“Tôi làm việc từ 7h sáng đến 9h tối không dám tắt máy điện thoại. Công ty không ra văn bản làm ngoài giờ để né tiền thêm giờ.
Nhưng công việc ngoài giờ mình không giải quyết, qua ngày mai ăn biên bản không hoàn thành nhiệm vụ, ăn 3 biên bản thì luân chuyển công việc khác là hiểu chuyện gì sẽ xảy ra.
Theo tôi, vấn đề ngày nghỉ, giờ nghỉ thì phải cho người lao động nghỉ, đơn giản vậy thôi. Nhưng trong thời buổi khó xin việc như hiện nay, các công ty ép người lao động kiệt sức họ không dám nghỉ”.
Độc giả Hien Vu kể lại việc bản thân đang kiệt sức vì công việc như trên, sau bài viết Áp lực ‘tăng ca vô hình’ của lao động công sở. Độc giả cho biết dù muốn hay không, nhiều người lao động vẫn phải thích nghi với việc dùng laptop, điện thoại xử lý công việc ngoài giờ làm nếu không muốn bị cho nghỉ việc.
Báo cáo Điều tra lao động việc làm năm 2022 của Tổng cục Thống kê cho thấy khoảng 44% lao động làm việc 40-48 giờ mỗi tuần, 28% làm việc trên 48 giờ mỗi tuần. Trong sáu vùng kinh tế xã hội, tỷ trọng lao động làm việc trên 60 giờ mỗi tuần cao nhất thuộc về lao động Đồng bằng sông Hồng, khoảng 3%.
Độc giả VanDu Nguyen gọi tên việc phải dùng điện thoại, laptop xử lý công việc ngoài thời gian làm tại công ty: “Cái này gọi là ‘xâm lấn công nghệ’ làm ảnh hưởng, thậm chí là căng thẳng cuộc sống.
Tôi thấy ở Việt Nam chưa hình thành một thói quen xử lý, trao đổi công việc trong thời gian quy định mà bất kể khi nào, ngày hay đêm, cũng nhắn tin, trao đổi công việc, giao việc…
Theo tôi thì cần xem xét đến văn hóa tôn trọng thời gian nghỉ ngơi, thời gian riêng tư của đồng nghiệp, của khách hàng. Mọi công việc nên trao đổi sớm để đồng nghiệp, đối tác có thời gian xử lý”.
Độc giả nickname stevehoanganh cho rằng: “Theo tôi, đến mức bữa cơm ăn gia đình cũng phải một tay xúc cơm một tay trả lời tin nhắn ngủ cũng không được tĩnh tâm vẫn phải cố để trả lời khách hàng. Thế thì không phải là yêu mến công việc, Đó là không có thời gian nghỉ ngơi, là vắt ép sức lao động.
Ở đây có một vấn đề đó là nhịp sống công nghiệp khiến con người không thể rạch ròi được thời gian nghỉ ngơi và thời gian lao động, đặc biệt nhóm lao động văn phòng trí thức.
Thực ra cách hành xử là tùy ở mỗi người, nhưng nếu như cái văn hóa hết giờ làm vẫn còn hè nhau công việc trong nhóm chat của sếp, khách hàng thì những người có trách nhiệm họ vẫn phải trả lời. Họ trả lời vì họ thấy có trách nhiệm phải phản hồi khi sếp, khách hàng yêu cầu”.
Độc giả nickname Tôi là ai đây là đâu nói: “Nhóm chat là một cách để công ty giao thêm việc. Những câu từ kiểu như: phối hợp, hỗ trợ, nhiệt tình… thường được dùng để nhồi thêm việc ngoài việc được đồng ý ban đầu.
Ngoài giờ làm việc, người lao động ngắt kết nối nên được coi là bình thường chứ không nên được coi là không yêu công việc hay nhiệt tình. Nó tạo ra thói quen cho người làm và khách hàng rạch ròi giữa cuộc sống và công việc. Khách cũng nên có cái suy nghĩ là nếu mình nhắn bây giờ thì mai nó mới trả lời.
Ngược lại nhân viên cũng nên có suy nghĩ là phải hoàn thành công việc trong giờ vì hết giờ là không làm việc nữa”.
Trong khi đó, độc giả nickname Scarlett cho rằng văn hóa làm việc qua nhóm chat “lộn xộn”: “Làm việc trên nhóm chat rất lộn xộn, nhớ ra thông tin lúc nào nhắn lúc đó, người nhận tin dễ bị trôi tin.
Hơn hết làm việc trong nhóm hở xíu ra là nhắn, có khi là tán gẫu, tốn thời gian, giảm tập trung công việc.
Chưa kể trong nhóm không phải tin nhắn nào cũng cần phải đọc. Làm việc qua mail mọi người sẽ để ý câu từ, chỉn chu trong nội dung truyền đạt hơn, hiếm khi bị trôi mất thông tin”.
