Theo bác sĩ Chu Đức Thành, khoa điều trị tích cực và chống độc Bệnh viện 19-8 (Hà Nội), chỉ trong những ngày đầu nghỉ lễ, khoa đã tiếp nhận liên tiếp 3 trường hợp ngộ độc nặng với diễn biến phức tạp, phải hồi sức tích cực.
Trường hợp đầu tiên là người bệnh ngộ độc thuốc hạ huyết áp nhóm chẹn kênh canxi (amlodipin) liều cao. Người này uống hơn 30 viên amlodipin loại 5mg và nhập viện sau khoảng 12 giờ.
Khi vào viện, bệnh nhân rơi vào tình trạng sốc giãn mạch, tụt huyết áp kháng trị và suy đa cơ quan. Các bác sĩ đã phải sử dụng đồng thời nhiều biện pháp hồi sức chuyên sâu như thuốc vận mạch liều cao, lọc máu liên tục, thay huyết tương, truyền canxi và insulin liều cao nhằm cải thiện huyết động, tăng co bóp cơ tim và hỗ trợ chuyển hóa tế bào.
Sau 24 giờ điều trị tích cực, tình trạng người bệnh đã có dấu hiệu cải thiện, tỉnh táo hơn, giảm được liều vận mạch và chức năng các cơ quan đang dần hồi phục.
Một trường hợp khác nhập viện trong tình trạng suy gan cấp nghi do dùng thuốc nam không rõ nguồn gốc. Theo người nhà, bệnh nhân bị đau khớp vai nên tự mua thuốc nam về uống trong khoảng một tháng.
Khi nhập viện, người bệnh xuất hiện vàng da rõ, suy gan cấp, rối loạn đông máu và có nguy cơ tiến triển nhanh đến hôn mê gan. Trước diễn biến nặng, các bác sĩ đã triển khai thay huyết tương cấp cứu nhằm hỗ trợ loại bỏ độc chất và giảm tổn thương gan trong giai đoạn cấp.
Ca bệnh thứ ba là người bệnh nhập viện trong tình trạng hôn mê, sốt cao, tim đập nhanh, được chẩn đoán cơn bão giáp trên nền sử dụng methamphetamin.
Theo bác sĩ Thành, methamphetamin có thể làm tăng phóng thích catecholamine, từ đó khởi phát hoặc làm nặng thêm cơn bão giáp – tình trạng nội tiết nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng nếu không xử trí kịp thời.
Hiện người bệnh đang được hồi sức tích cực với các biện pháp an thần, thở máy, kiểm soát nhịp tim, dùng thuốc kháng giáp, corticoid và hỗ trợ đa cơ quan.
Từ các ca bệnh nhập viện liên tiếp, bác sĩ Thành cảnh báo nghỉ lễ thường là thời điểm gia tăng các trường hợp cấp cứu nặng liên quan đến ngộ độc thuốc do tự ý sử dụng hoặc dùng quá liều, thực phẩm không bảo đảm an toàn, lạm dụng rượu bia và sử dụng chất kích thích.
Khi có biểu hiện bất thường như nôn ói, đau bụng, lơ mơ, khó thở, sốt cao, co giật hoặc rối loạn ý thức sau khi dùng thuốc, ăn uống hay sử dụng chất lạ, người dân cần nhanh chóng đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời có ý nghĩa quyết định đến tiên lượng và khả năng hồi phục của người bệnh.
Báo cáo mới nhất tại Hội nghị Thường niên của Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Mỹ (ASCO) ở Chicago hôm 31/5 cho thấy viên uống daraxonrasib giúp kéo dài thời gian sống thêm gần gấp đôi cho người mắc ung thư tụy giai đoạn muộn.
Thử nghiệm lâm sàng quốc tế pha 3 do Viện Ung thư Dana-Farber (Mỹ) dẫn đầu thực hiện trên 500 bệnh nhân tại Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á. Kết quả ghi nhận nhóm sử dụng daraxonrasib đạt thời gian sống thêm trung vị 13,2 tháng, cao gấp đôi so với mức 6,6 tháng của nhóm tiếp nhận hóa trị.
