“Đọc những câu chuyện cử nhân đại học chọn chạy xe ôm công nghệ hay shipper như một nghề chính, nhiều người xem đó là sự linh hoạt của thời đại mới, miễn kiếm được tiền là được. Nhưng cá nhân tôi vẫn thấy rất tiếc, nhất là với những người đã được đầu tư ăn học đầy đủ rồi cuối cùng lại cất tấm bằng vào đáy tủ để chạy xe toàn thời gian.
Tôi không có ý coi thường nghề xe ôm hay shipper. Ngược lại, tôi rất nể những người coi đó là công việc tạm thời để vượt qua khó khăn hoặc tranh thủ kiếm thêm thu nhập ngoài giờ. Bản thân tôi trong giai đoạn khó khăn nhất cũng từng nghĩ đến chuyện đi giao hàng để kiếm sống. Nhưng nếu xem đây là một nghề chính thì lại là chuyện khác.
Đợt dịch Covid-19 đầu tiên, tôi từng mất việc. Khi đó áp lực tài chính rất lớn, tương lai mù mịt, tôi cũng nghĩ nếu bí quá thì đi chạy xe công nghệ. Nhưng sau cùng tôi tự hỏi: nếu mình buông xuôi luôn thì bao nhiêu năm ăn học, bao nhiêu kinh nghiệm tích lũy trước đó sẽ đi về đâu?
Vì vậy tôi vẫn tiếp tục bám nghề, chấp nhận nhảy việc vài nơi trong suốt hai năm tiếp theo. Có lúc thu nhập thấp hơn trước, có lúc công việc không như ý, nhưng tôi nghĩ nếu mình kiên trì học thêm kỹ năng, tích lũy kinh nghiệm thì cơ hội vẫn còn. Và thực tế sau đó tôi tìm được công việc tốt hơn với mức thu nhập cao hơn trước. Nghĩ lại, nếu ngày đó tôi chọn công việc dễ làm ngay trước mắt rồi gắn luôn với nó, có lẽ giờ cuộc sống đã rất khác.
>> Cử nhân quản trị kinh doanh làm shipper sau ba tháng thất nghiệp
Nhiều bạn trẻ hiện nay dường như bỏ cuộc quá sớm. Vừa ra trường thấy lương thấp, công việc áp lực, thiếu kinh nghiệm là họ chuyển hẳn sang chạy xe công nghệ toàn thời gian. Trong khi thực tế, chuyện lương thấp ở giai đoạn đầu gần như ai cũng từng trải qua.
Thực tế, nhiều người suốt bốn năm đại học nhưng lại không tranh thủ thực tập, không tích lũy kinh nghiệm, để đến lúc tốt nghiệp thì hồ sơ gần như trắng tay. Sau đó thay vì tiếp tục học thêm kỹ năng, nhảy việc để nâng năng lực hay kiên trì bám nghề, họ lại chọn công việc chân tay dễ tiếp cận nhất để có tiền ngay. Theo tôi, đó là điều rất đáng tiếc.
Nói thẳng ra, chạy xe ôm công nghệ là công việc không đòi hỏi trình độ học vấn. Nhiều người không có điều kiện học hành vẫn làm tốt công việc này. Vậy thì nếu xác định gắn bó lâu dài với nghề đó, tại sao không đi làm từ sau phổ thông mà phải thêm bốn năm đại học rồi cuối cùng lại bỏ ngang chuyên môn đã học? Bốn năm đại học không chỉ là tiền học phí. Đó còn là tiền bạc, công sức và hy sinh của cha mẹ. Với nhiều gia đình, đó là cả một sự đánh đổi rất lớn.
Tôi cũng không nghĩ chạy xe công nghệ là lựa chọn bền vững nếu coi đó là nghề chính lâu dài. Công nghệ thay đổi rất nhanh. Vài năm nữa, khi giao hàng tự động, robot hay taxi tự lái phát triển hơn, các nền tảng thay đổi chính sách hoặc siết thu nhập, rất nhiều người có thể rơi vào cảnh chông chênh. Lúc đó tuổi không còn trẻ, nghề nghiệp chuyên môn cũng không có nền tảng vững để quay lại thì bạn sẽ làm thế nào?
Tất nhiên, mỗi người có hoàn cảnh riêng và không ai có quyền áp đặt người khác phải sống thế nào? Nhưng tôi vẫn tin rằng, nếu đã có cơ hội học hành tử tế, chúng ta nên cố gắng tận dụng tấm bằng và quãng thời gian tuổi trẻ để xây dựng một nghề nghiệp có chiều sâu, thay vì quá nhanh chóng từ bỏ chỉ vì khó khăn ban đầu. Kiếm tiền trước mắt rất quan trọng. Nhưng năng lực nghề nghiệp và giá trị tích lũy cho tương lai còn quan trọng hơn nhiều”.
