giản là "có nên cấm hay không" mà là câu chuyện của một thời đại mà ranh giới giữa học và chơi, giữa hữu ích và độc hại, không còn rõ ràng.
Tôi nghĩ, nỗi lo của người lớn là có thật. Nhưng phản xạ "cấm" nhiều khi lại là một phản xạ bản năng: khi không kiểm soát được, ta muốn loại bỏ. Thực ra, với không gian số, điều đó gần như không thể.
Trẻ em hôm nay không lớn lên trong một thế giới "có Internet", mà là một thế giới "chính là Internet". Các em không bước vào không gian số, mà đang sống trong đó. Vì vậy cấm đoán không phải là dựng một hàng rào, mà giống như yêu cầu các em không bước ra khỏi một thực tại vốn đã gắn liền với mình.
Và điều đáng nói hơn những gì bị cấm tuyệt đối, thường lại trở nên hấp dẫn hơn. Một đứa trẻ không được giải thích, không được trang bị, chỉ đơn thuần bị ngăn lại, rất dễ tìm cách đi vòng. Dùng tài khoản khác, mượn thiết bị khác, hoặc đơn giản là giấu đi. Khi đó, người lớn không còn kiểm soát được, mà trẻ cũng không có kỹ năng để tự bảo vệ mình.
Theo đó, nguy cơ không biến mất mà chỉ trở nên khó thấy hơn. Thực tế, nếu cấm đoán một cách cứng nhắc, chúng ta còn đối diện với một hệ quả khác: bất bình đẳng.
Một học sinh ở thành phố có nhiều thiết bị, nhiều kênh tiếp cận, có thể dễ dàng tìm cách thay thế. Nhưng một học sinh ở vùng khó khăn, phụ thuộc hoàn toàn vào những nền tảng phổ biến để nhận bài, trao đổi với thầy cô, có thể bị "rơi ra ngoài" chỉ vì một quyết định hành chính. Khi đó, câu chuyện không còn là bảo vệ trẻ em, mà là vô tình tạo thêm khoảng cách.
Nhưng nếu không cấm, thì làm gì? Có lẽ, câu trả lời không nằm ở một biện pháp duy nhất, mà ở một cách tiếp cận khác: từ "bảo vệ bằng rào cản" sang "bảo vệ bằng năng lực". Thay vì cố gắng kiểm soát mọi thứ, hãy giúp trẻ biết cách tự kiểm soát.
Một đứa trẻ biết nhận diện lừa đảo, biết phân biệt thông tin thật/giả, biết dừng lại khi thấy mình đang bị cuốn vào những nội dung vô nghĩa… sẽ an toàn hơn rất nhiều so với một đứa trẻ chỉ đơn thuần bị cấm. Điều này không thể đến từ một bài giảng đạo đức, mà cần được thực hành.
Trong gia đình, cha mẹ không chỉ là người giám sát, mà cần trở thành người đồng hành. Không phải là "đừng dùng", mà là "con đang xem gì vậy?", "con nghĩ gì về điều này?". Một cuộc trò chuyện mở, nhiều khi hiệu quả hơn cả một ứng dụng kiểm soát.
Ở trường học, kỹ năng số không nên chỉ là một khái niệm, mà cần trở thành một phần của giáo dục thực chất: cách ứng xử khi bị bình luận tiêu cực, cách bảo vệ thông tin cá nhân, cách quản lý thời gian sử dụng.
Về phía chính sách, thay vì đặt toàn bộ trách nhiệm lên gia đình và nhà trường, cần buộc các nền tảng công nghệ phải có trách nhiệm hơn: chế độ tài khoản dành riêng cho trẻ em, kiểm soát nội dung, giới hạn thời gian, giảm các thuật toán gây nghiện. Bởi suy cho cùng, một đứa trẻ không thể chống lại cả một hệ thống được thiết kế để giữ chân người dùng.
Có một câu hỏi mà tôi nghĩ chúng ta nên tự đặt ra: chúng ta muốn con mình "không dùng mạng", hay muốn con mình "biết dùng mạng"? Hai điều đó rất khác nhau.
Theo đó, một đứa trẻ không dùng mạng có thể an toàn trong một giai đoạn. Nhưng một đứa trẻ biết dùng mạng - biết chọn lọc, biết dừng lại, biết tự bảo vệ - mới có thể đi đường dài trong một thế giới mà công nghệ là điều không thể tách rời.