Hãng dược Revolution Medicines chế tạo loại thuốc này nhằm nhắm trúng đích gene đột biến KRAS - nguyên nhân gây ra hơn 90% số ca bệnh. Daraxonrasib hoạt động bằng cách gắn kết các phân tử để bắt giữ và vô hiệu hóa hoàn toàn loại protein chuyên nuôi dưỡng tế bào ung thư này.
Không chỉ kéo dài tuổi thọ, viên uống sử dụng một lần mỗi ngày này còn thể hiện độ an toàn cao. Thống kê cho thấy tỷ lệ bệnh nhân gặp tác dụng phụ nghiêm trọng khi dùng daraxonrasib ở mức 43,6%, thấp hơn đáng kể so với mức 57,5% của phương pháp hóa trị.
Bác sĩ Rachna Shroff, Trưởng khoa Huyết học và Ung bướu tại Trung tâm Ung thư (Đại học Arizona), đánh giá kết quả thử nghiệm sẽ thay đổi hoàn toàn bức tranh lâm sàng cho bệnh nhân ung thư tụy di căn mang đột biến gene KRAS.
Tiến sĩ Sam Godfrey, Trưởng bộ phận Thông tin Nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Ung thư London (ICR), giải thích thêm rằng giới y khoa từng coi đột biến KRAS là mục tiêu bất khả xâm phạm. Ông ví cơ chế truyền tín hiệu nội bào này giống như một công tắc đèn kẹt ở chế độ bật mà trước đây con người chưa tìm ra nút tắt.
Y giới nhận định ung thư tụy là một trong bệnh ác tính khó kiểm soát nhất hiện nay do khối u tăng sinh nhanh và kháng các liệu pháp truyền thống. Thống kê chỉ ra hơn một nửa số bệnh nhân tử vong trong vòng ba tháng kể từ khi nhận chẩn đoán xác định. Người bệnh rất khó phát hiện sớm do các dấu hiệu lâm sàng như vàng da, ngứa da, nước tiểu sẫm màu, phân nhạt màu, sụt cân hoặc mệt mỏi thường xuất hiện ở giai đoạn muộn và dễ nhầm lẫn với các bệnh lý thông thường khác.
Bà Anna Jewell, Giám đốc Dịch vụ, Nghiên cứu và Đổi mới tại Tổ chức Ung thư Tụy Anh, khẳng định loại thuốc mới là bước tiến đáng mong đợi nhất trong lĩnh vực này suốt thời gian qua. Bà kêu gọi các cơ quan chức năng đẩy nhanh quá trình đưa phương pháp này vào ứng dụng thực tế.
Ông Mark Goldsmith, Giám đốc điều hành Revolution Medicines, cho biết hãng đã bắt đầu mở rộng thử nghiệm daraxonrasib ở các giai đoạn bệnh sớm hơn. Ông Menta "Steve" Wallace, 74 tuổi tại Texas (Mỹ), là một trong những người tham gia chương trình này tại Trung tâm Ung thư MD Anderson. Ông Wallace phát hiện bệnh hồi tháng 1 và bắt đầu dùng thuốc từ ngày 12/2.
Sau vài triệu chứng nhẹ ban đầu như buồn nôn và phát ban, sức khỏe ông hiện rất ổn định. Kết quả chẩn đoán hình ảnh mới nhất ghi nhận khối u của ông đã thu nhỏ tới 46%. Bác sĩ điều trị vừa cho phép ông mang theo thuốc bảo quản lạnh để đi du lịch biển Caribbean cùng vợ vào cuối tháng 6.
Quan niệm ăn nhiều bữa nhỏ xuất hiện vì được cho là giúp ngăn ăn quá nhiều và hạn chế cảm giác đói đột ngột. Ý tưởng này nghe có vẻ hợp lý: Cơ thể được “nạp nhiên liệu” liên tục thì quá trình trao đổi chất sẽ hoạt động tốt hơn.
