Một cuộc điều tra kéo dài nhiều tháng của tờ The Guardian Australia đã phơi bày cái chết đau lòng của Bikram Lama, một du học sinh 32 tuổi người Nepal, vào cuối năm ngoái.
Theo đó, Lama không may rơi vào cảnh khó khăn, không còn nơi ở và phải ngủ trong đường hầm dẫn vào ga tàu điện ngầm St James ở Sydney. Lối đi này xuyên qua khu trung tâm thành phố, chạy bên dưới công viên Hyde Park – “một trong những địa điểm mà người dân địa phương và khách du lịch lui tới nhiều nhất”.
Ước tính hơn 100.000 người đã đi ngang qua trước khi nhân viên nhà ga phát hiện sự việc vào tháng 12 năm ngoái.
“Cứ như thể anh ấy là một người vô hình. Điều đó thật sự rất đau lòng”, Erin Longbottom, quản lý đơn vị điều dưỡng của dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người vô gia cư tại Bệnh viện St Vincent, nói.
Năm 2013, gia đình Lama đã bán đi 3.000 m2 đất nông nghiệp – tài sản quý giá nhất của họ – để đưa anh sang Australia du học với hy vọng đổi đời.
Tuy nhiên, Lama dần mất liên lạc với gia đình. Lần cuối họ nghe được thông tin từ anh đã là 7 năm trước. Gia đình vô cùng sửng sốt khi Bộ Ngoại giao Nepal liên lạc để yêu cầu xét nghiệm ADN.
Hồ sơ cho thấy visa sinh viên của anh đã hết hạn và hộ chiếu cũng không được gia hạn vào năm 2023.
Theo các chuyên gia, người không có tư cách cư trú đang trở thành nhóm vô gia cư ngày càng đông tại Australia. Họ bị kẹt trong “vòng xoáy tử thần”: không được phép làm việc, không được hưởng trợ cấp chính phủ, không có quyền tiếp cận nhà ở xã hội và phần lớn không được chăm sóc y tế công cộng.
Hội đồng Thành phố Sydney ước tính cứ 5 người ngủ bụi thì một không phải cư dân Australia. Họ là những du học sinh thất thế, những người lao động hết hạn visa hoặc diện tị nạn.
Khủng hoảng nhà ở được coi là nguyên nhân chính. Dữ liệu từ tờ ABC News cũng cho thấy khả năng trả tiền thuê nhà của người Australia đã chạm mức thấp kỷ lục hồi đầu năm nay, khi giá thuê tăng nhanh gấp 2,5 lần so với tiền lương.
Theo The Emigration Group, sinh hoạt phí mỗi tháng tại Sydney, New South Wales, khoảng 3.450 AUD (60 triệu đồng). Trong đó, tiền thuê căn hộ một phòng ngủ ngốn 2.300-2.900 AUD.
Ngoài ra, học phí với sinh viên quốc tế của nhiều đại học trong khoảng 39.000-60.000 AUD mỗi năm.
Tin Gốc: Vnexpress

Hôm nay (6.4), ĐH Quốc gia TP.HCM đã triển khai các phương án chấm thi đánh giá năng lực đợt 1. Hoạt động chấm thi kéo dài trong khoảng 10 ngày và dự kiến công bố điểm thi trong ngày 17.4.
Theo quy định của Hội đồng thi đánh giá năng lực ĐH Quốc gia TP.HCM, bài thi của thí sinh tại các điểm thi được vận chuyển về phòng chấm thi ngay sau buổi thi. Để đảm bảo an toàn và đúng quy định cho công tác chấm thi, địa điểm chấm thi (phòng chấm thi) được bố trí ở khu vực được bảo vệ 24/24 giờ và có camera giám sát 24/24 giờ cả bên trong và bên ngoài phòng chấm.
Quy trình chấm thi tuân thủ nghiêm các quy định của ĐH Quốc gia TP.HCM. Trước đó, ĐH này đã thành lập Tổ giám sát trong đó có cán bộ An ninh (PA03) và cán bộ đoàn kiểm tra của ĐH Quốc gia TP.HCM để giám sát tất cả các hoạt động trong thời gian chấm thi.
