Điện thoại đặt cạnh gối, đêm nào Uzma Bashir cũng ngủ chập chờn không phải vì thức dậy để kiểm tra tin nhắn, mà vì cô sắp lấy chồng vào mùa hè này và cần theo dõi giá vàng.
“Ở Kashmir (khu vực do Ấn Độ kiểm soát), vàng không chỉ là trang sức, mà là thể diện, quyết định bạn sẽ được đối xử như thế nào tại nhà chồng”, người phụ nữ 29 tuổi, kế toán tại một công ty tư vấn ở Srinagar, thủ phủ Kashmir, trả lời phỏng vấn trong bài báo ngày 24/4 trên Al Jazeera.
Thu nhập mỗi tháng của Bashir chưa tới 100 USD. Cô đã hy vọng có thể mua trang sức cưới bằng thu nhập của chính mình để không tăng thêm gánh nặng cho cha mẹ.
Tại Nam Á, nơi tư tưởng phụ hệ vẫn chi phối các cuộc hôn nhân, vàng không chỉ là trang sức mà còn là “lá bùa hộ mệnh” của cô dâu. Nhà trai thường yêu cầu của hồi môn lớn và nếu cô dâu mang đủ vàng, cô được coi là vào nhà chồng với tư thế của một người “có giá trị”. Vì vậy, số vàng này có thể giúp người phụ nữ tránh khỏi sự quấy rối, thậm chí bạo lực từ gia đình chồng.
“Một người phụ nữ sở hữu bao nhiêu vàng thường tương đương với việc cô ấy được ‘định giá’ ra sao”, Bashir nói. “Cha mẹ tôi đã làm quá đủ cho tôi rồi. Nhưng tôi thậm chí không thể mua nổi một chiếc nhẫn. Nó tiêu tốn gần ba tháng lương của tôi”.
Giá vàng tăng lên mức cao chưa từng có trong năm nay đã giáng đòn mạnh vào việc mua sắm trang sức trên khắp Nam Á, khi kim loại quý này lên tới 5.595 USD/ounce hồi tháng 1 và đang giao dịch ở mức khoảng 4.861 USD/ounce. Khi Ấn Độ, quốc gia tiêu thụ vàng lớn thứ hai thế giới, tổ chức lễ hội Akshaya Tritiya cầu may của người Hindu cuối tuần qua, giá vàng kỳ hạn chốt phiên ở mức 1.670 USD/10 gram, cao hơn 63% so với lễ hội năm ngoái.
Hội đồng Vàng Thế giới cho biết nhu cầu trang sức vàng tại Ấn Độ năm 2025 đã giảm 24% so với năm trước.
Giá vàng tăng vọt đã ảnh hưởng tới kế hoạch cưới xin của nhiều người. Thợ kim hoàn cho hay khách hàng đang chuyển sang trang sức mạ vàng hoặc các lựa chọn thay thế sử dụng ít vàng hơn.
Những khách hàng như Uzma Bashir tìm đến loại trang sức mỹ ký “vàng một gram” – những món đồ làm từ kim loại được dát một lớp vàng 24 carat mỏng bên ngoài.
“Đối với tôi, nó giống như một chiếc phao cứu sinh”, cô nói. “Bây giờ tôi có thể đeo nó trong ngày cưới và không ai có thể chỉ trích gì cả”.
Nhiều gia đình trên khắp Nam Á đang lựa chọn loại trang sức này.
Fatima Begum sống ở Laxmi Nagar, khu dân cư lao động đông đúc ở New Delhi. Bà đi đi lại lại ở khu chợ Karol Bagh sầm uất, nơi có hàng chục cửa hàng chuyên về trang sức mỹ ký. Người mẹ 5 con này đang tìm kiếm một cửa hàng bán vàng một gram.
“Một gia đình trung lưu sống ở New Delhi thực sự có thể mua nổi bao nhiêu vàng?”, bà tự hỏi. “Con gái út của tôi sắp kết hôn và tôi đang cố gắng giảm chi phí đám cưới bằng cách thay thế trang sức vàng ròng bằng vàng một gram. Tôi cũng đã làm như vậy khi con gái lớn của tôi kết hôn”.
Fatima cho biết khi bà kết hôn năm 1996, cha đã cho bà gần 60 gram vàng, bên cạnh các món quà khác làm của hồi môn. “Ngày nay, tôi không thể cho các con gái mình dù chỉ một nửa số đó”, bà nói. “Tôi đã đưa cho chúng một số trang sức cũ của mình cùng với vài món vàng một gram, để chúng không cảm thấy xấu hổ trong đám cưới”.