Tuy nhiên, theo Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH), khi nói đến cân nặng và sức khỏe chuyển hóa, tổng lượng calo tiêu thụ và chất lượng thực phẩm quan trọng hơn nhiều so với số lần ăn trong ngày.
Chuyên gia dinh dưỡng Parul Yadav, Bệnh viện Marengo Asia (Ấn Độ) cho biết, đồ ăn vặt hiện đại thường không phải trái cây, các loại hạt hay món tự nấu mà chủ yếu là bánh quy, snack đóng gói, nước ngọt hoặc thực phẩm chế biến sẵn; dù chỉ ăn từng ít một nhưng tổng lượng calo vẫn có thể vượt mức cần thiết, khiến tăng cân thay vì giảm cân.
Ngoài ra, ăn uống vô thức ngày càng phổ biến trong cuộc sống bận rộn. Nhiều người vừa ăn vừa xem điện thoại, làm việc hoặc xem phim nên dần khó nhận biết cảm giác đói thật sự, theo Times of India (Ấn Độ).
Bác sĩ Shabana Parveen, Trưởng bộ phận Dinh dưỡng Lâm sàng - Tiết chế, Bệnh viện Artemis (Ấn Độ) nói thêm, nhiều trường hợp ăn không phải vì đói mà do căng thẳng, buồn chán hoặc thói quen hằng ngày.
Mỗi lần ăn, đặc biệt là thực phẩm nhiều đường hoặc tinh bột tinh chế, đường huyết sẽ tăng lên và cơ thể tiết insulin để đưa đường vào tế bào. Vấn đề không nằm ở insulin mà ở việc hormone này liên tục ở mức cao suốt cả ngày nếu ăn quá thường xuyên.
Theo bác sĩ Parveen, insulin cao kéo dài có thể làm giảm khả năng đốt mỡ của cơ thể, từ đó dẫn đến tăng cân và tăng nguy cơ kháng insulin. Nghiên cứu từ Thư viện Y khoa Quốc gia Mỹ (thuộc NIH) cũng cho thấy việc insulin tăng cao kéo dài có liên quan đến rối loạn chuyển hóa và giảm độ nhạy insulin theo thời gian.
Các chuyên gia cho rằng hệ tiêu hóa không được thiết kế để làm việc liên tục cả ngày mà không có khoảng nghỉ. Ăn liên tục có thể khiến nhiều người cảm thấy đầy bụng, nặng nề hoặc ăn mãi vẫn không thấy thỏa mãn.
Theo bà Yadav, cơ thể cần thời gian nghỉ giữa các bữa để tiêu hóa thức ăn hiệu quả hơn. Nếu lúc nào cũng ăn, nhịp sinh học tự nhiên của cơ thể có thể bị ảnh hưởng, gây đầy hơi hoặc chán ăn.
Từ đó các chuyên gia nhấn mạnh, với nhiều người khỏe mạnh, việc ăn liên tục chỉ vì “xu hướng sống khỏe” có thể không cần thiết. Bác sĩ Parveen cho rằng điều quan trọng hơn là ăn gì và ăn bao nhiêu, thay vì chỉ tập trung vào việc ăn bao nhiêu lần trong ngày. Các bữa ăn đủ protein, chất xơ và chất béo tốt sẽ giúp no lâu hơn, giữ đường huyết ổn định và hỗ trợ sức khỏe tổng thể tốt hơn.
Những vụ ngộ độc thực phẩm liên tiếp gần đây, với không ít trường hợp là trẻ em, cho thấy kiến thức an toàn thực phẩm đóng vai trò thiết yếu, đặc biệt trong giai đoạn nắng nóng khi nguy cơ thực phẩm nhiễm khuẩn tăng cao.