Các hoạt động chấm thi gồm: giao nhận và phân lô bài thi trắc nghiệm; kiểm tra số lượng phiếu trả lời trắc nghiệm và quét bài thi trắc nghiệm; đánh số phách bài thi theo từng lô; nhận dạng và xử lý dữ liệu bài thi trắc nghiệm; kiểm dò bài thi ngẫu nhiên; niêm phong bài thi và đĩa chứa dữ liệu; thực hiện chấm điểm (chấm điểm thô và quy đổi điểm); ráp phách điểm bài thi thí sinh; xuất danh sách điểm thi của thí sinh.
Mỗi bước trong công tác chấm thi được phân công cho một tổ/nhóm nghiệp vụ thuộc ban chấm thi phụ trách. Tất cả các dữ liệu liên quan đến công tác chấm thi phải được lưu dưới dạng USB hoặc đĩa CD và gửi đến chủ tịch hội đồng thi, ban chấm thi, khi đó ban chấm thi mới được mở niêm phong đĩa CD chứa đáp án để tiến hành chấm điểm. Sau khi chủ tịch hội đồng thi duyệt kết quả, điểm thi sẽ được công bố trên cổng thông tin của kỳ thi.
Bài thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia TP.HCM có 120 câu hỏi, với tổng điểm tối đa toàn bài là 1.200. Trong đó, điểm tối đa từng thành phần của bài thi được thể hiện trên phiếu điểm gồm: tiếng Việt 300 điểm, tiếng Anh 300 điểm; toán học 300 điểm và tư duy khoa học 300 điểm.
Tuy nhiên, kết quả thi đánh giá năng lực được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm hiện đại theo lý thuyết ứng đáp câu hỏi (Item Response Theory - IRT). Điểm của từng câu hỏi có trọng số khác nhau tùy thuộc vào độ khó của câu hỏi.
Theo quy định, độ khó của các câu hỏi trong đề thi được phân thành 3 mức độ và được phân bố theo tỷ lệ: mức độ 1 chiếm 30%, mức độ 2 chiếm 40%, mức độ 3 chiếm 30%.
Hôm qua (5.4), 133.489 thí sinh đã tham dự đợt 1 kỳ thi đánh giá năng lực do ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức (đạt tỷ lệ 98,33% so với số thí sinh đăng ký dự thi). Kỳ thi đồng thời diễn ra tại 15 tỉnh, thành phố tính theo đơn vị hành chính sau sáp nhập, gồm: Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng, TP.HCM, Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Cần Thơ và Cà Mau.
Năm 2025, kỳ thi đánh giá năng lực ĐH Quốc gia TP.HCM thu hút khoảng 152.000 thí sinh với hơn 223.000 lượt đăng ký dự thi tại 55 điểm thi thuộc 25 tỉnh, thành phố. 111 cơ sở giáo dục ĐH-CĐ sử dụng kết quả kỳ thi để xét tuyển. Riêng trong hệ thống ĐH Quốc gia TP.HCM, phương thức này chiếm hơn 56% tổng chỉ tiêu tuyển sinh.

Cuối tuần trước, Hà Nội phê duyệt đề án phát triển theo hướng tiệm cận "chuẩn quốc tế" với hai trường THPT chuyên Chu Văn An và Hà Nội - Amsterdam, ngay lập tức gây bàn luận trên các diễn đàn.
TS Nguyễn Quang Minh, chuyên gia giáo dục quốc tế và là Giám định viên Hội đồng các trường Quốc tế (CIS), cho rằng đây là hướng đi cần thiết.
Ông đánh giá đề án của hai trường có sự học hỏi từ các mô hình đào tạo tài năng ở Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và Anh, song không sao chép máy móc mà vẫn giữ "tinh thần trường công" với ngân sách nhà nước làm nền tảng.
Các mục tiêu như tăng cường nghiên cứu khoa học, trí tuệ nhân tạo, học tập dự án và hội nhập học thuật quốc tế là phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh mới.