Độc giả nickname volocnguyen12 nói: “Một đơn vị chuyên nghiệp thì phải có những hệ thống, tài khoản riêng biệt cho công việc, chứ không phải là bắt nhân viên phải dùng tài khoản cá nhân để tham gia vào các công cụ này, tới một ngày họ kiệt sức, mệt mỏi rồi rời đi.
Làm chủ doanh nghiệp nhưng kiến thức và trách nhiệm trong vấn đề duy trì, bảo mật dữ liệu cho khách hàng và ngay cả nhân viên của mình là số không tròn trĩnh”.
Đặt vấn đề một cách sâu xa hơn, độc giả Vu nêu: “Câu hỏi là: Ai sẽ đứng ra bảo vệ người lao động – nhóm yếu thế?
Bảo vệ không có nghĩa là bảo bọc, nhưng không để nhóm yếu thế bị o ép quá mức và tự chèn ép lẫn nhau thay vì cạnh tranh lành mạnh, hợp tác sòng phẳng với giới sử dụng lao động.
Những ‘chiếc bẫy thời gian’ (làm không chấm công nhưng thực tế làm việc đến kiệt sức), có vẻ rất ngọt ngào ngày càng được sử dụng rộng hơn.
Nhìn rộng ra, nếu tình trạng như vậy tiếp diễn, giới trẻ Việt Nam sẽ bị vắt kiệt sức đúng nghĩa. Chỉ lo cạnh tranh một vị trí công việc, giữ sức khỏe thôi đã khó, kín thời gian. Việc học tập nâng cao bản thân hầu như không còn cơ hội. Việt Nam đi sau, nếu không có cơ hội học tập nâng cao, vừa học vừa làm, sẽ mãi mãi gia công cấp thấp và tụt hậu”.
Tôi tốt nghiệp đại học chuyên ngành xây dựng cách đây 10 năm với khá nhiều kỳ vọng. Những năm ngồi trên giảng đường, chúng tôi được dạy về kết cấu, vật liệu, tiêu chuẩn an toàn, về cách một công trình được hình thành từ bản vẽ đến thực tế. Với vốn kiến thức chuyên môn ấy, tôi từng nghĩ chỉ cần chăm chỉ và kiên trì, mình sẽ có một chỗ đứng vững vàng trong nghề.
Nhưng thực tế sau khi ra trường lại không như vậy. Tôi và bạn bè bắt đầu hành trình tìm việc đầy chật vật. Người thì nhận lương thấp, làm việc ở công trình xa nhà, điều kiện khắc nghiệt. Người khác vào được công ty một thời gian thì lại bị cắt giảm nhân sự khi dự án đình trệ. Có bạn liên tục nhảy việc nhưng vẫn không tìm được môi trường ổn định. Tấm bằng kỹ sư, thứ từng khiến chúng tôi tự hào, dần trở nên "nhẹ cân" trước thị trường lao động nhiều biến động.
Rồi một người bạn trong lớp chuyển hướng sang làm môi giới bất động sản, buôn đất. Ban đầu chỉ là thử sức, nhưng sau một thời gian, bạn ấy bắt đầu có thu nhập tốt hơn hẳn. Không còn cảnh chờ lương, không còn nỗi lo dự án dừng là mất việc. Bạn mua được xe, rồi nói đến chuyện mua nhà. Từ một người loay hoay với bản vẽ và công trường, bạn đổi đời khá nhanh.
Qua những buổi họp lớp, bạn giới thiệu thêm những người khác trong lớp tham gia cùng. Và rồi, từng người một chuyển nghề. Tính đến bây giờ, lớp tôi đã có ít nhất 5 kỹ sư xây dựng trở thành "cò đất". Tôi không nghĩ họ kém chuyên môn. Ngược lại, nhiều người trong số họ từng học rất tốt, hiểu nghề, có năng lực. Nhưng rõ ràng, giữa một bên là công việc chuyên môn vất vả, thu nhập bấp bênh, và một bên là thị trường bất động sản sôi động với cơ hội kiếm tiền nhanh, lựa chọn của họ trở nên dễ hiểu.
Điều khiến tôi trăn trở không phải là việc cá nhân đổi nghề, mà là xu hướng phía sau nó. Khi những người được đào tạo bài bản trong các lĩnh vực kỹ thuật, xây dựng, công nghệ thông tin - những ngành tạo ra giá trị vật chất cụ thể - lại rời bỏ nghề để chạy theo làm giàu từ đất, thì có ổn không?
Tại sao bất động sản ở ta lại được coi là kênh "sinh lời" hấp dẫn đến vậy? Giá trị thực mà nó tạo ra cho xã hội là gì, ngoài việc giá tăng lên qua các lần mua đi bán lại? Trong khi ở nhiều nước phát triển, người ta đầu tư vào khoa học, công nghệ, kỹ thuật... để tạo ra sản phẩm, nâng cao năng suất, thì chúng ta lại dễ dàng bị cuốn vào việc "ôm đất" và coi đó là phát triển.