Đó là chia sẻ của độc giả Su về thực trạng cử nhân đại học chạy xe ôm công nghệ, làm shipper sau khi tốt nghiệp. Trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng cạnh tranh, không ít sinh viên ra trường rơi vào cảnh ra trường không tìm được công việc đúng chuyên ngành hoặc phải chấp nhận mức lương quá thấp. Giữa áp lực mưu sinh ở các thành phố lớn, nhiều người trẻ lựa chọn chạy xe ôm, giao hàng như một nghề chính.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, mỗi năm vẫn có hàng trăm nghìn người trong độ tuổi lao động có trình độ đại học trở lên rơi vào tình trạng thất nghiệp hoặc làm công việc không đúng chuyên môn đào tạo. Tình trạng cử nhân, sinh viên mới ra trường chạy xe ôm công nghệ hiện là một thực trạng phổ biến. Tỷ lệ sinh viên làm trái ngành lên tới 60%, đồng thời có khoảng 26% tài xế xe ôm công nghệ có trình độ từ cao đẳng trở lên và 12% có bằng đại học.
Tôi xin phản ánh về tình trạng tổ chức giao thông tại khu vực Khu Công nghệ cao (KCNC), cụ thể như sau: Tại đoạn đường Võ Chí Công (D2), từ giao lộ với đường D18 đến giao lộ với đường Lã Xuân Oai, hiện được bố trí ba làn xe.
Tuy nhiên, làn trong cùng được ghi nhận dành cho xe hai và ba bánh, nhưng lại đồng thời gắn thêm biểu tượng xe ôtô, dẫn đến việc các phương tiện ôtô lưu thông vào làn này.
Thực tế trên khiến làn dành cho xe máy vốn đã hẹp nay càng bị thu hẹp hơn do phải chia sẻ với lượng lớn ôtô. Đặc biệt, tại vị trí xe máy rẽ trái từ đường Võ Chí Công (D2) vào đường Lã Xuân Oai, tình trạng ô tô chiếm dụng gần hết làn đường khiến xe máy di chuyển rất khó khăn.
Trong nhiều thời điểm, chỉ đủ khoảng trống cho một xe máy len qua, dẫn đến việc người tham gia giao thông phải chờ đợi kéo dài, có khi hơn 03 phút (qua 02 chu kỳ đèn đỏ) mới có thể thực hiện việc rẽ trái.
Trước tình hình trên, tôi đề nghị cơ quan chức năng xem xét điều chỉnh lại phương án phân làn hoặc thời gian tín hiệu đèn giao thông tại khu vực này nhằm đảm bảo an toàn và thuận lợi hơn cho người tham gia giao thông.
Tôi vẫn giữ thói quen đi chợ gần như mỗi ngày. Cách đây vài năm, khoảng 200.000 đồng có thể đủ cho một ngày bữa cơm gia đình khá đầy đặn: ít thịt, chút cá, vài loại rau, thêm trái cây. Mọi thứ vừa vặn, tôi không phải đắn đo quá nhiều trước mỗi lựa chọn.
Nhưng vài năm trở lại đây, cảm giác ấy thay đổi rõ rệt. Cùng một giỏ hàng quen thuộc, số tiền tôi phải bỏ ra luôn cao hơn trước. Mớ rau muống từng quanh mức 8.000-10.000 đồng nay có lúc lên tới 15.000 đồng. Những loại rau gia vị tưởng như rất nhỏ như hành, rau thơm, dưa chuột... cũng không còn rẻ như trước. Thịt lợn, thịt bò, cá, hải sản... gần như không món nào đứng giá trong thời gian dài. Cùng một khoản tiền như cũ, nhưng lượng đồ tôi mang về ngày càng ít đi.
Một tô bún, một bát phở giá bây giờ cũng cao hơn vài nghìn đồng. Ly cà phê không còn là 20.000-25.000 đồng như trước, mà đã tăng lên 35.000-40.000 đồng. Cước xe công nghệ cũng nhích lên, phí giao hàng tăng, giá gửi xe cũng không còn như cũ. Ngay cả những khoản tưởng nhỏ như giặt ủi, cắt tóc, hay một buổi tập gym, một lớp kỹ năng cho con... cũng đều đang điều chỉnh theo hướng đi lên.
Thực tế, thu nhập trên danh nghĩa của tôi vẫn tăng, nhưng tốc độ tăng đó không đủ để theo kịp chi phí sinh hoạt đang tăng mạnh ở hầu hết các nhóm hàng thiết yếu. Lương có thể nhích lên, nhưng khi giá cả mọi thứ quanh mình cùng vọt lên nhanh hơn, thì cảm giác dư dả vẫn là điều xa xỉ. Càng ngày, tôi càng phải tính toán kỹ hơn cho những điều vốn dĩ rất cơ bản - một bữa ăn đủ đầy cho gia đình.
>> Quán phở tăng 10 K theo giá xăng, giờ nhất quyết không giảm
Tôi từng nghe một người bạn làm nhân viên văn phòng chia sẻ rằng trước đây, mỗi ngày ăn sáng và uống cà phê chỉ khoảng 70.000 đồng. Bây giờ, con số ấy đã tiến sát 100.000 đồng, thậm chí cao hơn nếu chọn những quán quen. Nếu nhân lên 20-22 ngày làm việc, khoản tăng đó đã là gần một triệu đồng mỗi tháng chỉ riêng cho một thói quen buổi sáng. Và đó mới chỉ là một lát cắt rất nhỏ trong toàn bộ bức tranh chi tiêu, còn ăn trưa, đi lại, tiền điện nước, điện thoại, mua sắm... - những khoản phát sinh không thể tránh.