Chuyên gia cũng đánh giá cao việc sử dụng khái niệm "tiệm cận quốc tế", thay vì ngay lập tức khẳng định sẽ trở thành một "trường chuẩn quốc tế".
"Đây là cách tiếp cận thận trọng và thực tế, bởi giáo dục quốc tế không chỉ là câu chuyện chương trình hay chứng chỉ, mà là cả một hệ sinh thái học thuật, văn hóa và quản trị cần thời gian dài để hình thành", ông Minh nói.
Điểm gây tranh luận nhất nằm ở tiêu chí cụ thể của trường chuyên Chu Văn An. Trường này đặt mục tiêu giai đoạn 2026-2030 có ít nhất 150 học sinh trúng tuyển đại học tại Anh, Mỹ, Australia và 80 em nhận học bổng quốc tế. Trường cũng tổ chức các hoạt động để hỗ trợ học sinh làm quen, chuẩn bị cho các kỳ thi, chương trình chuẩn hóa quốc tế như SAT, ACT, AP, IB... - vốn được nhiều đại học trên thế giới dùng như một tiêu chí xét tuyển đầu vào.
Theo ông Quang Minh, một ngôi trường xuất chúng không phải là nơi "dạy học sinh vào Harvard", mà là nuôi dưỡng học sinh có nền tảng tư duy, năng lực nghiên cứu, khả năng tự học và thích nghi, để các em có đủ năng lực "vào Harvard".
Lãnh đạo một trường THPT chuyên ở phía Nam nhìn nhận rằng việc du học, thi chứng chỉ SAT, AP... nên là kế hoạch của học sinh và gia đình, không nên là mục tiêu của trường chuyên.
Ông dẫn lại nhiệm vụ của trường chuyên được đề cập trong Luật Giáo dục, đó là phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu trong các môn học, tạo nguồn nhân tài cho đất nước.
"Học sinh trường chuyên đi du học không phải là điều xấu nhưng không nên dùng nguồn lực nhà nước để thúc đẩy điều đó", ông nói.
Bởi dù còn hạn chế, trường chuyên đã và đang được ưu tiên hơn về ngân sách, đội ngũ giáo viên giỏi và những chính sách khác trong hệ thống giáo dục công lập nói chung.
"Việc phân bổ thêm ngân sách để tạo bệ phóng "tiếp cận quốc tế" cho một bộ phận nhỏ vốn đã được đầu tư nhiều hơn là thiếu công bằng cho số đông".
PGS. TS quản lý giáo dục Trương Đình Thăng, Hiệu trưởng trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị, cũng cảnh báo các mục tiêu "quốc tế hóa" có thể trở thành một cuộc đua thành tích, xem trường nào có nhiều học sinh đạt chứng chỉ, nghiên cứu khoa học... hơn. Khi đó, mô hình mới rất dễ lại đặt trọng tâm vào luyện thi, tăng áp lực cho học trò.
Ở chiều ngược lại, ông Đàm Quang Minh, Đồng chủ tịch khối Phổ thông, Tập đoàn giáo dục EQuest, thấy rằng cần đặt những tiêu chí về du học, chứng chỉ trong tổng thể định hướng hội nhập quốc tế của trường chuyên Chu Văn An.
Theo ông, đề án này theo đuổi mô hình tương tự một số trường công ở Singapore, khi triển khai các chương trình như tú tài quốc tế IB để học sinh tiếp cận chuẩn đầu ra toàn cầu. Ngoài ra, Việt Nam hiện chưa có đại học nào vào top 200 thế giới, nên học sinh "chỉ có lựa chọn du học" nếu muốn vào các trường như vậy.
Ông Minh cũng đánh giá cao việc đề án nhấn mạnh hỗ trợ học bổng cho học sinh khó khăn, để các em được tiếp cận chương trình quốc tế.
"Làm được điều này, các chương trình như IB sẽ không còn là đặc quyền của những gia đình giàu có", ông nói.
