Trình bày tại sự kiện, GS Nigel Healey, học giả chuyên nghiên cứu về giáo dục xuyên quốc gia (TNE) và quốc tế hóa giáo dục hiện công tác ở ĐH Bath (Anh), nhận định thế giới đang vào giai đoạn đại trà hóa giáo dục ĐH (massification) với gần 270 triệu người đang theo học tại các cơ sở giáo dục trên toàn cầu. “Hiện nay, gần 45% người trẻ trên toàn cầu kỳ vọng được học ĐH, tăng mạnh so với mức 10% ở những năm 1980”, ông nói.
Điều này kéo theo nhiều hệ quả, một trong số đó là gia tăng áp lực ngân sách công cho các ĐH. Vì thế, ở Anh, Úc, Canada và nhiều quốc gia khác, các trường ĐH ngày càng xem sinh viên quốc tế là nguồn thu quan trọng để bù đắp tài chính và tái đầu tư. Thực tế chỉ rõ, tỷ lệ sinh viên quốc tế ở 10 ĐH hàng đầu thế giới như Oxford (Anh) và Harvard (Mỹ) “cao hơn rất nhiều” so với mức trung bình, đặc biệt ở bậc sau ĐH, theo GS Healey.
Song song đó, số lượng sinh viên ĐH bản địa ở nhiều nước chứng kiến sự sụt giảm do tình trạng già hóa dân số, thúc đẩy việc ra mắt các kế hoạch tăng cường tuyển sinh du học sinh. Và cả hai xu hướng đều có điểm chung là kéo theo một cuộc cạnh tranh nhân tài ngày càng quyết liệt.
Thực tế trên mang đến nhiều cơ hội khi Việt Nam nằm giữa các trung tâm giáo dục lớn của khu vực, bên cạnh đó nước ta cũng đang cải cách giáo dục ĐH theo hướng quốc tế hóa khi mở rộng giảng dạy bằng tiếng Anh đồng thời nâng cao hiệu quả quản trị ĐH, hệ thống bảo đảm chất lượng.
Tuy nhiên, năng lực nghiên cứu vẫn còn kém so với những quốc gia dẫn đầu trong khu vực và việc các trường ĐH còn phụ thuộc nhiều vào nguồn học phí trong nước, ngân sách chính phủ là một số trở ngại cần vượt qua để Việt Nam đạt mục tiêu trở thành điểm đến giáo dục quốc tế, theo GS Healey.
Tiến sĩ Janet Ilieva, sáng lập và điều hành Education Insight (Anh) – tổ chức chuyên tư vấn về giáo dục ĐH quốc tế – thông tin một lợi thế khác Việt Nam có thể tận dụng là dòng sinh viên quốc tế đang chảy về phía Đông và phía Nam, thay vì về các nước phương Tây và khu vực Bắc Bán cầu như trước đây.
Để đón đầu dòng chảy này, tiến sĩ Ilieva nhìn nhận trước hết là phải tiếp tục nâng cao năng lực của hệ thống giáo dục ĐH trong nước. Bước tiếp theo là thúc đẩy quốc tế hóa giáo dục ĐH, trong đó TNE sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các đối tác. Việt Nam cũng cần thiết kế hành lang xin visa du học thông thoáng, cũng như xem xét mở rộng cơ hội làm việc sau khi tốt nghiệp cho sinh viên quốc tế.
“Bên cạnh gói chính sách visa cởi mở, Việt Nam cũng cần có gói chính sách học thuật cạnh tranh nhằm thu hút các giảng viên, nhà nghiên cứu quốc tế tới làm việc lâu dài ở các trường ĐH trong nước”, bà Ilieva khuyến nghị.
“Tại các quốc gia như Việt Nam nơi tỷ lệ nhập học ĐH rất gần với mức trung bình thế giới, giáo dục ĐH không chỉ để đáp ứng những ưu tiên quốc gia mà còn đáp ứng nhu cầu từ sinh viên quốc tế. Đây chính là ngả rẽ Việt Nam đang đối diện”, bà nói thêm.