Bản thân tôi đến giờ vẫn cố gắng bám trụ với nghề. Tôi chấp nhận đi công trình xa, chấp nhận thu nhập chưa cao để tích lũy kinh nghiệm và giữ lấy con đường mình đã chọn. Nhưng thú thật, đôi khi nhìn bạn bè đổi đời nhanh chóng, tôi cũng không khỏi dao động. Tôi tự hỏi, ngoài kia còn bao nhiêu người như mình, đang dần mất kiên nhẫn với công việc chuyên môn?
Có lẽ vấn đề nằm ở cách thị trường đang vận hành. Khi những công việc đòi hỏi chất xám không mang lại sự ổn định và thu nhập tương xứng, còn bất động sản lại mở ra cơ hội kiếm tiền nhanh, thì dòng tiền và cả nguồn nhân lực sẽ tự nhiên chảy về phía đó. Nhưng nếu tiền cứ tiếp tục đổ tiền vào đất, còn những ngành tạo ra giá trị thực bị bỏ ngỏ, thì câu hỏi đặt ra là: chúng ta sẽ phát triển bằng cách nào?
Tôi chỉ mong có thêm những chính sách để thị trường bất động sản ổn định hơn, minh bạch hơn, để sức hút làm giàu nhanh không còn lấn át tất cả. Quan trọng hơn, cần tạo ra môi trường làm việc đủ tốt để những người làm nghề như chúng tôi có thể yên tâm gắn bó. Nếu không, sự rời bỏ sẽ còn tiếp diễn, và cái giá phải trả trong tương lai sẽ là không nhỏ.
Nếu chọn ở chung cư, gia đình tôi sẽ được hưởng môi trường sống tiện nghi, an ninh. Khi đó, lô đất có thể được khai thác theo hướng xây dựng để cho thuê, tối ưu dòng tiền điều mà tôi cũng đã có kinh nghiệm từ các bất động sản khác.
Ngược lại, nếu chọn ở nhà đất, tôi sẽ ưu tiên xây dựng theo nhu cầu sinh hoạt của gia đình, tạo không gian sống rộng rãi, ổn định lâu dài. Căn chung cư khi đó sẽ được cho thuê, tạo nguồn thu nhập đều đặn, nhưng có thể không tối ưu bằng việc khai thác lô đất.
Hiện tôi phân vân như sau:
- Với gia đình có hai con nhỏ, nên ưu tiên chung cư hay nhà đất?
- Ở chung cư lâu dài có thực sự phù hợp khi các con lớn dần?
- Trong bài toán tài chính, nên tối ưu dòng tiền hay ưu tiên chất lượng sống?
Rất mong nhận được những chia sẻ thực tế để có thêm góc nhìn trước khi đưa ra quyết định quan trọng cho gia đình mình.
Lúc nhỏ, nhà tôi ở cạnh quán phở của người hàng xóm. Có hai điều đặc biệt mà tôi nhớ rất rõ khi quan sát công đoạn chú làm một tô phở cho khách:
Một là dùng một chiếc cân nhỏ để cân thịt bò, khối lượng đúng từng gram. Hai là sau khi ngắt bánh phở, xếp thịt bò vào tô, chú mới mấy muỗng cà phê cho từng thìa gia vị, hạt nêm vào và dĩ nhiên là có không ít bột ngọt (mỳ chính).
Sau đó mới múc nước dùng trong nồi to, cho vào nồi nhỏ rồi đun nóng cấp tốc rồi mới rưới vào tô phở. Vậy mà quán lúc nào cũng đông khách.
Thời gian trôi qua, ngày càng có nhiều người than phiền việc bị say bột ngọt khi đi ăn hàng quán. Họ cũng không ủng hộ việc nấu ăn nêm nếm bột ngọt. Các hàng quán bị đặt vào thế ngã ba đường: Dùng hay không dùng bột ngọt? Dùng bao nhiêu là vừa?
Mới đây, tôi thấy trên mạng một tiệm phở đã thông báo sắp đóng cửa. Một số người chỉ ra hai nguyên nhân: Quán treo biển nói rằng nước dùng nấu từ 100% xương tươi và sá sùng, không dùng mì chính.
Họ cho rằng quán tự tin như vậy là hơi thái quá, vì trong 1000 khách hàng, rất ít người nhận ra sự khác biệt của nước dùng hầm từ xương và sá sùng với dùng bột ngọt.
Trong khi đó, giá sá sùng khá đắt, từ vài triệu đồng một kg, cách xử lý cũng phải khéo để không bị tanh... Như vậy, quán đã xác định sai tệp khách hàng, dẫn đến thua lỗ và đóng cửa.
Tôi thì không nghĩ vậy. Có thể quán đóng cửa do nhiều lý do khác nhau, có thể là lý do gia đình. Ngày nay, nhiều thực khách có lưỡi rất nhạy cảm, trong nước dùng chỉ có một số ít bột ngọt là lưỡi bị tê (say bột ngọt) và họ sẽ cân nhắc đến quán. Như vậy, vấn đề chỉ có thể nằm ở giá cả mà thôi.
Như cái quán phở kế bên nhà tôi lạm dụng bột ngọt, sau này cũng đã phải chăm chút hơn cho nồi nước dùng...