Ngày 22-7, Tuổi Trẻ có phỏng vấn với ThS Nguyễn Thúy Uyên Phương, chuyên gia giáo dục, xoay quanh việc sáp nhập trường học.
* Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa có công văn gửi các địa phương trên toàn quốc về kế hoạch sắp xếp lại trường học từ mầm non đến phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập để phù hợp với chính quyền địa phương hai cấp. Với kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực giáo dục, bà đánh giá như thế nào về chủ trương sáp nhập trường học?
– Đây là chủ trương đúng thời điểm và tôi đánh giá cao nhất ở đề án lần này là cách tiếp cận: gộp đầu mối quản lý, chứ không gộp chỗ học của trẻ, giữ được điểm trường ở nơi trẻ đang sống. Đó là một lựa chọn rất tỉnh táo và khác biệt đáng kể so với cách một số nước từng làm, đó là đóng hẳn trường nhỏ rồi đưa trẻ đi xa.
Đặc biệt có những ranh giới chuyên môn được giữ rất rõ: không sáp nhập mầm non với phổ thông, không gộp cơ sở giáo dục chuyên biệt vào trường đại trà. Đây là những ranh giới rất đúng, bởi trẻ ba tuổi và học sinh lớp chín không thể vận hành chung một logic sư phạm.
* Dưới góc nhìn của mình, bà thấy chủ trương mỗi xã có tối thiểu một trường mầm non và một trường phổ thông như thế nào?
– Tôi hiểu quy định này là một mức sàn – tức là không xã nào được để trắng trường. Đó là một mức sàn rất nhân văn.
Điều tôi mong là các địa phương đọc đúng tinh thần đó: đây là sàn, không phải là đích. Rủi ro lớn nhất, theo tôi là ở khâu triển khai. Khi một số nơi có thể vô tình hiểu thành “mỗi xã chỉ cần một trường” và gộp xuống đúng con số tối thiểu cho gọn.
Tôi xin nêu ba lưu ý cụ thể:
Thứ nhất, nên lấy thước đo là thời gian di chuyển của trẻ, chứ không phải ranh giới hành chính. Tôi đề xuất có một chuẩn tham chiếu về thời gian đi học tối đa theo từng cấp học và từng địa hình, để làm căn cứ khi quyết định giữ hay bỏ một điểm trường.
Thứ hai, với mầm non thì nguyên tắc gần nhà cần được ưu tiên gần như tuyệt đối, tránh ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, giấc ngủ và cả tỉ lệ trẻ ra lớp. Một đứa trẻ ba tuổi ngồi xe bốn mươi phút mỗi sáng là một chuyện hoàn toàn khác với một học sinh lớp tám.
Thứ ba, cần lưu ý chiều ngược lại ở khu vực đô thị và khu công nghiệp: quá tải sĩ số. Vì thế ở các nơi này cần đi kèm bài toán sĩ số lớp, nếu không chúng ta sẽ giảm được đầu mối nhưng lại tăng số học sinh trên mỗi lớp, và như vậy thì chất lượng không đi lên.
* Sau sáp nhập trường, hệ thống trường lớp quy mô lớn, vậy theo bà thì hiệu trưởng cần năng lực như thế nào để thích nghi tình hình mới?
– Đây chính là điều tôi quan tâm nhất trong toàn bộ câu chuyện này. Một hiệu trưởng hôm nay quản 300 học sinh, sang năm có thể quản 1.500 học sinh ở ba phân hiệu cách nhau cả chục cây số. Vẫn chức danh đó, vẫn con người đó. Nhưng thực chất đó là hai nghề khác nhau.
Theo tôi có ba nhóm năng lực cần được bồi đắp.
Thứ nhất là năng lực làm việc với con người. Hệ thống càng đông thì cảm xúc, mâu thuẫn và va chạm ngầm càng phức tạp. Sau sáp nhập, một trường có thể gồm hai, ba tập thể từng có lịch sử riêng, văn hóa riêng, thói quen riêng, và cả những băn khoăn riêng về vị trí của mình trong ngôi trường mới. Ghép hai tập thể trên giấy chỉ mất một chữ ký. Ghép họ thành một tập thể thật sự có khi mất ba năm. Hiệu trưởng cần được trang bị kỹ năng dẫn dắt sự thay đổi, chứ không chỉ kỹ năng điều hành.