Shiv Yadav, thợ kim hoàn làm việc hơn 30 năm tại trung tâm trang sức Zaveri Bazaar của Mumbai, cho biết thị trường ngày nay đang dần bị trang sức mạ vàng lấn át.
“Nếu có 10 người bước vào cửa hàng, chỉ có một người mua vàng ròng; số còn lại chuyển sang trang sức mạ vàng”, Yadav nói. “Tôi chưa bao giờ chứng kiến xu hướng dịch chuyển nào gấp gáp như vậy”.
Tại nước láng giềng Bangladesh, áp lực kinh tế tương tự đang định nghĩa lại hôn nhân. Tháng trước, giá vàng 22 carat tại Dhaka đã leo lên mức kỷ lục 2.200 USD cho 11,668 gram, theo Hiệp hội thợ kim hoàn Bangladesh.
Ở một quốc gia có thu nhập bình quân đầu người khoảng 2.600 USD, vàng đã trở thành thứ không thể mua nổi đối với đa số người dân.
“Tôi nghĩ chúng ta không thể đeo vàng một cách thoải mái như mẹ chúng ta ngày xưa nữa vì bây giờ vàng quá đắt”, Sadia Islam nói khi lướt qua các cửa hàng ở Chawkbazar, thành phố Dhaka. Đây là trung tâm buôn bán sầm uất, nơi chỉ riêng tòa tháp Hazi Selim đã có hơn 100 cửa hàng trang sức.
Chủ cửa hàng Enayet Hossain cho biết nhu cầu về trang sức mỹ ký đã tăng mạnh khi vàng trở nên quá đắt đỏ. Những món đồ nhỏ như hoa tai có giá chỉ từ 200 đến 500 taka (1,5-4 USD), trong khi các bộ lớn hơn có giá vài nghìn tùy thuộc vào thiết kế.
“Khách hàng muốn những món đồ trông giống như vàng thật nhưng giá thấp hơn nhiều và thiết kế thường đa dạng hơn trang sức truyền thống”, ông nói, cho hay nhiều sản phẩm trong cửa hàng nhập từ Ấn Độ, nơi có ngành công nghiệp trang sức mỹ ký khổng lồ.
Đối với Sadia Islam, an toàn là một lý do khác để tránh đeo vàng thật. “Nếu tôi đeo vàng thật đi đám cưới và bị mất trộm thì sao?”, cô nói. “Tôi không thể mạo hiểm như vậy được”.
Thay vào đó, cô mua trang sức mỹ ký để kết hợp với những bộ đồ được ấn định riêng cho các sự kiện gia đình. “Tôi cảm thấy an toàn hơn nhiều khi đeo chúng”, Sadia giải thích.
Tại Pakistan, các thợ kim hoàn cũng cho biết trang sức vàng nguyên chất đang ngày càng xa xỉ, chủ yếu dành riêng cho người giàu. Doanh số bán trang sức vàng nguyên chất đã giảm 50% trong năm qua. Khi giá tăng, nhiều khách hàng chuyển sang vàng có hàm lượng thấp hơn như vàng 18 hoặc 12 carat. Nhiều người cũng chuyển sang trang sức mạ vàng.
“Không phải là chúng tôi không muốn đeo vàng nguyên chất. Tất nhiên là chúng tôi muốn chứ”, Ayesha Khan nói khi cô đang mua sắm trang sức cho một đám cưới trong gia đình. “Nhưng hoàn cảnh ở Pakistan hiện nay rất khó khăn”.
Giá vàng đã lên tới 540.000 rupee Pakistan (1.938 USD) mỗi 11,668 gram. “Điều đó khiến các gia đình bình thường không thể mua trang sức theo cách mọi người vẫn làm”, Khan nói.
Đối với cô, trang sức mỹ ký giúp các gia đình duy trì hình thức cưới hỏi truyền thống mà không gặp gánh nặng tài chính. “Nó cho phép chúng tôi trông vẫn thanh lịch tại đám cưới mà không tốn cả một gia tài”, cô cho hay.
Một bộ trang sức cô dâu mạ vàng có giá từ 40.000 – 60.000 rupee Pakistan (143-215 USD). Cùng một thiết kế đó, nếu làm bằng vàng ròng, có thể tốn hàng trăm nghìn hoặc thậm chí hàng triệu rupee.
Nhưng vàng một gram không phải là giải pháp cho tất cả mọi người.