GS May Tan-Mullins, Hiệu trưởng và Giám đốc điều hành tại ĐH Reading Malaysia – một phân hiệu của ĐH Reading (Anh) ở Malaysia, nhấn mạnh điều quan trọng mà các trường ĐH và chính phủ cần làm là tập trung vào thế mạnh cốt lõi của mình, ở cả cấp cơ sở và cấp quốc gia.
“Bộ GD-ĐT và các cơ quan quản lý cần xác định, đâu là các lĩnh vực mà giáo dục ĐH Việt Nam có lợi thế cạnh tranh. Song song đó, mỗi trường ĐH cũng cần đào sâu và xác định rõ điểm mạnh riêng của mình, sau đó đầu tư cho thế mạnh đó qua việc thu hút những giáo sư, nhà khoa học giỏi nhất để xây dựng năng lực nghiên cứu và nâng cao vị thế học thuật”, GS Tan-Mullins chia sẻ.
Bà ví dụ, ĐH Reading không thể cạnh tranh với những trường ĐH hàng đầu khác trên mọi phương diện, nhưng chỉ cần nhắc đến trường mọi người sẽ nhận ra ngay đây là đơn vị nổi tiếng về nghiên cứu khoa học khí hậu. “Vì vậy, xác định điểm bán hàng độc nhất (USP) là điều các trường ĐH cần hướng tới”, GS Tan-Mullins chia sẻ trong một tọa đàm thuộc khuôn khổ chương trình tập huấn.
PGS Rozilini Mary Fernandez-Chung, công tác tại Trường Giáo dục thuộc ĐH Nottingham Malaysia – một phân hiệu của ĐH Nottingham (Anh) ở Malaysia – chia sẻ rằng Trung Quốc đã xác định 2 trong số nhiều thế mạnh của họ là ngôn ngữ Trung cùng với y học cổ truyền Trung Quốc và họ thành công thu hút đông đảo người nước ngoài đến học tập và nghiên cứu.
Trong khi đó ở Việt Nam, du lịch và văn hóa là những lợi thế nổi bật mà nước ta có thể tận dụng để chào mời sinh viên quốc tế, trong bối cảnh cạnh tranh với các điểm đến khác trong khu vực như Malaysia hay Thái Lan.
Một bài học kinh nghiệm khác, theo GS May Tan-Mullins, là khai thác mô hình đào tạo đa quốc gia (multi-country degrees). Đơn cử, sinh viên có thể học năm thứ nhất tại một trường ĐH Việt Nam, sau đó năm thứ hai sang Thái Lan, năm thứ ba học ở Malaysia, rồi quay trở lại Việt Nam học năm cuối và tốt nghiệp. “Đó là loại hình đào tạo mà giới trẻ ngày nay rất quan tâm và cũng là một cơ hội lớn dành cho Việt Nam”, bà nói.
GS Scott Thompson-Whiteside, Phó hiệu trưởng kiêm Tổng giám đốc RMIT Việt Nam, thì kỳ vọng Việt Nam sớm điều chỉnh thời hạn hiệu lực của visa du học cấp cho sinh viên quốc tế. Bởi, visa du học Việt Nam hiện nay thường chỉ có thời hạn 12 tháng chứ không kéo dài toàn bộ chương trình đào tạo như nhiều quốc gia. Việc phải gia hạn hằng năm khiến nhiều người học e ngại.
“Đó là một trong những thách thức mà Việt Nam cần giải quyết nếu muốn nâng cao sức hấp dẫn với sinh viên quốc tế”, ông nhận định.
GS Thompson-Whiteside cho biết thêm nhiều sinh viên Úc thích du lịch và Việt Nam là một trong những điểm đến được các bạn ưa chuộng. “Nhưng để thuyết phục họ sang Việt Nam học thì khó hơn nhiều”, ông nói, cho biết một phần vì phần lớn sinh viên nước này đều đi làm thêm để trang trải các chi phí và các bạn không muốn nghỉ việc, dù chỉ trong ngắn hạn như 6 tháng, để ra nước ngoài học tập.
