Vợ chồng tôi đều là nhân viên văn phòng ở Sài Gòn, có tổng thu nhập khoảng 30 triệu đồng mỗi tháng, có một con nhỏ đang học lớp 1. Nhiều người nghe vậy thường nghĩ chắc cũng chỉ đủ chi tiêu, khó mà dư dả. Nhưng thực tế, tháng nào chúng tôi cũng để dành được 12-15 triệu. Không phải vì chúng tôi kiếm thêm được gì, mà đơn giản là giữ thói quen tiêu trong khả năng, cân nhắc từng khoản nhỏ.
Gia đình tôi ăn cơm nhà là chính. Cuối tuần mới ra ngoài đổi bữa. Bữa ăn của gia đình tôi thường rất đơn giản: một món rau và một món mặn. Tôi cố gắng thay đổi thực đơn hằng ngày nhưng chủ yếu là những nguyên liệu bình dân như: thịt lợn, trứng, cá, rau xanh theo mùa… nên tính ra chi phí cho bữa ăn chẳng đáng là bao, chỉ trên dưới 100.000 đồng một bữa.
Quần áo, đồ đạc, chúng tôi không mua theo cảm hứng, cái gì thật cần, thật thiếu mới mua. Tôi cũng cố gắng dạy con hiểu giá trị của việc tiết kiệm từ những điều rất nhỏ. Cuộc sống của chúng tôi có thể không thoải mái như nhiều người, nhưng đổi lại, tôi luôn có cảm giác yên tâm vì trong nhà lúc nào cũng có một khoản dự phòng.
Trái ngược với chúng tôi là vợ chồng một người bạn thân. Thu nhập của họ khoảng 40 triệu mỗi tháng, cao hơn gia đình tôi, nhưng cách chi tiêu lại hoàn toàn khác. Họ gần như không nấu ăn, chủ yếu đặt đồ ăn ngoài cho tiện. Cuối tuần, cả nhà lại đi mua sắm, đi chơi, lâu lâu lại đi du lịch. Họ tiêu gì cũng nhanh, ít khi tính toán. Bạn tôi hay nói: “Sống được mấy năm, sao phải khổ?”.
>> Bữa sáng 20 K dù thu nhập tốt
Tôi không phản đối quan điểm đó. Mỗi người có quyền chọn cách sống phù hợp với mình. Nhưng việc gần như không có thói quen tích lũy sẽ kéo theo nhiều rủi ro. Và thực tế, đã có vài lần bạn phải gọi cho tôi hỏi vay tiền vì có việc gấp mà trong tay không có sẵn tiền. Tất nhiên, tôi vẫn giúp, nhưng trong lòng không khỏi suy nghĩ. Nếu những khoản chi trước đó được cân nhắc hơn một chút, có lẽ bạn đã không rơi vào thế bị động như vậy.
Mọi chuyện chỉ thực sự khiến bạn tôi thay đổi khi một biến cố xảy ra. Cuối năm ngoái, vợ bạn bị tai nạn, ngã gãy chân và phải phẫu thuật. Chi phí không nhỏ, lại phát sinh đột ngột khiến bạn gần như rơi vào trạng thái xoay xở trong hoảng loạn vì không có khoản dự phòng nào đáng kể.
May mắn là lúc đó tôi vẫn còn một khoản tiết kiệm chưa dùng đến nên có thể cho bạn mượn tạm để lo cho vợ. Không ai mong chuyện xấu xảy ra, nhưng cuộc sống vốn không báo trước điều gì. Sau lần đó, bạn tôi không còn nhắc nhiều đến chuyện “sống được mấy năm” như trước. Thay vào đó, bạn bắt đầu hỏi tôi cách quản lý chi tiêu, cách để dành từng khoản nhỏ. Có lẽ, phải đến khi gặp biến cố, người ta mới thực sự cảm nhận được giá trị của sự tích lũy.
Tôi không nghĩ tiết kiệm là sống khổ, càng không phải là từ chối tận hưởng cuộc sống. Với tôi, đó là cách để mình chủ động trước những điều bất ngờ. Tiêu tiền cho hiện tại là cần thiết, nhưng giữ lại một phần cho tương lai cũng quan trọng không kém. Bởi đến một lúc nào đó, chính khoản tiền tích dần từng chút một ấy lại là thứ giúp mình và người thân vượt qua những giai đoạn khó khăn nhất.