Rihanna Ashraf, 40 tuổi, lớn lên trong một gia đình nghệ nhân sống bằng nghề thêu truyền thống. Sau khi cha qua đời, cô bắt đầu nuôi mẹ góa và 4 em. Nhiều người đến cầu hôn nhưng cái kết đều giống nhau.
“Một gia đình đã đồng ý”, cô nói. “Mẹ tôi ban đầu rất vui. Nhưng khi chúng tôi gặp họ, họ yêu cầu số vàng hồi môn trị giá hơn tất cả những gì chúng tôi có. Lời cầu hôn đổ vỡ”.
Rihanna nói cô đã nghe về vàng một gram “nhưng ích lợi gì chứ? Nó không tinh khiết. Nó không đem lại cảm giác thật”.
Cô vẫn chưa kết hôn, giống như gần 50.000 phụ nữ chỉ tính riêng ở Srinagar, những người bị coi là “quá lứa lỡ thì” vì rào cản tài chính.
Nisar Ahmad Bhat, chủ một cửa hàng trang sức ở Srinagar, cho biết thái độ đối với trang sức đang bắt đầu thay đổi, khi ngày càng nhiều gia đình chỉ mua vàng cho mục đích đầu tư, trong khi sự quan tâm đến các vật thay thế mang tính biểu tượng ngày càng tăng.
“Ai cũng thích đeo vàng nhưng giá phải hợp túi tiền”, ông nói. “Vàng vẫn là vàng thôi, nhưng thay vì mua sắm ngẫu hứng như trước, người dân bắt đầu xem nó như một tài sản để dành”.
Trực thăng vũ trang AH-64E Apache Guardian của Mỹ hôm 15/5 hạ cánh khẩn cấp xuống ruộng lúa ở thành phố Pyeongtaek thuộc tỉnh Gyeonggi, cách thủ đô Seoul khoảng 65 km về phía nam. Thiếu tá Eileen Poole, phát ngôn viên Sư đoàn Bộ binh 2 lục quân Mỹ, cho biết giới chức đang điều tra nguyên nhân dẫn đến sự cố, nhưng không nêu thêm chi tiết.
Hãng thông tấn Yonhap dẫn lời cảnh sát cho biết hoạt động sửa chữa dự kiến kéo dài 2-3 ngày. Hình ảnh do truyền thông Mỹ đăng ngày 18/5 cho thấy phi cơ vẫn mắc kẹt giữa ruộng, dường như do chưa sửa chữa xong. Không có thông tin nào về sự việc được công bố sau đó.
Đây chỉ là một trong số hàng loạt sự cố mà dòng trực thăng Apache gặp phải trong những tháng gần đây. Hồi tháng 3, một chiếc AH-64E bị rơi khi đang bay huấn luyện tại căn cứ Rucker ở bang Alabama của Mỹ, khiến hai thành viên tổ bay bị thương.
Một tháng sau, một chiếc Apache phải hạ cánh khẩn xuống cánh đồng ở bang Alabama do gặp trục trặc trên không. Cũng trong tháng này, một trực thăng bị rơi tại căn cứ Hood ở bang Texas trong lúc bay nghiệm thu sau quá trình bảo dưỡng.
Loạt sự cố diễn ra giữa lúc lục quân Mỹ tìm ra vấn đề mới trong hệ thống truyền động của trực thăng Apache.
Chuyên trang quốc phòng Defense One hôm 19/5 dẫn tài liệu an toàn nội bộ được lục quân Mỹ phát hành hồi tháng 4, trong đó cho biết lực lượng này đã tiến hành cuộc điều tra và phát hiện một vài cụm truyền động chính của trực thăng Apache có thể hỏng hóc bên trong, gây mất dẫn động đến hộp số phụ, có khả năng làm cánh quạt đuôi mất lực đẩy, sập nguồn điện và thủy lực.
"Nguyên nhân gốc rễ đang được điều tra", văn bản có đoạn.
Theo tài liệu, tất cả trực thăng dòng AH-64E đều bị ảnh hưởng và lục quân Mỹ được yêu cầu ngừng vận hành những phi cơ có cụm truyền động chính bị lỗi cho đến khi nhận được thêm hướng dẫn.
Lục quân Mỹ xác nhận về cuộc điều tra, song từ chối cho biết vấn đề được phát hiện từ lúc nào và bao nhiêu trực thăng bị ảnh hưởng. "Chúng tôi đã xác định được vấn đề tiềm ẩn về hệ thống truyền động của trực thăng AH-64E và đang tích cực phối hợp với nhà sản xuất để tiến hành điều tra toàn diện nhằm xác định nguyên nhân", phát ngôn viên lục quân Mỹ cho hay.