Dù có góc nhìn khác nhau, các chuyên gia đều cho rằng hai trường nên thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp về chương trình, đội ngũ và tăng cường hợp tác quốc tế.
TS Nguyễn Quang Minh thấy cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực học thuật và nghiên cứu thực chất, bổ sung các chỉ số về sức khỏe tinh thần để bảo vệ học sinh, giúp các em phát triển toàn diện.
Đây cũng là quan điểm của PGS Trương Đình Thăng. Ông lưu ý các trường cân bằng giữa học thuật đỉnh cao và sức khỏe tinh thần của học sinh, hội nhập quốc tế và trách nhiệm đất nước, đào tạo cá nhân xuất sắc và xây dựng tinh thần phụng sự cộng đồng.
Các chuyên gia kỳ vọng hai đề án không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo của trường chuyên công lập, mà còn mở thêm cơ hội để học sinh Việt Nam tiếp cận môi trường học thuật và chuẩn đầu ra quốc tế ngay trong nước.
Tin Gốc: Vnexpress
Giáo Dục
Phạt học sinh bằng kim tiêm: Giáo dục đang dạy con người hay đối tượng?

Chiều 24.4, ban giám hiệu Trường tiểu học Lương Thế Vinh phường Bến Cát (TP.HCM) đã có quyết định điều chuyển công tác, làm công việc không tiếp xúc với học sinh trong thời gian 1 năm, đối với giáo viên L.T.M khi cô này phạt học sinh lớp 3 tự đâm kim tiêm vào tay do các lỗi như không đeo khăn quàng đỏ, nói chuyện trong lớp…
Trước đó, sự việc vỡ lở khi một phụ huynh trường này thấy con về nhà mệt mỏi, gặng hỏi mãi mới biết. Ngày 13.4, lãnh đạo Trường tiểu học Lương Thế Vinh ghi nhận ít nhất 5 học sinh đã từng tự chích vào tay mình theo cách ấy.
Là người làm giáo dục gần 20 năm, làm tham vấn tâm lý vài năm gần đây, tôi đã có dịp trò chuyện với hàng ngàn thầy cô, cha mẹ đang vật lộn với cảm giác bất lực trước học sinh, trước con cái. Tôi hiểu áp lực của việc quản lý một lớp học 40-50 em hiếu động, hiểu nỗi sợ bị đánh giá khi lớp thiếu kỷ luật. Tôi không viết bài này để thêm một tiếng nói phẫn nộ. Tôi viết vì đằng sau sự việc "rợn người" nói trên, có một quan niệm đang âm thầm vận hành trong tâm thức nhiều người làm các công việc chạm đến con người như giáo dục.
Triết gia Martin Buber, trong tác phẩm Ich und Du (1923), phân biệt hai cách con người có thể tương tác trong thế giới: "Tôi-Người" và "Tôi-Vật". Trong quan hệ Tôi-Người, tôi đối xử với bạn như một chủ thể trọn vẹn, không thể bị rút gọn thành chức năng hay mục đích sử dụng. Trong quan hệ Tôi-Vật, bạn là một đối tượng có thể đo lường, phân loại, chỉnh sửa.
Buber không cho rằng quan hệ Tôi-Vật là xấu. Khi tôi vận hành một chiếc máy, quan hệ ấy là hợp lẽ. Điều ông cảnh báo là khi cách nhìn Tôi-Vật len lỏi vào những mối quan hệ lẽ ra phải là Tôi-Người, như giữa cha mẹ và con, giữa thầy và trò, thì những hành xử quan tâm và nhân bản bị đánh mất, và bạo lực trở thành một lựa chọn thuận tiện. Trong câu chuyện cô giáo phạt học trò bằng kim tiêm, nếu cô giáo đã xem học sinh là đối tượng, thì mọi đau đớn xảy ra với đối tượng ấy đều có thể quy về "lỗi của đối tượng". Trong mắt của cô giáo ấy, đứa trẻ đã không còn là một con người đang loay hoay lớn lên, mà đã trở thành một đối tượng chờ được răn đe.