Cuối tuần trước, tôi theo chân môi giới đi xem một căn hộ chung cư diện tích khoảng 30 m2 ở Hà Nội. Căn nhà nằm trong một dự án được quảng cáo là "cao cấp", diện tích vừa đủ kê một chiếc giường, bộ sofa nhỏ và góc bếp. Giá chào bán được đưa ra là gần 5 tỷ đồng. Nghe xong, tôi đứng hình mất mấy giây mới hoàn hồn rồi lấy lý do suy nghĩ thêm để bỏ về.
Nhiều năm đi làm, mỗi tháng tôi kiếm khoảng 40 triệu đồng. Tôi không tiêu xài hoang phí, nhưng đến lúc thật sự nghĩ đến chuyện mua nhà ở Hà Nội, tôi mới thấy khoảng cách giữa thu nhập và giá nhà xa hơn tưởng tượng rất nhiều. Nếu sống thực tế và an toàn, nhiều nhất tôi chỉ có thể dành khoảng 30% thu nhập cho việc mua nhà, tức khoảng 13 triệu đồng mỗi tháng. Đó là mức để tôi còn tiền sinh hoạt, chăm sóc gia đình, lo cho con cái ăn học và dự phòng những lúc đau ốm hay thất nghiệp.
Tôi từng đọc đâu đó rằng với thu nhập khoảng 25 triệu đồng một tháng mới nên vay khoảng 500 triệu để tránh áp lực tài chính quá lớn. Trong khi đó, trường hợp của tôi bây giờ là muốn mua căn hộ 5 tỷ phải vay thêm khoảng 3 tỷ đồng, dù đã dồn toàn bộ 2 tỷ tích lũy sau nhiều năm đi làm. Nhưng nếu dốc hết tiền mua nhà, rồi tôi sẽ sống bằng gì?
Điều khiến tôi càng khó chấp nhận hơn là nhiều dự án chung cư hiện nay gần như đều tự gắn mác "cao cấp" để đẩy giá bán lên cao. Nhưng thực tế đi xem mới thấy nhiều nơi xung quanh gần như không có tiện ích gì đáng kể, chỉ một tòa chung cư mọc chơ lơ giữa khu vực còn ngổn ngang. Có nơi hành lang hẹp đến mức hai người đi qua còn phải né nhau. Không gian xanh ít ỏi, khu sinh hoạt chung sơ sài, mật độ xây dựng dày đặc. Vậy nhưng giá bán vẫn bị đẩy lên mức của "căn hộ cao cấp".
>> 10 năm sống trong nợ nần khi tôi mua chung cư Hà Nội
Tôi nghĩ đã đến lúc cần có quy định rõ ràng hơn về tiêu chuẩn của một chung cư cao cấp. Cao cấp thì phải có tiêu chí cụ thể: mật độ xây dựng ra sao, diện tích cây xanh thế nào, tiện ích công cộng gồm những gì, chất lượng hành lang, chỗ để xe, không gian sinh hoạt chung, khoảng cách giữa các tòa nhà... Không thể chỉ cần sảnh đẹp hay gắn vài từ quảng cáo mỹ miều là giá bán tăng thêm cả tỷ đồng. Dự án nào không đạt tiêu chuẩn, nếu quảng cáo sai hoặc cố tình đánh tráo khái niệm để bán giá cao thì cần bị xử phạt.
Điều khiến tôi áp lực là cảm giác mình luôn phải chạy theo một thứ ngày càng xa tầm với. Tốc độ tăng giá bất động sản lúc nào cũng nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ tiết kiệm của người đi làm công ăn lương. Có lúc tôi tự trách bản thân vì chưa giỏi hơn, kiếm chưa nhiều hơn. Nhưng rồi nhìn quanh, tôi thấy rất nhiều người trẻ cũng ở trong trạng thái tương tự. Thu nhập không thấp, làm việc chăm chỉ, sống tiết kiệm, nhưng vẫn cảm thấy mơ hồ khi nghĩ đến chuyện an cư.
Tôi biết sẽ có người nói rằng có thể chọn ở xa trung tâm hơn, hoặc chấp nhận vay dài hạn vài chục năm. Nhưng liệu một căn hộ nhỏ với khoản nợ quá lớn có đáng để đánh đổi cảm giác an toàn của cả cuộc sống hay không?
