Bộ Nội vụ vừa trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Mức lương này là căn cứ tính lương trong bảng lương, phụ cấp và các chế độ khác theo công thức lương = lương cơ sở x hệ số lương. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để tính hoạt động phí, sinh hoạt phí và các khoản trích theo quy định.
Cơ quan soạn thảo cho biết việc điều chỉnh là cần thiết nhằm tạo động lực làm việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, góp phần cải thiện đời sống người hưởng lương và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
Các nhóm thụ hưởng gồm cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp xã; viên chức đơn vị sự nghiệp công lập; lao động hợp đồng trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập; người làm việc trong các hội được ngân sách hỗ trợ; lực lượng vũ trang và người làm việc trong tổ chức cơ yếu; cùng người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
Dự thảo cũng nêu phương án xử lý đối với các cơ quan đang áp dụng cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù ở Trung ương. Theo đó, phần chênh lệch giữa tiền lương và thu nhập tăng thêm của tháng 6/2026 sẽ được bảo lưu khi chuyển sang áp dụng mức lương mới từ ngày 1/7, nhưng không vượt quá mức đang hưởng.
Trước đó, tại buổi tiếp xúc cử tri Lào Cai sáng 9/3, Phó thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà cho biết Chính phủ dự kiến điều chỉnh lương cơ sở tăng khoảng 8% từ ngày 1/7/2026, từ mức 2,34 triệu đồng lên khoảng 2,53 triệu đồng mỗi tháng. Việc điều chỉnh này kéo theo tăng lương hưu, trợ cấp người có công, trợ cấp bảo trợ xã hội và các chính sách an sinh liên quan.
Bà Trà nhấn mạnh việc tăng lương phải được cân nhắc trên cơ sở khả năng ngân sách, kiểm soát lạm phát và bảo đảm cân bằng giữa các nhóm hưởng chính sách, đồng thời gắn với lộ trình cải cách tiền lương theo Nghị quyết 27.
Văn phòng Chính phủ ngày 17/4 truyền đạt chỉ đạo của Phó thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, trong đó giao Bộ Xây dựng phối hợp với UBND TP Hà Nội và UBND TP HCM hoàn thiện cơ chế phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD). Trọng tâm là cơ chế tài chính đất đai, trong đó làm rõ trách nhiệm, nguồn lực và cách điều tiết, sử dụng phần giá trị tăng thêm từ đất.
Phó thủ tướng Thường trực giao Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng TP Hà Nội và TP HCM hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật. Các tiêu chuẩn phải phù hợp điều kiện Việt Nam nhưng tiệm cận thông lệ quốc tế, hoàn thành trong quý 2/2026.
Bộ Xây dựng và Bộ Tài chính được yêu cầu đôn đốc tiến độ các tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP HCM, bảo đảm kết nối đồng bộ toàn mạng lưới. Các tuyến đã khai thác phải nâng cao hiệu quả vận hành, đồng thời từng bước giảm mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.
Phó thủ tướng Thường trực nhấn mạnh cần ưu tiên phát triển các dự án TOD tại khu vực có tiềm năng cao, gắn với tổ chức đô thị mật độ cao quanh các điểm trung chuyển giao thông như ga metro, bến xe buýt nhanh. Điều này nhằm sử dụng hiệu quả quỹ đất và hạ tầng, khuyến khích người dân sử dụng phương tiện công cộng.
Với dự án đường sắt tốc độ cao Bắc Nam, Phó thủ tướng Thường trực giao Bộ Xây dựng đẩy nhanh giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Việc lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi phải bảo đảm tiến độ và chất lượng. Quá trình triển khai phải chặt chẽ, không vì áp lực tiến độ mà xem nhẹ quy trình kỹ thuật, trình tự pháp lý.
Bộ Xây dựng được giao đánh giá kỹ các phương án công nghệ, mô hình đầu tư và lựa chọn đối tác chiến lược. Đồng thời, bộ phải xây dựng bộ giải pháp kiểm soát tiến độ, tập trung vào các khâu chuẩn bị đầu tư, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, đào tạo nhân lực chất lượng cao và chuyển giao công nghệ.
Các địa phương có dự án đi qua phải chuẩn bị quỹ đất, triển khai bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Việc này cần bảo đảm ổn định đời sống, sinh kế và sản xuất của người dân tại nơi ở mới.
Đối với dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Phó thủ tướng Thường trực yêu cầu Bộ Xây dựng đẩy nhanh tiến độ Báo cáo nghiên cứu khả thi, đồng thời quán triệt yêu cầu không vì áp lực tiến độ mà xem nhẹ quy trình và tiêu chuẩn kỹ thuật.