Chúng ta không thể đi thay con cả đời, nhưng chúng ta có thể dạy con cách đi. Có thể, thay vì hỏi "có nên cấm hay không", chúng ta nên hỏi một câu khác: con mình đang ở đâu trong thế giới số và mình đã ở đó cùng con chưa?
Điều trẻ cần không phải là một lệnh cấm, mà là một người lớn đủ kiên nhẫn để ngồi xuống, lắng nghe và đi cùng. Trong một thế giới ngày càng nhiều kết nối, có lẽ điều quan trọng nhất không phải là tắt đi một cánh cửa, mà là dạy nhau cách bước qua nó một cách an toàn.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Sau bài Sai chiến lược dễ trượt đại học, hàng loạt ý kiến gửi về cho rằng việc vào đại học không còn là hành trình học tập đơn thuần mà như cuộc đua thông tin, bài toán chiến lược cùng câu hỏi không mới "Bao giờ chấm dứt cảnh tuyển sinh năm nào cũng đổi?".
"Không biết đến bao giờ Bộ Giáo dục và Đào tạo mới ngừng thay đổi tuyển sinh đại học?", bạn đọc Ly Lan đặt câu hỏi.
Nhiều phụ huynh cho biết năm nào cũng nghe thông tin "ổn định" nhưng thực tế lại xuất hiện những điều chỉnh mới khiến họ luôn trong trạng thái thấp thỏm.
"Quanh năm toàn nghe chuyện thay đổi quy chế tuyển sinh đại học, hết sức ngán ngẩm", một bạn đọc bày tỏ. Người khác than phiền: "Thay đổi hoài, học sinh, giáo viên, phụ huynh chạy theo mệt mỏi năm nào cũng vậy".
Ngay giáo viên phổ thông cũng lúng túng khi tư vấn cho học sinh. Bạn đọc Thu Thủy - một giáo viên, chia sẻ bản thân "không biết giải thích, tư vấn cho học sinh thế nào" trước những thay đổi liên tục.
Theo cô, năm nào cơ quan quản lý cũng khẳng định tuyển sinh sẽ ổn định nhưng thực tế lại khác: "Nhiều năm nay, năm nào quy chế tuyển sinh đại học cũng điều chỉnh, sửa đổi, toàn những thay đổi lớn, ảnh hưởng rất nhiều đến thí sinh".
Phụ huynh Trí có con cùng lúc thi vào lớp 10 và đại học cho biết chỉ riêng việc đọc và hiểu các thông tin tuyển sinh đã thấy "đau đầu" nên mong quy chế được xây dựng ổn định và trình bày thật rõ ràng, dễ hiểu.
Nếu trước đây việc vào đại học chủ yếu dựa vào kết quả thi thì nay nhiều ý kiến cho rằng tuyển sinh đã trở thành một "cuộc chơi nhiều biến số".
"Học sinh bây giờ không chỉ học, thi, chọn ngành mà còn phải tính chiến lược nguyện vọng, điểm cộng, tổ hợp, quy đổi điểm… nghe đã thấy mệt", một ý kiến nhận xét. Trong khi lẽ ra tuyển sinh phải giúp học sinh vào đúng ngành, đúng năng lực chứ không nên biến thành "bài toán mẹo cho ai có nhiều thông tin hơn thì thắng".
Nhiều ý kiến cũng chỉ ra sự chồng chéo giữa các phương thức xét tuyển. Việc vừa xét học bạ, vừa yêu cầu ngưỡng điểm thi tốt nghiệp THPT trong tổ hợp môn khiến không ít người cảm thấy khó hiểu.
Bạn đọc Huy cho rằng việc xét tuyển học bạ dựa trên đủ 6 học kỳ của ba năm THPT là hợp lý vì phản ánh cả quá trình học tập của học sinh. Tuy nhiên không nên kèm thêm điều kiện điểm thi tốt nghiệp THPT trong tổ hợp xét tuyển. "Nếu đã quy định như vậy thì không cần đến phương thức xét học bạ", bạn đọc Huy viết.
Cùng băn khoăn, ý kiến khác cho rằng các chính sách tuyển sinh nhiều năm qua tạo cảm giác chính ngành giáo dục chưa thực sự tin vào "sản phẩm" của mình.