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Hoàng Thạch, Phó trưởng Khoa Nhi và Hồi sức sơ sinh, Bệnh viện đa khoa An Sinh (TP.HCM), mức độ nặng hay nhẹ của ngộ độc thực phẩm không giống nhau ở mỗi người, mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Trước hết là lượng thức ăn đã dùng, ăn càng nhiều, nguy cơ diễn tiến nặng càng cao. Tình trạng sức khỏe nền và thời điểm ăn cũng tác động đến mức độ nhiễm khuẩn.
Ăn sớm khi thực phẩm mới chế biến thì lượng vi khuẩn còn ít, trong khi ăn trễ khiến vi khuẩn có thời gian “nhân lên” nhiều hơn.
Ngộ độc do vi khuẩn: Do vi khuẩn sống xâm nhập vào thức ăn như Salmonella, E. coli, hoặc độc tố của vi khuẩn sẵn có trong thức ăn như Staphylococcus aureus, Bacillus cereus; thường xuất hiện với các triệu chứng tiêu hóa ban đầu như buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau bụng. Khi diễn tiến, vi khuẩn hay độc tố xâm nhập vào ruột và máu có thể gây sốt, đại tiện ra máu. Diễn tiến nặng có thể gây mất nước, sốc, nhiễm trùng huyết.
Ngộ độc do hóa chất: Từ các hóa chất nhiễm trong thực phẩm như thuốc trừ sâu, kim loại nặng, chất tẩy rửa, phụ gia cấm (hàn the, cồn công nghiệp). Thông thường ngộ độc do hóa chất khởi phát nhanh, diễn tiến nặng, có thể gây nôn dữ dội, co giật, rối loạn ý thức kèm dấu hiệu đặc hiệu của từng loại độc tố như tăng tiết đờm dãi, co đồng tử (ngộ độc phốt pho hữu cơ).
Thời gian khởi phát có thể nhanh trong vài phút đến vài giờ nếu là hóa chất có độc tính cao. Thường nặng hơn và dễ gây tử vong nếu không xử trí kịp thời.
Ngộ độc do bảo quản kém: Đây không phải một nhóm riêng biệt mà là yếu tố nguy cơ, khiến vi khuẩn phát triển mạnh và sinh độc tố trong thức ăn, vì vậy bản chất thuộc nhóm ngộ độc do vi khuẩn. Ví dụ: Cơm để qua đêm, thức ăn nấu chín nhưng để ở nhiệt độ phòng lâu có thể nhiễm Bacillus cereus, Salmonella và Staphylococcus aureus.
Theo bác sĩ Hoàng Thạch, thời thời gian ủ bệnh là khác nhau và phụ thuộc vào tác nhân, cụ thể:
Bên cạnh đó, bác sĩ Thạch cho biết việc nhiều người cùng ăn một món ăn nhưng có người bị ngộ độc, có người lại không là rất điển hình trong các vụ ngộ độc thực phẩm, vì:
Liều nhiễm khác nhau: Người ăn nhiều thường có nguy cơ cao hơn; người ăn ít hoặc không ăn món nhiễm sẽ không bị ảnh hưởng.
Phân bố độc tố không đồng đều: Không phải tất cả suất ăn đều nhiễm độc như nhau. Một số phần có nồng độ vi khuẩn/độc tố cao hơn.
Cơ địa từng người: Thông thường trẻ nhỏ, người già, người có bệnh nền, đang dùng một số thuốc như thuốc ức chế axit dạ dày sẽ dễ nhiễm hơn.
Miễn dịch và hệ vi sinh ruột khác nhau: Người đã từng tiếp xúc với vi khuẩn/độc tố trước đó và có miễn dịch thường sẽ ngộ độc nhẹ hơn người chưa từng tiếp xúc.
“Cách xử trí ban đầu khi vừa phát hiện hoặc nghi ngộ độc thực phẩm cũng rất quan trọng mà nhiều người thường chủ quan. Người ngộ độc được can thiệp y tế sớm sẽ giúp giảm mức độ nghiêm trọng, ngược lại việc đến viện muộn hoặc tự điều trị tại nhà dễ làm tăng nguy cơ biến chứng”, bác sĩ Thạch nói thêm.