Thứ hai là năng lực xây hệ thống. Trường càng đông thì việc làm sao để từng đứa trẻ vẫn được nhìn thấy, không bị hòa tan vào đám đông, lại càng khó. Khi đó người đứng đầu buộc phải xây dựng hệ thống đào tạo nội bộ, phân quyền và kiểm soát chất lượng cực kỳ tinh xảo, để định hướng giáo dục của mình đi được đến từng lớp học. Không thể lấy sức mình chạy vào từng lớp, từng giáo viên như trước nữa. Với mô hình có phân hiệu thì càng đúng, vì hiệu trưởng không thể có mặt ở ba nơi cùng lúc.
Thứ ba là năng lực quản trị nguồn lực. Tức là hiểu về tài chính, về chính sách nhân sự, về lương thưởng, về xây dựng văn hóa tổ chức. Đây là những thứ mà trước đây một hiệu trưởng trường nhỏ có thể xử lý bằng kinh nghiệm, nhưng ở quy mô lớn thì phải làm bằng hệ thống.
Những năng lực này tôi nghĩ đã đến lúc rất cần thiết, nhằm hướng đến đào tạo cho vai trò quản trị ở quy mô lớn.
* Là người nhiều kinh nghiệm trong giáo dục, để sáp nhập trường học hiệu quả, theo bà cần lưu ý thêm điều gì?
– Tôi xin chia sẻ một bài học từ khối tư và hai đề xuất.
Ở trường tư, áp lực từ phụ huynh rất cao, nên gần như hiệu trưởng nào được bổ nhiệm cũng phải trải qua một cuộc lột xác chật vật: từ tư duy “tôi làm chuyên môn, chuyện vận hành không phải việc của tôi” sang chỗ hiểu rằng cả những việc vặt vận hành cũng là việc của mình. Và không phải ai cũng lột xác thành công.
Mô hình trường sau sáp nhập sẽ đặt hiệu trưởng công lập vào đúng vị thế mà hiệu trưởng trường tư đã ngồi nhiều năm nay, nên tôi nghĩ bài học này rất đáng tham khảo.
Từ đó đề xuất thứ nhất của tôi là cần một đề án riêng về phát triển năng lực quản trị cho hiệu trưởng, chứ không phải vài đợt tập huấn. Đề án đó có một khung năng lực quản trị rõ ràng, giao quyền tự chủ cho hiệu trưởng, giao thêm quyền quyết về nhân sự, tài chính, thi đua; cần bồi dưỡng cả đội ngũ phó hiệu trưởng phụ trách phân hiệu, vì họ mới là người vận hành hằng ngày ở cơ sở.
Đề xuất thứ hai liên quan đến nhân sự dôi dư. Trường học không chỉ có giáo viên và học sinh. Còn người ở phòng tham vấn học đường, người quản trị công nghệ và hệ thống số, người hỗ trợ trẻ đặc biệt hòa nhập, người chăm sóc mối quan hệ với phụ huynh và xây dựng văn hóa trường học…
Đây là những mắt xích làm nên chất lượng thật sự, nhưng lâu nay ít được để ý ở khối công lập. Thay vì chỉ nghĩ theo hướng giảm người, cắt đi, tôi đề xuất đào tạo lại và chuyển những nhân sự dôi dư có năng lực phù hợp sang chính những vị trí này, chuyển nó thành năng lực mới mà trường quy mô lớn nào cũng sẽ cần. Đó cũng chính là cách để mục tiêu tăng tỉ lệ người trực tiếp làm chuyên môn trở nên thực chất.
Điều này đồng nghĩa, cứ 10 đương đơn thì sẽ có ít nhất 3 người trượt visa du học Mỹ, trong bối cảnh năm 2025 chứng kiến một số thay đổi trong quy trình xét duyệt, như siết kiểm tra thông tin mạng xã hội hay hạn chế trường hợp được miễn phỏng vấn khi gia hạn visa. Tuy nhiên, thống kê không chỉ rõ tỷ lệ trượt của tất cả các nước mà chỉ đề cập đến số liệu chung của khu vực và một số nước nhất định, không bao gồm Việt Nam.
Trong đó, châu Phi đứng đầu về tỷ lệ từ chối với 64% và xếp sau là châu Á với 41%. Ngược lại, tỷ lệ trượt visa du học Mỹ trong năm 2025 thấp nhất tại châu Âu, ở mức 9%.