Tôi không viết bài này để buộc tội một cô giáo vừa vào nghề ba năm. Điều làm tôi đau lòng không phải một hành vi cá biệt như vậy, mà sâu hơn, tôi có cảm giác rằng những hành vi ấy nảy sinh từ một "mảnh đất tâm thức" đã tồn tại từ lâu.
Trong tâm thức một bộ phận không nhỏ thầy cô lẫn cha mẹ Việt Nam, đứa trẻ vẫn được hình dung như đất sét - hỗn độn chưa thành hình, chờ bàn tay người lớn nhào nặn thành hình dạng họ mong muốn. Tâm thức ấy nếu không được quân bình lại bằng tinh thần tôn trọng phẩm giá con người - dù con người ấy nhỏ bé đến đâu, nó có thể trở thành "giấy phép" để đàn áp một cách thô bạo bất cứ thứ gì không vừa khuôn.
Quan niệm "học sinh/trẻ em là đối tượng để uốn nắn" tồn tại vì nó tiện lợi. Khi tôi xem bạn là con người trọn vẹn, tôi phải dừng lại, phải hỏi, phải lắng nghe, phải thừa nhận giới hạn của bạn và của chính mình. Nhưng khi tôi xem bạn là đối tượng cần định hình, tôi chỉ việc thẳng tay áp dụng kỹ thuật và kỷ luật. Một lớp học 40 em mà xem mỗi em là một con người độc đáo thì có vẻ mệt quá, trong khi một lớp học 40 đối tượng cần quản lý thì cứ "theo đúng công thức" là được.
Đó là lý do vì sao khẩu hiệu "lấy học sinh làm trung tâm" được treo ở nhiều trường, nhưng kim tiêm lại vẫn xuất hiện trên bàn một giáo viên. Khẩu hiệu là ngôn từ bề mặt, trong khi tâm thái và quan niệm là nền tảng sâu bên trong. Khi nền tảng chưa thay đổi, khẩu hiệu chỉ là lớp sơn bóng bẩy bên ngoài.
Cô giáo trong câu chuyện trên sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật lẫn đạo đức nghề nghiệp, như mới đây, cô bị điều chuyển công tác, làm công việc không tiếp xúc với học sinh trong thời gian 1 năm. Tôi cũng mong những người làm việc với cô vẫn sẽ cân nhắc tất cả các phương diện của cô như một con người toàn vẹn chứ không phải một "đối tượng để xử lý" khác. Mặt khác, những người còn lại chúng ta - thầy cô, cha mẹ, nhà quản lý giáo dục, nhà tham vấn, bác sĩ… mọi nghề nghiệp làm việc chính với con người phải đối diện một câu hỏi khó hơn nhiều: Chúng ta có đang thật sự cư xử với mỗi người mình gặp như một con người trong công việc hàng ngày của mình không, hay đã quen xem họ như "đối tượng làm việc"?
Carl Rogers, nhà tâm lý học nhân bản đã dành cả đời để bảo vệ một điều đơn giản: Con người - bất kể tuổi tác, hành vi - xứng đáng được đón nhận vô điều kiện với phẩm giá của mình. Không phải chấp nhận mọi hành vi, mà là dù hành vi nào xảy ra, con người ấy vẫn là con người, không thể bị rút gọn thành hành vi và dán nhãn bằng một vài kết luận hạn hẹp.
Một đứa trẻ nói chuyện trong giờ học không phải là đứa ồn ào, mà là một con người đang học cách điều tiết bản thân và cần người lớn đồng hành. Khoảng cách giữa hai cách nhìn ấy quyết định cách tương tác nào là phù hợp ở lớp học. Khi nhìn học sinh như một con người, kỷ luật của giáo viên là đối thoại - có giới hạn, có hậu quả, nhưng vẫn trong không gian tôn trọng phẩm giá. Ngược lại, khi nhìn học sinh như đối tượng thì những thứ như kim tiêm, roi vọt, lời lăng mạ hay chửi mắng trở thành những lựa chọn "thích đáng".
Tin Gốc: Thanh Niên