Theo đó, việc vừa xét học bạ vừa bổ sung ngưỡng điểm từ kỳ thi tốt nghiệp THPT hay yêu cầu kết hợp thêm điều kiện với các kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy khiến các phương thức trở nên chồng chéo, mất đi ý nghĩa ban đầu.
Việc quy đổi điểm giữa các phương thức xét tuyển cũng gây nhiều tranh cãi. "Năm ngoái mỗi trường quy đổi một kiểu, chả hiểu được gì", một ý kiến phản ánh và đề nghị cần có quy định chung áp dụng toàn quốc.
Bạn đọc Minh Trí cho rằng mỗi phương thức tuyển sinh hướng đến những nhóm thí sinh khác nhau nên nếu vẫn yêu cầu quy đổi điểm như cách làm thời gian qua thì việc tồn tại nhiều phương thức trở nên thiếu ý nghĩa. Nếu bắt buộc quy đổi điểm thì nên quy định mỗi trường chỉ sử dụng một phương thức tuyển sinh để đảm bảo rõ ràng, tránh rối rắm.
Có nhiều đề xuất được đưa đều mong muốn hệ thống tuyển sinh phải rõ ràng hơn. Một bạn đọc mong quy chế cần ổn định trong vài năm, công bố sớm, viết thật dễ hiểu và quy đổi điểm minh bạch, đừng để chuyện vào đại học trở thành cuộc thử sức của phụ huynh trong việc đọc quy chế và đoán điểm chuẩn.
Ý kiến khác đề xuất đơn giản hóa các phương thức tuyển sinh. Bạn đọc Đỗ Dũng cho rằng cần tính toán lại khâu ra đề thi tốt nghiệp THPT theo hướng tăng tính phân loại để kỳ thi này phục vụ đồng thời hai mục tiêu: xét tốt nghiệp và tuyển sinh đại học.
"Đề thi chỉ cần 30% câu hỏi khó để phân loại thí sinh là có thể dùng cho tuyển sinh", bạn đọc này nêu quan điểm.
Đồng thời đã đến lúc cần nhìn nhận đúng giá trị thực của giáo dục, tránh nặng về thành tích khi tỉ lệ tốt nghiệp nhiều năm luôn ở mức rất cao nhưng chưa phản ánh rõ năng lực phân hóa.
Ở hướng khác, các ý kiến ủng hộ trao quyền tự chủ tuyển sinh cho các trường đại học. Bộ chỉ nên tập trung giám sát, kiểm soát chất lượng đào tạo thay vì can thiệp sâu vào cách thức tuyển sinh.
Những ý kiến khác quan tâm đến chất lượng giáo dục đại học. "Tuyển sinh chỉ là một phần trong cả quá trình đào tạo. Nếu chỉ tập trung chọn đầu vào mà bỏ qua kiểm soát chất lượng trong quá trình học và đầu ra sẽ khó đảm bảo hiệu quả giáo dục", một giảng viên nhận định.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Giáo Dục
Xác định số lượng tuyển sinh theo quy định mới, trường ĐH chuẩn bị ra sao?

Bộ GD-ĐT vừa ban hành Thông tư 34 quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh ĐH, thạc sĩ, tiến sĩ và số lượng tuyển sinh CĐ ngành giáo dục mầm non, thay thế thông tư năm 2022 (áp dụng khóa tuyển sinh 2027), với những điểm mới được cho là tác động đáng kể tới chỉ tiêu tuyển sinh và kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên (GV) của các trường ĐH.
Theo thông tư này, để xác định số lượng tuyển sinh, GV phải ký hợp đồng làm việc toàn thời gian tối thiểu 3 năm. Điều đó có nghĩa năm 2025 hay 2026 một trường ĐH tuyển được 50 tiến sĩ, 15 thạc sĩ thì số lượng GV mới này không được tính để xác định chỉ tiêu. Quy định mới cũng đưa ra số lượng người học quy đổi trên GV quy đổi không theo nhóm ngành như trước (ví dụ kỹ thuật là 20 sinh viên (SV)/GV, kinh tế 25 SV/GV) mà tính chung là 40 SV/GV cho tất cả nhóm ngành.