Trao đổi với Thanh Niên, ông James Shipton, Giám đốc Hội đồng Anh ở Việt Nam, kể rằng nghiên cứu gần đây của tổ chức chỉ ra Việt Nam đã hội tụ nhiều điều kiện để trở thành một điểm đến du học mới nổi, bao gồm nhu cầu với giáo dục ĐH ở mức cao, cam kết mạnh mẽ của Chính phủ với hội nhập quốc tế trong giáo dục và mạng lưới hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng.
Do đó, điều cần làm hiện nay là kết nối các yếu tố nêu trên thành một hệ thống có khả năng thu hút nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực mang năng lực cạnh tranh toàn cầu đồng thời nâng cao vai trò của giáo dục Việt Nam trong khu vực lẫn trên quốc tế. “Mục tiêu của chúng tôi là đồng hành với Việt Nam trên hành trình chuyển từ tham gia sang định hình giáo dục toàn cầu”, ông Shipton nhấn mạnh.
Ông cũng nhận định thêm, thông qua quan hệ hợp tác giữa Anh và Việt Nam, bản thân các trường ĐH Anh cũng được hưởng lợi khi được làm việc với một trong những hệ thống giáo dục năng động nhất châu Á, từ đó mở ra nhiều cơ hội mới về nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực qua kinh nghiệm lẫn góc nhìn của Việt Nam.
“Đây cũng chính là tinh thần của ngoại giao giáo dục”, ông Shipton nhận định.
Đầu tư mạnh mẽ, có trọng điểm vào giáo dục và đổi mới sáng tạo là trụ cột trung tâm của mọi chính sách cơ cấu nhất quán nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng của VN. Việc nâng cao kỹ năng kỹ thuật của lực lượng lao động, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp và công nghệ có giá trị gia tăng cao, là điều thiết yếu để hỗ trợ hiện đại hóa sản xuất và tiếp nhận các công nghệ tiên tiến. Đầu tư như vậy có ý nghĩa quyết định để giúp VN giảm phụ thuộc quá mức vào vốn và công nghệ nước ngoài, thoát bẫy thu nhập trung bình và chuyển từ nền kinh tế dựa vào yếu tố đầu vào sang nền kinh tế dựa trên tri thức.
Hệ thống đại học (ĐH) VN có 237 trường vào năm 2026, trong đó có 3 trường nằm trong top 200 ĐH châu Á theo bảng xếp hạng QS Asia University Rankings 2026, và chưa có trường nào nằm trong top 500 ĐH hàng đầu thế giới theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín (QS World University Rankings, Times Higher Education). Điều này làm hạn chế đáng kể sức hấp dẫn của VN đối với chuyên gia quốc tế và các trung tâm nghiên cứu, phát triển của các tập đoàn đa quốc gia.
Trước thực trạng nói trên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã công bố dự án chiến lược nhằm xây dựng 5 - 6 ĐH xuất sắc trong giai đoạn 2030 - 2045, với mục tiêu hội nhập vào các bảng xếp hạng quốc tế từ năm 2030.
Quan sát từ những thành công ấn tượng nhất tại châu Á, có thể nói đây là quyết định mang tính chiến lược cao cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của VN. Singapore đã đầu tư mạnh mẽ vào 2 ĐH mũi nhọn NUS và NTU từ những năm 1990. Trong bảng xếp hạng QS World University Rankings, NUS hiện đứng thứ 8 thế giới, còn NTU đứng thứ 15, đưa Singapore trở thành một trong những trung tâm ĐH và công nghệ hàng đầu toàn cầu. Hàn Quốc có lộ trình tương tự với ĐH Quốc gia Seoul (khoảng thứ 30 thế giới theo QS) và KAIST (khoảng thứ 50). Gần đây hơn, Trung Quốc đã đưa ĐH Bắc Kinh (khoảng thứ 14 thế giới) và ĐH Thanh Hoa (khoảng thứ 17) vào top 20 thế giới, trong khi giữa thập niên 1990 họ còn ở vị trí rất xa. Những thành công này không phải ngẫu nhiên mà dựa trên 3 trụ cột: đầu tư công và tư quy mô lớn, bền bỉ theo thời gian; cơ chế quản trị trao quyền tự chủ rộng rãi về học thuật và quản lý cho các trường ĐH; chiến lược chủ động thu hút nhân tài quốc tế.