Dữ liệu do Bộ Ngoại giao Mỹ cung cấp cho tập đoàn giáo dục đa quốc gia Shorelight, được nêu trong báo cáo mới của đơn vị này về tỷ lệ từ chối cấp visa du học Mỹ trong 10 năm qua - từ 2015 tới 2025. Trước đó, tỷ lệ trượt visa từng lập đỉnh vào năm 2020, ở mức 33%, khi dịch Covid-19 bắt đầu bùng phát trên toàn cầu. Tuy nhiên tỷ lệ này giảm còn 25% vào năm 2021 và tăng lên 31% trong 3 năm liên tiếp từ 2022-2024, trước khi cán mốc 35%.
"Nhìn chung, tỷ lệ từ chối visa du học F-1 tăng mạnh trong thập niên qua và vẫn duy trì ở mức cao. Từ 2015 tới 2020, tỷ lệ từ chối tăng đều đặn tại nhiều khu vực. Dù con số này có vẻ đã ổn định trong 2023, 2024, song dữ liệu mới nhất từ 2025 cho thấy xu hướng này đang tái diễn", báo cáo có đoạn.
Một diễn biến đáng chú ý trong dữ liệu năm 2025 là số lượng quốc gia có tỷ lệ từ chối visa vượt ngưỡng 70-80% ngày càng tăng so với 2024, còn số nước nằm trong nhóm trung bình (30-50%) lại giảm. Từ bức tranh đối sánh, thống kê 2025 cũng cho thấy có một nhóm tỷ lệ trượt cao đang thành hình, bao trùm phần lớn các quốc gia khu vực Nam bán cầu. Bối cảnh này, theo Shorelight, có thể làm "suy yếu nguyên tắc xét duyệt visa dựa trên năng lực".
"Khi xác suất nhập cảnh của một du học sinh phụ thuộc vào nơi sinh nhiều hơn là năng lực học thuật hoặc khả năng tài chính, tính liêm chính của hệ thống visa Mỹ sẽ bị tổn hại", báo cáo nêu.
Trả lời tờ Inside Higher Ed về dữ liệu của báo cáo, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết: "Chính quyền Tổng thống Donald Trump đang duy trì các tiêu chuẩn cao nhất về an ninh quốc gia, an toàn công cộng thông qua quy trình xét duyệt visa, khẳng định rõ rằng việc nhập cảnh vào Mỹ là một đặc quyền chứ không phải quyền đương nhiên và sự an toàn của người dân Mỹ luôn được đặt lên hàng đầu".
Người này chia sẻ thêm, tất cả đơn xin visa đều được xem xét theo từng trường hợp cụ thể, tuân thủ luật pháp Mỹ và quyết định cấp hay từ chối sẽ dựa trên những thông tin, hoàn cảnh của mỗi cá nhân.
Trong khi đó, Phái đoàn Ngoại giao Mỹ tại Việt Nam thời gian qua liên tục đăng tin khuyến nghị đương đơn không đưa hộ chiếu cho người lạ hay dịch vụ trung gian và tuyệt đối không ký vào các mẫu đơn còn để trống. Song song đó, đương đơn không mua hoặc sử dụng giấy tờ giả để tránh nguy cơ bị cấm nhập cảnh vào Mỹ vĩnh viên, cũng như trả lời trung thực và đầy đủ trước khi nộp đơn DS-160.
Cũng theo Phái đoàn Ngoại giao Mỹ tại Việt Nam, ứng viên nên tự điền đơn ở địa chỉ ustraveldocs.com với lệ phí là 185 USD (4,8 triệu đồng). "Cảnh giác với các đối tượng lừa đảo thu phí cao hơn để nộp đơn hoặc đặt lịch phỏng vấn thay cho bạn", bài đăng trên mạng xã hội của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội lưu ý.
"Các dịch vụ trung gian không thể tác động tới quyết định cấp visa. Trên thực tế, việc dùng trung gian có thể làm giảm cơ hội được cấp visa du học", một bài đăng khác cảnh báo. Phía Mỹ cũng cho biết công dân Việt Nam có thể tham khảo thông tin xin visa du học trên trang web chính thức được cập nhật thường xuyên.