Bộ Xây dựng phải đánh giá kỹ phương án công nghệ trong khuôn khổ Quốc hội đã xác định, bảo đảm độc lập, tự chủ công nghệ dài hạn. Việc áp dụng công nghệ nước ngoài cần được phân tích đầy đủ tác động tới chi phí vận hành, bảo trì trong suốt vòng đời dự án, nhằm bảo đảm hiệu quả, tính khả thi và khả năng cân đối, hoàn trả vốn.
Ngày 4.5, Trung tâm Quy hoạch, kiểm định xây dựng và bảo trì đường bộ (thuộc Sở Xây dựng thành phố Đồng Nai) cho biết dự kiến trong quý 3/2026, sẽ tiến hành sửa chữa, nâng cấp 3 tuyến quốc lộ 1, 20 và 56.
Việc sửa chữa này nằm trong kế hoạch sửa chữa, nâng cấp 4 tuyến quốc lộ qua địa bàn thành phố Đồng Nai gồm: quốc lộ 1, 20, 56 và quốc lộ 51 trong năm 2026 với tổng kinh phí hơn 760 tỉ đồng. Đây là đợt sửa chữa lớn nhất trong nhiều năm gần đây.
Đối với quốc lộ 51, do tuyến đường này đã xuống cấp, hư hỏng nặng nên đã được ưu tiên sửa chữa trước. Công việc trên đã được tiến hành từ giữa tháng 3.2026, dự kiến hoàn thành vào tháng 6.2026.
Theo Trung tâm Quy hoạch, kiểm định xây dựng và bảo trì đường bộ, để hạn chế ùn tắc giao thông và đảm bảo an toàn, trong quá trình sửa chữa, đơn vị thi công sẽ rào chắn, đồng thời thi công dứt điểm từng đoạn, không thi công dàn trải; đồng thời bố trí thi công theo khung giờ hợp lý, ưu tiên thi công ban đêm, giờ thấp điểm.
Đồng Nai hiện có 6 tuyến quốc lộ đi qua địa bàn, đó là quốc lộ 1, 20, 51, 56, 13 và 14 với tổng chiều dài gần 400 km, đây là địa phương có nhiều tuyến quốc lộ đi qua nhất so với các tỉnh thành khác.
Từ giữa năm 2025, Cục Đường bộ Việt Nam đã bàn giao các tuyến quốc lộ trên cho Đồng Nai quản lý. Trước thực trạng các tuyến quốc lộ đều có nhiều điểm hư hỏng, xuống cấp, Đồng Nai đã lên kế hoạch sửa chữa, nâng cấp. Và trong năm 2025 đã tiến hành sửa chữa quốc lộ 13 và quốc lộ 14.
Theo phương án vừa được Công ty Phát Đạt gửi Sở Tài chính, tuyến bắt đầu từ nút giao An Sương, đi theo trục Trường Chinh - Cộng Hòa - Trường Sơn - Hồng Hà và kết thúc tại nút giao Nguyễn Thái Sơn - Nguyễn Kiệm.
Công trình dự kiến rộng 60 m, xây dựng theo tiêu chuẩn đường trục chính đô thị, vận tốc thiết kế 80 km/h. Tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 15.710 tỷ đồng, thực hiện theo hình thức PPP, hợp đồng BT (xây dựng - chuyển giao). Doanh nghiệp đề xuất chia dự án thành hai phần gồm giải phóng mặt bằng và xây dựng, mục tiêu hoàn thành vào năm 2030 nếu được chấp thuận.
Trước đó, trong kế hoạch phát triển hạ tầng giao thông đến năm 2030, Sở Xây dựng TP HCM cũng định hướng triển khai tuyến đường trên cao tại khu vực này.
Theo nghiên cứu sơ bộ của cơ quan chuyên môn, tuyến sẽ đi từ An Sương đến khu vực sân bay, bám theo trục Trường Chinh - Cộng Hòa, chủ yếu sử dụng dải phân cách giữa nhằm giảm khối lượng giải phóng mặt bằng, tiết kiệm chi phí và hạn chế ảnh hưởng đến người dân.
Phương án được xem xét để đồng bộ với dự án mở rộng quốc lộ 22 lên 60 m mà thành phố đang chuẩn bị triển khai. Khi hoàn thành, trục này được kỳ vọng tăng năng lực giao thông, đáp ứng nhu cầu đi lại từ cửa ngõ tây bắc vào sân bay Tân Sơn Nhất và khu trung tâm.
Trường Chinh - Cộng Hòa là trục giao thông chính kết nối khu vực quận 12, Tân Bình, Tân Phú, huyện Hóc Môn cũ với trung tâm TP HCM và sân bay. Tuy nhiên, lưu lượng phương tiện trên hai tuyến hiện vượt năng lực thiết kế, thường xuyên ùn tắc. Đoạn Cộng Hòa qua khu vực nút giao Hoàng Hoa Thám là một trong những điểm ùn ứ kéo dài, dù đã được xây dựng cầu vượt.