Đặc biệt, hệ số quy đổi của GV có chức danh giáo sư (GS), phó giáo sư (PGS), trình độ tiến sĩ đều bằng 1 trong khi quy định cũ là GS = 5, PGS = 3 và tiến sĩ = 2. Bên cạnh đó thạc sĩ trước đây có hệ số 1 thì giờ giảm còn 0,75.
Tất cả những con số trên mới chỉ thể hiện năng lực đào tạo. Còn số lượng tuyển sinh được tính theo công thức: năng lực đào tạo - quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến trong năm.
Những điểm nói trên đã tác động trực tiếp tới việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh của các cơ sở giáo dục ĐH. Theo tính toán của một lãnh đạo trường ĐH tại TP.HCM, nếu theo cách tính mới này, chỉ tiêu tuyển sinh các trường có thể sẽ giảm từ 10 - 30%.
Lấy ví dụ, một trường ĐH đào tạo khối ngành kinh tế (có tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 25 SV/GV) có 5 GS, 10 PGS, 100 tiến sĩ và 80 thạc sĩ. Nếu tính theo cách cũ, thì 5 GS được xác định 5 x 5 x 25 = 650 chỉ tiêu, 10 PGS được tuyển 10 x 3 x 25 = 750 chỉ tiêu, 150 tiến sĩ sẽ được tuyển 100 x 2 x 25 = 5.000 chỉ tiêu, 100 thạc sĩ được tuyển 100 x 25 = 2.500 chỉ tiêu. Tổng chỉ tiêu là 8.900.
Nếu tính theo cách mới (tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 40 SV/GV), năng lực đào tạo của GS là 5 x 40 = 200 chỉ tiêu, PGS là 10 x 40 = 400 chỉ tiêu, tiến sĩ là 100 x 40 = 4.000; thạc sĩ là 100 x 0,75 x 40 = 3.000. Tổng năng lực đào tạo lúc này là 7.600, tính ra đã giảm tới 1.300. Chưa kể khi tính theo công thức mới, chỉ tiêu = năng lực đào tạo - quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến, thì số lượng có thể còn giảm thêm.
Tiến sĩ Trần Hữu Duy, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Đà Lạt, cho biết: "Thông tư này nhằm siết quy mô đào tạo ĐH để nâng cao chất lượng và tăng quy mô đào tạo sau ĐH (tối thiểu 15% tổng chỉ tiêu). Một trường mà có nhiều GS, PGS, tiến sĩ thì tỷ lệ chỉ tiêu sẽ giảm khá nhiều so với cách tính cũ".
Theo tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, việc xác định số lượng tuyển sinh của nhiều trường sẽ bị thu hẹp hoặc phải tính lại theo hướng thực chất hơn và ít phụ thuộc hơn vào hệ số ưu thế của một số học hàm, học vị cao.
"Trước đây, chỉ cần có một số lượng GS, PGS hoặc tiến sĩ thì tổng số GV quy đổi tăng lên rất mạnh, từ đó kéo theo năng lực đào tạo và chỉ tiêu tuyển sinh tăng tương ứng. Nay khi GS, PGS, tiến sĩ cùng được tính ở mức 1, khoảng chênh lệch đó gần như bị triệt tiêu. Vì vậy, những trường trước đây dựa khá nhiều vào hệ số cao của một đội ngũ GV có học hàm, học vị để xác định chỉ tiêu thì nay sẽ không còn lợi thế như trước. Trong khi những trường có đội ngũ ổn định nhưng không nhiều GS, PGS lại ít bị chênh lệch hơn trước", tiến sĩ Tuấn nhìn nhận.
Nhưng chính vì thế mặt bằng chỉ tiêu giữa các trường sẽ có xu hướng được kéo lại gần nhau hơn. Không còn chuyện cùng một số lượng GV, nhưng chỉ cần cơ cấu học hàm, học vị khác nhau là kết quả chỉ tiêu có thể chênh lệch rất lớn. Với mức quy đổi này kết quả xác định chỉ tiêu sẽ phản ánh sát hơn quy mô đội ngũ thực tế.