Trước đó, dữ liệu công bố hồi tháng 3 của Bộ Ngoại giao Mỹ chỉ ra rằng, số lượng visa du học cấp mới cho người nước ngoài vào hè 2025 giảm tới 35,6% so với 2024, trong bối cảnh Mỹ từng tạm dừng cấp lịch hẹn phỏng vấn visa du học gần một tháng ở hè 2025. Tuy nhiên, Việt Nam không chịu tác động quá lớn bởi biến động này vì tỷ lệ giảm chỉ ở mức 25%, với 9.673 visa du học cấp mới vào hè 2025.
Theo thống kê của Cơ quan Thực thi di trú và hải quan Mỹ (ICE), năm 2024 tổng cộng có 36.176 người Việt du học Mỹ, xếp thứ 6 về số du học sinh và tiếp tục đà tăng trưởng kể từ sau Covid-19. Nhưng nếu xét riêng số lượng tại các trường từ mẫu giáo đến lớp 12 (K-12), Việt Nam đông thứ 2 với 4.252 người, chỉ sau Trung Quốc. Riêng năm học 2023-2024, du học sinh Việt đóng góp hơn 1 tỉ USD cho nền kinh tế Mỹ, theo Tổng lãnh sự quán Mỹ.
Nội dung trên nằm trong quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, được TP Hà Nội phê duyệt ngày 13/5.
Cụ thể, Hà Nội sẽ thực hiện lộ trình di dời các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp từ khu vực nội đô lịch sử ra các cực tăng trưởng ở vùng ngoại thành. Từ đó, thành phố hình thành khu đô thị đại học và nghiên cứu, cùng ba khu đào tạo chuyên ngành.
Trong đó, khu đô thị đại học và nghiên cứu Hòa Lạc nằm ở cực phía Tây (Hòa Lạc). Ba khu đào tạo chuyên ngành được đặt tại cực tăng trưởng phía Tây Nam (Xuân Mai - Chương Mỹ cũ), Tây Bắc (Sơn Tây - Ba Vì cũ) và phía Bắc (Đông Anh - Mê Linh - Sóc Sơn cũ).
Quy mô, định hướng phát triển các khu đào tạo đại học như sau:
Hà Nội hiện tập trung hơn một phần ba số cơ sở đại học trong toàn quốc, gồm hơn 50 trường công lập. Dự kiến đến năm 2030, thủ đô có khoảng 650.000-700.000 sinh viên. So với một số quốc gia ở châu Á, số lượng này nhiều hơn hẳn. Ví dụ tại Hàn Quốc, chỉ một phần năm số trường ở thủ đô.
Trong quy hoạch tổng thể tầm nhìn 100 năm, nhà chức trách chưa công bố tiêu chí hay danh sách trường phải di dời. Tuy nhiên, nếu phải di dời toàn bộ, trường được hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng đồng bộ tại địa điểm mới, khu đất cũ sẽ ưu tiên cho giáo dục phổ thông (lớp 1-12), các công trình tiện ích công cộng và không gian xanh.
Với nhóm không thuộc diện di dời toàn bộ, Hà Nội khuyến khích mở rộng quy mô tại các cơ sở mới. Phần diện tích tại nội đô được tái cấu trúc, ưu tiên phục vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) và đào tạo nghề chất lượng cao.
Hiện, nhiều trường rục rịch mở rộng diện tích bằng cách xây phân hiệu ở các tỉnh lân cận. Như Đại học Y Hà Nội, Ngoại thương, Luật, Dược Hà Nội chọn về Bắc Ninh; Học viện Ngân hàng, Đại học Kinh tế Quốc dân, Xây dựng Hà Nội xây dựng cơ sở ở Ninh Bình (địa bàn Hà Nam cũ); Bách khoa Hà Nội xây khuôn viên ở Hưng Yên.
"Với thế hệ gen Z, gen Y, kỹ năng quan trọng nhất chính là khả năng thích nghi và có thể làm việc hiệu quả trong những môi trường khác nhau, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay".
Đó là chia sẻ của bà Karin Greve-Isdahl, Tham tán Thương mại, Đại sứ quán Na Uy tại Việt Nam, khi trao đổi về chủ đề "Quản trị đa văn hóa trong môi trường đội ngũ toàn cầu", nằm trong hội thảo "Từ giảng đường đến dự án toàn cầu: Góc nhìn Bắc Âu" do Đại sứ quán Na Uy, Học viện Gokstad từ Na Uy và Trường ĐH Văn Lang đồng tổ chức sáng nay 9.5.
Đây là sự kiện được tổ chức trong bối cảnh Na Uy và Việt Nam kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước (1971–2026).