Việc xây dựng các ĐH xuất sắc sẽ góp phần phục vụ những mục tiêu kinh tế cụ thể. Thứ nhất, giữ chân nhân tài. Khi những sinh viên giỏi nhất vẫn phải ra nước ngoài để tiếp cận đào tạo chất lượng cao, đất nước sẽ tiếp tục bị chảy máu chất xám. ĐH đạt chuẩn quốc tế sẽ giúp đào tạo tinh hoa ngay trong nước và thu hút chuyên gia VN từ nước ngoài trở về.
Thứ hai, đáp ứng nhu cầu lao động trình độ cao. Quá trình nâng cấp công nghiệp của VN (từ bán dẫn đến trí tuệ nhân tạo, từ điện hạt nhân đến năng lượng tái tạo) đòi hỏi đội ngũ kỹ sư và chuyên gia trình độ cao.
Kế đến là phát triển năng lực đổi mới sáng tạo nội sinh. VN hiện chỉ dành khoảng 0,5% GDP cho R&D (nghiên cứu và phát triển), so với gần 2,5% của Trung Quốc và gần 5% của Hàn Quốc. Điều này dẫn đến số lượng bằng sáng chế còn hạn chế và sự phụ thuộc công nghệ kéo dài.
Ngoài ra, còn nhằm thu hút FDI chất lượng cao. Samsung, Intel hay Apple chọn VN trước hết vì chi phí lao động thấp. Để thu hút các trung tâm R&D của họ, cần có nguồn nhân lực trình độ cao. ĐH xuất sắc là yếu tố quyết định trong lựa chọn địa điểm đầu tư FDI chất lượng.
Việc tích hợp các trường kỹ sư chất lượng cao vào các ĐH xuất sắc là một trong những giải pháp mang tính then chốt nhằm hỗ trợ chiến lược xây dựng các ĐH có danh tiếng toàn cầu. Hiện nay, hệ thống giáo dục VN vẫn duy trì sự tách biệt tương đối giữa các trường ĐH và các cơ sở đào tạo chuyên ngành, điều này dẫn đến phân tán nguồn lực và hạn chế khả năng tạo ra các hiệu ứng cộng hưởng.
Việc tích hợp, tương tự mô hình của MIT tại Mỹ hay các trường lớn Grandes Écoles tại Pháp sẽ cho phép tối ưu hóa việc sử dụng cơ sở hạ tầng có chi phí cao, như phòng thí nghiệm và trang thiết bị khoa học, đồng thời thúc đẩy tính liên ngành, một trong những yếu tố thiết yếu cho sự phát triển của các công nghệ mới nổi. Bên cạnh đó, cách tiếp cận này còn tạo điều kiện tập trung nguồn lực học thuật, chia sẻ và kết hợp chuyên môn, năng lực để xây dựng các trung tâm xuất sắc về khoa học và công nghệ có tầm vóc, uy tín.
Việc xây dựng các ĐH nghiên cứu xuất sắc vẫn chưa đủ, điều quan trọng là phải phát triển hệ sinh thái nghiên cứu toàn diện, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của nền kinh tế. Có thể kể ra các mô hình như dưới đây.
Các trung tâm nghiên cứu xuất sắc: Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) là ví dụ tốt; FTU Research Lab của Trường ĐH Ngoại thương mới khánh thành, nếu thành công, cũng là mô hình nên nhân rộng. Mỗi trung tâm nghiên cứu trong các trường ĐH cần được bảo đảm điều kiện làm việc đạt chuẩn quốc tế, đi kèm với nguồn tài chính ổn định nhằm duy trì tính liên tục và nâng cao chất lượng các chương trình nghiên cứu.