Theo tiến sĩ Trần Hữu Duy, cho đến thời điểm hiện tại, quy định GV phải tối thiểu có trình độ thạc sĩ, nên cho dù hệ số quy đổi có giảm thì vai trò của GV có trình độ thạc sĩ là không thay đổi. Tuy nhiên, qua đây cũng có thể thấy quan điểm của Bộ GD-ĐT rất rõ ràng, tiến tới hạn chế GV có trình độ thạc sĩ. Điều này đặt ra nhiệm vụ cho các trường là phải khẩn trương có kế hoạch đào tạo nâng trình độ của GV, nếu không về lâu dài khi Bộ nâng chuẩn GV lên trình độ tiến sĩ thì sẽ rất khó khăn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn cũng cho rằng quy định mới không hề làm giảm vai trò chính thức của GV trình độ thạc sĩ. Họ vẫn là lực lượng trực tiếp giảng dạy và đóng vai trò quan trọng trong vận hành chương trình đào tạo.
"Ở góc độ quy đổi chỉ tiêu, trọng số của đội ngũ thạc sĩ giảm ảnh hưởng tới những trường vốn dựa nhiều vào thạc sĩ. Nhưng về mặt vận hành, khi hệ số quy đổi thấp hơn, đóng góp của GV thạc sĩ vào năng lực tuyển sinh sẽ giảm so với trước. Điều này có thể dẫn đến việc họ được phân công nhiều hơn ở các học phần cơ bản hoặc đóng vai trò hỗ trợ trong nghiên cứu. Dù vậy, trong các ngành đào tạo mang tính ứng dụng cao, vai trò của GV thạc sĩ, đặc biệt là những người có kinh nghiệm thực tiễn, vẫn không thể thay thế. Vì vậy, vấn đề không phải là giảm vai trò mà là tái định vị vai trò cho phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của hệ thống", tiến sĩ Tuấn khẳng định.
PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn, Hiệu trưởng Trường ĐH Công thương TP.HCM, nhận định: "Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ chủ trương được thể hiện thông qua các quy định về chuẩn cơ sở giáo dục ĐH, quy định về xác định số lượng người học... theo hướng nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đặc biệt là tăng tỷ lệ tiến sĩ. Tuy nhiên, cần có lộ trình phù hợp và phân loại rõ các mô hình ĐH. Nếu áp dụng cứng nhắc có thể dẫn đến giảm chỉ tiêu đào tạo và thiếu hụt nguồn nhân lực cho thị trường lao động".
Để thực hiện chiến lược phát triển đội ngũ GV trình độ cao, trong 3 năm trở lại đây và thời gian tới, Trường ĐH Công thương TP.HCM không tuyển thạc sĩ, chỉ tuyển tiến sĩ trở lên với chính sách đãi ngộ hấp dẫn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn đánh giá nguồn GV trình độ tiến sĩ ở VN vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành mới hoặc liên ngành, hoặc có những ngành chưa đào tạo tiến sĩ ở trong nước. Khi tiêu chuẩn được nâng lên đồng loạt, các trường sẽ cạnh tranh rất mạnh để thu hút nhân sự, mà số lượng tiến sĩ trong thời gian tới không thể tăng nhanh như trước đây nên dẫn đến chi phí tăng cao và không phải trường nào cũng có lợi thế như nhau.
"Nếu không có sự linh hoạt trong triển khai và lộ trình hợp lý thì các quy định này có thể làm giảm tính năng động và dẫn đến những hệ lụy không mong muốn như méo mó cơ cấu ngành đào tạo, đặc biệt là gia tăng chi phí học tập. Vì vậy, cần có cơ chế điều chỉnh phù hợp theo từng nhóm ngành, từng loại hình cơ sở đào tạo, thì khi đó mục tiêu nâng cao chất lượng mới có thể đạt được mà không làm triệt tiêu động lực phát triển của hệ thống", tiến sĩ Tuấn đề xuất.
"Nước ta hướng tới mục tiêu đó là tốt; tuy nhiên tỷ lệ GV có trình độ tiến sĩ của nước ta hiện nay rất thấp. Do đó Bộ cần phải có lộ trình phù hợp cho các trường để nâng chuẩn trình độ GV, thực hiện ngay sẽ rất phi thực tế. Lộ trình này có thể 5 - 7 năm là phù hợp; hoặc đến năm 2035 là hợp lý nhất", tiến sĩ Trần Hữu Duy nhìn nhận.
Tin Gốc: Thanh Niên