Bà Karin cho biết bà đã sống tại 8 quốc gia khác nhau, làm việc ở nhiều công ty và quản lý nhiều nơi trên thế giới. "Thực tế là chúng ta luôn liên tục bước vào và rời khỏi những môi trường văn hóa khác nhau. Chính vì thế, khả năng thích nghi, hòa nhập được với một nền văn hóa, môi trường mới khi sống và làm việc, sẽ giúp bạn tồn tại và thành công", bà Karrin nhận định.
Cùng với chuyên đề "Quản trị đa văn hóa trong môi trường đội ngũ toàn cầu", 2 chuyên đề "Khác biệt hoặc bị thay thế: Tiếp thị bản thân trong kỷ nguyên AI" và "Ứng dụng AI trong quản lý dự án toàn cầu" tại hội thảo, lần lượt khai thác các góc nhìn về kinh nghiệm làm việc trong môi trường đa quốc gia, kỹ năng cần thiết cho thị trường lao động toàn cầu, và cơ hội hợp tác giáo dục và nghề nghiệp giữa Việt Nam và các nước Bắc Âu.
Diễn giả của các phiên chuyên đề trên đến từ các doanh nghiệp nổi tiếng của Bắc Âu đang hoạt động đầu tư và kinh doanh thành công tại Việt Nam như Jotun, SalMar (Na Uy); Ekko, Carlsberg (Đan Mạch). Sinh viên được chia sẻ về kỹ năng và xu hướng nghề nghiệp, thực tiễn quản trị, văn hóa làm việc và yêu cầu chuyên môn từ góc độ nhà tuyển dụng.
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, riêng Na Uy hiện có gần 60 dự án đầu tư trực tiếp tại Việt Nam, tập trung vào các lĩnh vực hàng hải, năng lượng tái tạo, nuôi trồng thủy sản và sơn công nghiệp.
Ông Erlend Skutlaberg, Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Na Uy tại Hà Nội, cho biết giáo dục đã và đang là một trong các trụ cột quan trọng của hợp tác song phương Na Uy – Việt Nam, trong đó phải kể tới hợp tác chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục ĐH của Việt Nam như ĐH Quốc gia Hà Nội, Trường ĐH Ngoại thương, Trường ĐH Nha Trang, ĐH Cần thơ… với các trường ĐH của Na Uy như ĐH Bergen, ĐH Oslo, ĐH Khoa học Công nghệ Na Uy, ĐH Kinh doanh Na Uy...
"Trong một thế giới thay đổi nhanh chóng và ngày càng phức tạp, việc đối thoại, học hỏi lẫn nhau và xây dựng sự hiểu biết giữa các nền văn hóa ngày càng trở nên quan trọng. Giáo dục đóng vai trò then chốt trong quá trình này. Sự hợp tác chặt chẽ giữa doanh nghiệp và trường ĐH giúp bảo đảm rằng việc học tập và nghiên cứu trong trường mang tính thực tiễn, bao trùm và gắn kết với các thách thức toàn cầu", ông Erlend Skutlaberg chia sẻ.
Theo PGS-TS Trần Thị Mỹ Diệu, Hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, trong bối cảnh thế giới ngày càng kết nối như hiện nay, việc đào tạo của các trường ĐH không thể chỉ tồn tại trong phạm vi lớp học.
"Thông qua những chia sẻ từ các diễn giả trong hội thảo hôm nay, sinh viên có thể nhìn thấy rõ hơn cách học ở trường ĐH được kết nối với thực tiễn, với những thách thức thực tế, với trải nghiệm nghề nghiệp và với con đường sự nghiệp trong tương lai", PGS-TS Mỹ Diệu nhìn nhận.
Cũng tại hội thảo, ông Simon Hansen Elvestad, Chủ tịch, người sáng lập Học viện Goksta (Na Uy) cho biết Gokstad Academy và Trường ĐH Văn Lang sẽ triển khai mô hình giáo dục thực nghiệp.
Đây là mô hình đào tạo kết hợp giữa nền tảng học thuật vững chắc và phương pháp giáo dục dựa trên dự án thực tế, đã được kiểm nghiệm rộng rãi tại Na Uy và các nước Bắc Âu, nhằm giúp sinh viên chuẩn bị kiến thức, kỹ năng cho một thị trường lao động đa văn hóa và khả năng thích ứng với các tiêu chuẩn nghề nghiệp toàn cầu trong kỷ nguyên AI.