Tuy nhiên, quan chức lục quân Mỹ từ chối xác nhận liệu các sự cố gần đây có liên quan đến vấn đề với hệ thống truyền động của dòng AH-64E hay không. "Dù đã có một số kết luận sơ bộ, chúng tôi chưa công bố những chi tiết này để tránh đồn đoán không cần thiết trong lúc cuộc điều tra đang diễn ra", phát ngôn viên cho hay.
Yonhap cho biết thông tin ban đầu từ tổ bay AH-64E cho thấy động cơ có thể đã bị quá nhiệt. Giới chức Mỹ không bình luận về thông tin, cũng như chưa rõ đây có phải hậu quả từ những vấn đề xoay quanh hệ thống truyền động hay không.
Lục quân Mỹ đang đối mặt với vấn đề ngân sách, khiến nhiều đơn vị không quân trực thuộc phải cắt giảm giờ bay và loại bỏ biến thể AH-64D, theo tài liệu nội bộ mà Defense One xem được.
"Lục quân đang thiếu gần hai tỷ USD để duy trì mức độ sẵn sàng, phần lớn do Bộ An ninh Nội địa không bồi hoàn chi phí thực hiện những nhiệm vụ hỗ trợ ở biên giới. Tôi đã nhận được báo cáo đáng lo ngại về nguy cơ hủy bỏ các đợt huấn luyện luân phiên, đình chỉ giờ bay, giảm nguồn lực dành cho Vệ binh Quốc gia và lực lượng dự bị", Thượng nghị sĩ Jack Reed nói trong cuộc điều trần tại Ủy ban Quân vụ Thượng viện Mỹ hồi tuần trước.
Theo một phi công Apache, đột ngột cắt giảm giờ bay trong lúc dòng trực thăng này đang gặp vấn đề kỹ thuật dai dẳng là điều rất nguy hiểm. "Máy bay hỏng hóc là chuyện hiển nhiên trong nghề này, song nó giống như hiệu ứng quả cầu tuyết. Theo quan điểm cá nhân của tôi, số lượng sự cố sẽ gia tăng khi giờ bay giảm xuống", người này cho hay.
Theo nhà sản xuất Boeing, trực thăng vũ trang đa nhiệm AH-64 Apache được sử dụng bởi lục quân Mỹ và 15 quốc gia khác. AH-64E là biến thể hiện đại nhất của Mỹ, từng được gọi là AH-64D Block III, được ứng dụng một số cải tiến về năng lực kết nối và phân phối thông tin, radar, cũng như trang bị động cơ mạnh hơn các mẫu cũ.
Giá xuất xưởng mỗi chiếc AH-64E khoảng 35 triệu USD. Nếu tính cả chi phí linh kiện, hỗ trợ kỹ thuật, vũ khí và huấn luyện vận hành, mỗi trực thăng AH-64E sẽ có giá lên tới 52-65 triệu USD.
Báo Wall Street Journal (WSJ) ngày 15-4 đưa tin Lầu Năm Góc đang tiếp cận các nhà sản xuất ô tô và nhiều nhà sản xuất khác ở Mỹ để kêu gọi họ sản xuất vũ khí.
Theo các nguồn thạo tin, các quan chức quốc phòng cấp cao đã tổ chức các cuộc đàm phán về việc sản xuất vũ khí và các vật tư quân sự khác với các giám đốc điều hành (CEO) của một số công ty, bao gồm bà Mary Barra - CEO của Hãng ô tô General Motors và ông Jim Farley - CEO của Hãng Ford Motor.
Lầu Năm Góc huy động các công ty nói trên sử dụng nguồn nhân lực và năng lực sản xuất để tăng cường sản xuất đạn dược và các thiết bị khác, trong bối cảnh các cuộc chiến ở Ukraine và Iran đang làm cạn kiệt vũ khí.
Theo các nguồn tin, các cuộc đàm phán vẫn còn ở giai đoạn sơ bộ và bao quát nhiều vấn đề. Các quan chức quốc phòng cho biết có thể cần các nhà sản xuất Mỹ hỗ trợ các công ty quốc phòng truyền thống, và đặt câu hỏi liệu các công ty này có thể nhanh chóng chuyển sang lĩnh vực quốc phòng hay không.
Công ty linh kiện máy bay GE Aerospace và nhà sản xuất xe máy chuyên dùng Oshkosh cũng tham gia cuộc đàm phán nói trên.