Tôi sống và làm việc tại TP HCM, một thành phố được nhắc đến rất nhiều với cụm từ kinh tế đêm. Có một điều khiến tôi luôn băn khoăn đó là xe buýt thường dừng hoạt động từ khoảng 19-20h, chỉ một số ít tuyến kết nối metro là chạy đến 22h.
Việc xe buýt nghỉ sớm như vậy khiến nhiều người không khỏi đặt câu hỏi: Nếu sau 20h không còn phương tiện công cộng, những người làm ca tối, những bạn trẻ đi chơi khuya, hay đơn giản là người muốn di chuyển tiết kiệm, an toàn họ có được phục vụ không?
Vì sao không kéo dài thời gian hoạt động của xe buýt đến 22h, 23h, thậm chí 0h?
Thực tế, nhu cầu đi lại buổi tối của người dân đặc biệt là giới trẻ đang ngày càng lớn. Thành phố càng phát triển, nhịp sống càng kéo dài, thì giao thông công cộng càng phải thích ứng. Nếu có thêm các chuyến xe buýt muộn, thậm chí chạy xuyên đêm ở một số tuyến chính, tôi tin chắc lượng người sử dụng sẽ tăng lên và hưởng lợi rất nhiều.
Châu
TP HCM sau khi mở rộng địa giới hành chính có khoảng 180 tuyến xe buýt, gồm cả nội tỉnh và liên tỉnh, với hơn 2.400 xe, trong đó buýt điện mới chiếm gần một nửa.
Hiện, thành phố đã áp dụng miễn vé cho nhiều nhóm hành khách, như người từ 60 tuổi, trẻ dưới 6 tuổi, người có công, khuyết tật, đồng thời phần lớn tuyến được trợ giá để hỗ trợ người dân và duy trì hoạt động.
Sau lần điều chỉnh gần nhất từ năm 2019, giá vé phổ thông trên các tuyến trợ giá hiện ở mức 5.000-7.000 đồng mỗi lượt; học sinh, sinh viên 3.000 đồng.
Nhiều năm qua, câu chuyện vỉa hè ở các đô thị lớn gần như lặp đi lặp lại theo một kịch bản quen thuộc đến mức người dân cũng không còn bất ngờ: ra quân rầm rộ, dẹp hàng quán, trả lại lối đi cho người đi bộ, báo chí đưa tin vài ngày với những hình ảnh thông thoáng hiếm hoi. Nhưng rồi chỉ ít tuần sau, ghế nhựa lại xuất hiện, xe máy lại tràn lên hè phố, hàng quán lại bày ra như chưa từng có cuộc chấn chỉnh nào.
Nói cho công bằng, không phải chính quyền thiếu quyết tâm. Cái khó nằm ở chỗ người ta đang cố giải quyết một nhu cầu sống chỉ bằng mệnh lệnh hành chính. Trong khi đằng sau mỗi chiếc xe đẩy, mỗi quán nước nhỏ hay mỗi gánh hàng rong không đơn thuần là chuyện lấn chiếm vài mét vuông vỉa hè, mà là câu chuyện cơm áo của rất nhiều con người ở đô thị.
Một người lao động nhập cư không thể bỏ ra vài chục triệu đồng mỗi tháng để thuê mặt bằng bán bữa sáng. Một bà cụ bán vài bó rau đầu ngõ cũng không có khả năng bước vào những khu thương mại sáng choang. Một quán trà đá ven đường tồn tại được chỉ vì có dòng người qua lại ghé vào vài phút nghỉ chân giữa cái nhịp sống quá vội của thành phố này. Với nhiều người, vỉa hè là khoảng không cuối cùng giúp họ có thể bám trụ ở thành phố.
Nói cách khác, vỉa hè nhiều năm nay đang âm thầm gánh một phần áp lực sinh kế mà nền kinh tế đô thị chưa giải quyết được. Khi việc làm chính thức chưa đủ rộng mở, chi phí mặt bằng quá đắt đỏ và khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, kinh tế vỉa hè trở thành một "van an toàn" tự nhiên của xã hội. Nó lộn xộn, nhưng cũng là nơi giữ cho không ít gia đình không bị bật khỏi guồng sống thành thị.