Một điểm khác ít được để ý là mức tăng giá trong thực tế không diễn ra theo từng đồng lẻ. Rất hiếm khi một quán ăn tăng 1.000-2.000 đồng. Thay vào đó, mức điều chỉnh thường rơi vào những con số "tròn": 5.000 đồng, 10.000 đồng, thậm chí cao hơn. Chính cách "làm tròn" này khiến tỷ lệ tăng thực tế cao hơn nhiều so với cảm giác khi nhìn số tuyệt đối. Một tô bún tăng từ 40.000 lên 50.000 đồng về bản chất, đó là mức tăng 25%.
Với các gia đình trẻ, giai đoạn hiện tại thường là thời điểm áp lực chồng lên nhau. Họ vừa bắt đầu xây dựng sự nghiệp, vừa phải ổn định cuộc sống, vừa lo tích lũy tài sản. Một bên là tiền thuê nhà hoặc khoản vay mua nhà dài hạn. Một bên là chi phí nuôi con, học hành, y tế. Xen giữa là những khoản chi tưởng nhỏ nhưng lặp lại mỗi ngày: ăn uống, đi lại, điện nước, internet, xăng xe. Trong điều kiện đó, chỉ cần giá cả tăng nhẹ ở nhiều nhóm hàng cùng lúc, khả năng tích lũy gần như bị thu hẹp ngay lập tức.
Không ít người trẻ từng nói với tôi rằng họ đã phải hoãn mua nhà, lùi kế hoạch sinh thêm con, hoặc cân nhắc lại việc đổi công việc dù có cơ hội tốt hơn. Không phải vì họ thiếu động lực, mà vì bài toán chi tiêu hàng tháng trở nên mệt mỏi hơn trước. Tại các đô thị lớn, một căn hộ nhỏ hoặc phòng trọ có chất lượng tương đối tốt đều có giá thuê cao hơn đáng kể so với trước dịch Covid-19. Không ít gia đình phải dành từ 25-40% thu nhập chỉ để chi trả cho nơi ở. Giấc mơ mua nhà ngày càng trở nên xa vời với nhiều người trẻ khi giá bất động sản tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập.
Mỗi khi giá cả tăng, giải pháp thường được nhắc tới đầu tiên là tăng lương. Tuy nhiên, tăng lương không phải chiếc đũa thần có thể giải quyết mọi vấn đề. Nếu năng suất lao động không tăng tương ứng, việc tăng lương quá nhanh đôi khi lại tạo áp lực khiến giá cả tiếp tục leo thang. Do đó, bài toán cần được giải quyết từ nhiều phía.
Không riêng Việt Nam, nhiều nền kinh tế trên thế giới cũng từng đối mặt với áp lực chi phí sinh hoạt tăng cao. Tại nhiều nước phát triển, giá nhà ở và chi phí giáo dục đã trở thành chủ đề được thảo luận trong nhiều năm. Một số quốc gia đã triển khai các chương trình hỗ trợ thuê nhà, phát triển nhà ở xã hội hoặc trợ cấp trực tiếp cho các hộ gia đình có thu nhập thấp. Nhiều nước cũng đầu tư mạnh vào giáo dục công lập và y tế công để giảm áp lực chi tiêu của người dân.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc kiểm soát lạm phát là cần thiết nhưng chưa đủ. Điều quan trọng hơn là bảo vệ sức mua thực tế của người lao động. Người dân cần cảm nhận rằng thu nhập của họ đang tăng nhanh hơn chi phí sinh hoạt. Chỉ khi đó niềm tin tiêu dùng mới được củng cố và nền kinh tế mới có thể phát triển ổn định trong dài hạn.
Văn phòng công ty của tôi nằm ở trung tâm thành phố. Dọc tuyến đường dài hơn một km có rất nhiều tòa nhà văn phòng. Bên cạnh đó cũng có nhiều quán cơm, quán cà phê phục vụ đông đảo nhân viên văn phòng.
Tháng trước có một quán cơm văn phòng khai trương, tôi và nhiều đồng nghiệp gọi vui là quán "bình ổn giá": Suất cơm một món giá 40.000 đồng, có trà đá, trái cây... rất đông khách tới ăn.
Suốt chục năm làm việc ở đây, tôi thấy có nhiều quán khai trương rồi đóng cửa. Giá một phần ăn từ 35.000 - 45.000 rồi tăng lên 50.000 đồng theo thời gian. Nhưng kỳ lạ là, dù mặt bằng giá thay đổi, số phận của nhiều quán vẫn giống nhau: mở ra vài tháng, rồi vắng khách dần và biến mất.
Duy chỉ có một quán bún chả và một quán cà phê trụ lại, dù giá của họ không hề rẻ. Ban đầu, tôi cũng nghĩ đơn giản: Giá rẻ thì đông khách, đông khách thì sống được. Nhưng dường như hai quán kia đã đi ngược lại điều này?