Cơ chế hợp tác đào tạo - nghiên cứu theo mô hình CIFRE (hợp đồng đào tạo nghiên cứu trong doanh nghiệp) của Pháp là ví dụ tiêu biểu về sự hợp tác hiệu quả giữa nhà trường và doanh nghiệp. VN hoàn toàn có thể điều chỉnh và áp dụng mô hình này phù hợp với bối cảnh trong nước, đặc biệt trong các ngành trọng điểm được ưu tiên đầu tư quy mô lớn, cũng như những lĩnh vực có sự hiện diện mạnh của các tập đoàn đa quốc gia như điện tử và bán dẫn.
Các trung tâm đổi mới sáng tạo và công nghệ: Kinh nghiệm từ Thung lũng Silicon (Mỹ) hay khu khoa học Hsinchu (Đài Loan) cho thấy tầm quan trọng của việc tập trung không gian địa lý giữa các trường ĐH, trung tâm nghiên cứu, phát triển R&D, và nguồn vốn đầu tư mạo hiểm. VN đã bước đầu triển khai định hướng này thông qua các khu công nghệ cao như Khu Công nghệ cao TP.HCM và Khu Công nghệ cao Hòa Lạc. Tuy nhiên, cần tiếp tục củng cố và tăng cường sự liên kết giữa các khu này với các ĐH nghiên cứu, nhằm hình thành những hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực sự hiệu quả và bền vững.
Nếu hội đủ các điều kiện như đầu tư đúng trọng tâm và kéo dài, chính sách lương cạnh tranh, hội nhập quốc tế, VN có thể kỳ vọng có 1 - 2 ĐH trong top 300 thế giới vào giai đoạn 2045 - 2050.
Quỹ đạo phát triển này sẽ tương đương với Trung Quốc hoặc Singapore, sẽ giúp chuyển đổi sâu sắc nền kinh tế VN bằng cách thúc đẩy sự nâng cấp công nghiệp, giảm sự phụ thuộc vào công nghệ và tạo ra giá trị cao hơn nhiều trên mỗi lao động.
Trong một thế giới mà cạnh tranh kinh tế diễn ra trên lĩnh vực đổi mới và tri thức, việc sở hữu các trường ĐH đẳng cấp thế giới không còn là một sự xa xỉ mà là một điều kiện tiên quyết để tiến tới nhóm các quốc gia có thu nhập cao.
Song song, việc phát triển các năng lực công nghệ cốt lõi như trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và kinh tế số đóng vai trò như một động lực chiến lược. Những sự đầu tư này tác động trực tiếp đến năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), giúp nâng cao hiệu quả sản xuất vượt ra ngoài việc chỉ đơn thuần tích lũy vốn và lao động. Bằng cách thúc đẩy cải thiện TFP, VN có thể nâng tầm quỹ đạo tăng trưởng tiềm năng, củng cố năng lực tự chủ công nghệ và đổi mới sáng tạo nội sinh. Đây chính là nền tảng then chốt giúp VN chuyển đổi thành công mô hình tăng trưởng và phát huy tối đa các lợi thế của mình.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang (TP.HCM), cho biết trường vừa công bố điểm sàn xét tuyển cho các phương thức của trường, với các ngưỡng được quy định theo từng nhóm ngành, từng loại chương trình đào tạo và từng phương thức xét tuyển.
Theo đó, năm 2026, Trường ĐH Văn Lang sử dụng các phương thức xét điểm thi tốt nghiệp THPT, xét học bạ, xét tuyển kết hợp học bạ với điểm các kỳ thi đánh giá năng lực/SAT, xét tuyển ngành năng khiếu kết hợp với điểm thi tốt nghiệp THPT/điểm học bạ.
Về quy định chung, thí sinh cần đạt tổng điểm 3 môn thi kỳ thi tốt nghiệp THPT theo tổ hợp xét tuyển (hoặc sử dụng điểm thi môn toán, ngữ văn và một môn thi khác) đạt tối thiểu 15 theo thang điểm 30 (không tính điểm ưu tiên, điểm cộng).