Vì vậy, việc Hà Nội bắt đầu chuyển từ tư duy cấm tuyệt đối sang cho thuê vỉa hè thực ra là một bước thay đổi cho thấy thành phố đã nhìn nhận thực tế theo hướng thực tế hơn: có những nhu cầu không thể xóa bỏ chỉ bằng những đợt ra quân ngắn hạn. Một đô thị hiện đại không thể quản lý bằng cách hôm nay dẹp, mai tái lấn chiếm, rồi vài tháng sau lại tiếp tục một chiến dịch mới.
Nhưng nhìn nhận thực tế không đồng nghĩa với việc chấp nhận mọi sự tùy tiện tồn tại mãi mãi. Người dân có thể cảm thông với mưu sinh khó khăn, nhưng cũng không thể mãi chấp nhận cảnh người già, trẻ nhỏ phải đi xuống lòng đường vì vỉa hè bị chiếm sạch.
Điều Hà Nội cần lúc này là một triết lý quản trị rõ ràng: đâu là giới hạn của kinh tế vỉa hè, đâu là quyền của người đi bộ, và đâu là trách nhiệm của một đô thị không thể tiếp tục sống bằng sự linh động thiếu nguyên tắc như nhiều năm qua?
Ở bất kỳ đô thị hiện đại nào, việc dùng không gian công cộng cho mục đích kinh doanh cũng phải đi kèm quy hoạch, giới hạn và trách nhiệm tài chính rõ ràng. Không ai có thể chiếm dụng tài sản chung của xã hội mà không có luật chơi. Nhưng điều khiến người ta băn khoăn không nằm ở chuyện đóng bao nhiêu tiền để thuê vỉa hè? Vấn đề là sau khi thu phí, vỉa hè có thực sự ngăn nắp hơn không, hay chỉ chuyển từ "lấn chiếm tự phát" thành "lấn chiếm hợp thức"? Nói cách khác, liệu thành phố đang tạo lại trật tự đô thị, hay chỉ đang cấp một tấm vé hợp pháp cho sự lộn xộn vốn đã tồn tại quá lâu?
Mức phí 45.000 đồng một m2 mỗi tháng cho thuê vỉa hè ở khu vực trung tâm Hà Nội có vẻ không quá cao. Thậm chí, nhiều người làm kinh doanh sẽ thấy nó rẻ đến bất ngờ nếu đặt cạnh giá trị thương mại thật sự của những tuyến phố đắt đỏ quanh hồ Gươm hay các quận lõi nội đô. Vì vậy, điều cần bàn là thành phố đang nhìn vỉa hè dưới góc độ nào: một không gian công cộng cần quản lý chặt chẽ để phục vụ lợi ích chung, hay một nguồn tài nguyên kinh tế có thể đem ra khai thác?
Nếu mục tiêu là quản lý đô thị, thì việc cho thuê phải đi kèm những nguyên tắc rất rõ ràng và nghiêm ngặt. Phần diện tích nào được phép sử dụng? Khung giờ nào được hoạt động? Người đi bộ phải còn tối thiểu bao nhiêu mét lối đi? Vi phạm xử lý ra sao? Có thu hồi quyền sử dụng nếu tái lấn chiếm hay không?
Nhưng nếu vỉa hè được nhìn như một nguồn lợi kinh tế, thì câu chuyện lại khác. Khi ấy, điều xã hội quan tâm sẽ là tính minh bạch. Ai được thuê? Dựa trên tiêu chí nào? Có đấu giá công khai hay không? Có nguy cơ tài sản công bị biến thành lợi thế riêng cho một nhóm người đang sở hữu vị trí mặt phố đẹp nhất hay không?
Một chính sách tốt, suy cho cùng, không phải là chính sách làm vừa ý mọi phía, mà là chính sách tạo ra được cảm giác hợp lý và công bằng cho phần lớn xã hội. Với câu chuyện vỉa hè cũng vậy. Hà Nội cần ngăn nắp hơn, đó là điều không ai phủ nhận. Một đô thị không thể mãi để cảnh người đi bộ phải bước xuống lòng đường giữa dòng xe cộ chỉ vì vỉa hè bị chiếm kín. Nhưng ở chiều ngược lại, thành phố cũng cần tạo giới hạn để người lao động nghèo vẫn còn cơ hội mưu sinh.