Đối với phương thức xét điểm thi tốt nghiệp THPT, nhóm ngành luật và khoa học sức khỏe áp dụng ngưỡng điểm theo quy định của Bộ GD-ĐT, các ngành còn lại nhận hồ sơ từ15 điểm.
Đối với phương thức xét điểm học bạ và xét tuyển kết hợp, ngoài mức điểm sàn theo ngành, thí sinh có tổng điểm 3 môn thi kỳ thi tốt nghiệp THPT đạt tối thiểu như sau:
Các ngành y khoa, dược học, răng hàm mặt: kết quả học tập cả năm lớp 12 được đánh giá mức tốt và tổng điểm 3 môn thi tốt nghiệp THPT theo tổ hợp xét tuyển (hoặc sử dụng điểm thi môn toán, ngữ văn và một môn thi khác) đạt 20 điểm trở lên, hoặc điểm xét tốt nghiệp THPT từ 8,5 trở lên theo thang điểm 10.
Các ngành điều dưỡng và kỹ thuật xét nghiệm y học: kết quả học tập cả năm lớp 12 được đánh giá mức khá và tổng điểm 3 môn thi tốt nghiệp THPT theo tổ hợp xét tuyển (hoặc sử dụng điểm thi môn toán, ngữ văn và một môn thi khác) đạt 16,5 điểm trở lên, hoặc điểm xét tốt nghiệp THPT từ 6,5 trở lên theo thang điểm 10.
Các ngành thuộc lĩnh vực pháp luật: kết quả học tập cả năm lớp 12 được đánh giá mức tốt và tổng điểm 3 môn thi tốt nghiệp THPT theo tổ hợp xét tuyển (hoặc sử dụng điểm thi môn toán, ngữ văn và một môn thi khác) đạt 18 điểm trở lên hoặc điểm xét tốt nghiệp THPT từ 8,5 trở lên theo thang điểm 10.
Đối với các ngành piano, thanh nhạc: môn năng khiếu âm nhạc 1 cần đạt từ 5,0 điểm trở lên (thang điểm 10); môn năng khiếu âm nhạc 2 đạt từ 7,0 điểm trở lên (thang điểm 10).
Đối với các ngành diễn viên kịch, điện ảnh – truyền hình, đạo diễn điện ảnh – truyền hình: môn năng khiếu sân khấu điện ảnh 1 cần đạt từ 5,0 điểm trở lên (thang điểm 10); môn năng khiếu sân khấu điện ảnh 2 cần đạt từ 7.0 điểm trở lên (thang điểm 10).
Đối với các ngành trong tổ hợp môn xét tuyển có môn ngoại ngữ: thí sinh được sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ để quy đổi điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp môn xét tuyển, (chứng chỉ ngoại ngữ còn giá trị đến tháng 8.2026 và chỉ được dùng cho quy đổi điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển ĐH, không thay thế điểm môn ngoại ngữ trong kỳ thi tốt nghiệp THPT).
Tiến sĩ Tuấn cho biết đây là năm đầu tiên trường tuyển sinh chương trình Global Elite (chương trình tinh hoa), gồm 10 ngành gồm thiết kế đồ họa, truyền thông đa phương tiện, quan hệ công chúng, quản trị kinh doanh, marketing, tài chính ngân hàng, khoa học dữ liệu, kiến trúc, quản trị khách sạn, logistics và quản lý chuỗi cung ứng, yêu cầu người học đáp ứng điều kiện năng lực tiếng Anh tối thiểu tương đương IELTS 5.5 trước khi nhập học.
Thông tin điểm sàn cụ thể như sau:
Bảng quy đổi từ chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế sang điểm tiếng Anh để xét tuyển:
Thí sinh đăng ký nguyện vọng trên hệ thống xét tuyển chung của Bộ GD-ĐT từ ngày 2.7 đến 17 giờ ngày 14.7. Trong thời gian này, thí sinh đăng ký, điều chỉnh, bổ sung nguyện vọng xét tuyển không giới hạn số lần trong tổng số nguyện vọng được phép đăng ký xét tuyển.
Cuối tuần trước, Đại học Nam Khai (Nankai University) cách chức ông Quan Chen, Hiệu trưởng trường Khoa học Sự sống, do không giám sát chặt chẽ chất lượng và tính xác thực của dữ liệu trong một bài báo xuất bản trên tạp chí Nature Cancer vào năm 2024, mà ông là tác giả chính.
Cùng lúc, Đại học Tôn Trung Sơn (Sun Yat-sen University) ra thông báo tương tự với ông Kang Tiebang, Phó giám đốc Phòng thí nghiệm Trọng điểm Quốc gia về Ung thư Nam Trung Hoa, và ông Kuang Dongming, Phó hiệu trưởng trường Khoa học Sự sống của đại học này.
Theo trường, ông Kang là tác giả chịu trách nhiệm chính một nghiên cứu đăng trên Nature Cell Biology năm 2020, bị phát hiện chứa nhiều sai sót về dữ liệu và hình ảnh. Ông Kuang cũng bị cáo buộc có sai phạm này trong ba bài báo khác đăng trên các tạp chí uy tín gồm Nature Cell Biology, Science Advances và Cell.
Động thái này diễn ra ba tuần sau khi Đại học Đồng Tế (Tongji University) cách chức Trưởng khoa Khoa học Sự sống của ông Wang Ping - chuyên gia hàng đầu về nghiên cứu ung thư, do các sai phạm học thuật liên quan công bố quốc tế.
Đáng chú ý, cả bốn nhà nghiên cứu trên đều từng nhận giải thưởng "Thanh niên xuất sắc" quốc gia, một danh hiệu cao quý, thường được coi là bước đệm để được xét vào các viện hàn lâm khoa học và kỹ thuật hàng đầu Trung Quốc.
Rắc rối của họ bắt đầu khi lọt vào "tầm ngắm" của một cựu nghiên cứu sinh tiến sĩ, hiện là blogger kiêm nhà sáng tạo nội dung video có hơn 1,8 triệu người theo dõi, biệt danh "Sinh viên Geng" (Student Geng).
Trong video, Geng mổ xẻ các bài báo khoa học. Từ ảnh chụp kỹ thuật Western blot, ảnh hiển vi, cho đến các tập dữ liệu bổ sung và mô hình thống kê đều được anh đưa lên bàn cân, sử dụng các công cụ AI và các phương pháp thống kê để chỉ ra dấu hiệu chỉnh sửa, ngụy tạo dữ liệu.
Những video của Geng làm dấy lên nhiều tranh cãi trên mạng xã hội, buộc các đại học liên quan mở cuộc điều tra.
Tân Hoa Xã tuần trước dành lời khen cho Geng vì có những tác động tích cực trong phổ biến khoa học đến đại chúng. Cơ quan này cũng nhấn mạnh các trường đại học và tổ chức nghiên cứu cần giải quyết triệt để tình trạng trên trong nội bộ, thay vì để vấn đề dừng lại ở các cuộc tranh luận trên mạng xã hội.
Nature là tạp chí khoa học đa ngành, với hơn 60 tạp chí "chị, em", xuất bản các nghiên cứu tiên phong kể từ năm 1869. Tạp chí Cell xuất bản các nghiên cứu đột phá về khoa học sự sống từ năm 1974, còn Science Advances là tạp chí khoa học được bình duyệt nghiêm ngặt, do Hiệp hội Khoa học Tiến bộ Mỹ (AAAS) thành lập.
Nhiều thập kỷ qua, việc có bài báo được xuất bản trên các tạp chí hàng đầu luôn được coi là đỉnh cao sự nghiệp của giới học thuật Trung Quốc. Đó là điều kiện quyết định liệu một nhà khoa học có nhận được hàng triệu nhân dân tệ tiền tài trợ, vào biên chế chính thức, lọt vào danh sách nhân tài hay thăng chức tại các cơ quan, tổ chức hàng đầu hay không.