Một quan chức Lầu Năm Góc cho biết Bộ Chiến tranh “cam kết nhanh chóng mở rộng cơ sở công nghiệp quốc phòng bằng cách tận dụng tất cả các giải pháp và công nghệ thương mại hiện có để đảm bảo lực lượng chiến đấu của Mỹ duy trì lợi thế quyết định”.
Báo WSJ dẫn các nguồn tin cho biết những cuộc đàm phán đã bắt đầu trước khi chiến tranh ở Iran nổ ra. Việc xung đột gây áp lực lên kho dự trữ đạn dược của Mỹ càng cho thấy quân đội cần thêm các đối tác thương mại để nhanh chóng tăng cường nguồn cung cấp đạn dược và trang thiết bị chiến thuật, chẳng hạn như tên lửa và công nghệ chống máy bay không người lái (drone).
Theo nguồn tin, các quan chức đã hỏi liệu các công ty có thể hỗ trợ gì trong nỗ lực tăng cường năng lực sản xuất trong nước của Lầu Năm Góc. Họ cũng yêu cầu các CEO xác định những rào cản đối với việc đảm nhận thêm các dự án quốc phòng, từ các yêu cầu hợp đồng đến những khó khăn trong quá trình đấu thầu.
Eo biển Hormuz vẫn gần như trong tình trạng tắc nghẽn lưu thông. Có rất nhiều điều khiến các thuyền trưởng lo ngại khi phải vượt qua khu vực này: UAV, tên lửa, xuồng cao tốc, thủy lôi.
Nhưng giờ đây, khu vực xuất hiện thêm một mối đe dọa mới: tàu ngầm mini Ghadir. Chuẩn đô đốc Shahram Irani, Tư lệnh Hải quân Cộng hòa Hồi giáo Iran (IRIN), gần đây gọi chúng là “những chú cá heo của vịnh Ba Tư” và cho biết chúng hiện đã được triển khai. Các tàu này thuộc IRIN, hải quân chính quy, chứ không phải Hải quân Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGCN), lực lượng kiểm soát các xuồng tấn công cao tốc mặt nước.
Dù chúng thực sự đã được triển khai hay chưa thì hiệu ứng răn đe vẫn như nhau. Iran sở hữu khoảng 20 tàu ngầm diesel - điện cỡ nhỏ loại này. Chúng nhỏ hơn nhiều so với tàu ngầm thông thường: dài 29m, lượng giãn nước khoảng 150 tấn và thủy thủ đoàn chỉ có 7 người. Chúng có thể hoạt động tuần tra trên biển từ 7-10 ngày, thậm chí lâu hơn nếu nằm im dưới đáy biển và tắt phần lớn hệ thống.
Ghadir được trang bị 2 ngư lôi hạng nặng cùng thủy lôi. Nếu khai hỏa, nó có thể sẽ đánh chìm được mục tiêu. Điều này không giống UAV hay tên lửa vốn thường chỉ gây hư hại, hoặc xuồng tấn công nhanh chỉ gây cháy, hay thủy lôi bám thân tàu chỉ tạo lỗ thủng; các quả ngư lôi này có thể bẻ gãy thân tàu và kéo nó xuống đáy biển.
Theo cựu sĩ quan Anh Tom Sharpe, người từng hoạt động tại vịnh Oman khi tại ngũ, các tàu ngầm mini của Iran phối hợp rất chặt chẽ với nhau, chứ không hoạt động đơn lẻ.
Dù có thể lặn như tàu ngầm thông thường và hoạt động ở độ sâu kính tiềm vọng với ống thông hơi nổi lên để chạy động cơ diesel sạc pin, chúng dành phần lớn thời gian ở ngay dưới mặt nước, gần như hoạt động như tàu bán chìm.
Trong trạng thái này, chúng vẫn có thể chạy động cơ diesel bình thường trong khi độ ồn âm thanh cực thấp. Tín hiệu sóng âm phản xạ (sonar) của chúng rất nhỏ và lớp sơn lại cùng màu với mặt nước. Việc một phần thân nổi lên khiến chúng dễ bị radar phát hiện hơn, đặc biệt từ trên không, nhưng tín hiệu này vẫn rất nhỏ.
Việc hạ một tàu ngầm mini như vậy trên biển không dễ dàng vì mục tiêu quá nhỏ, khiến xảy ra khả năng ngư lôi đối thủ bị chệch hướng rất cao.
Giống mọi tàu ngầm không dùng năng lượng hạt nhân khác, tàu Iran có những hạn chế khi cơ động vào vị trí tấn công. Chúng đi càng nhanh thì càng ồn, tiêu hao pin càng lớn và phải nổi lên để sạc pin thường xuyên hơn. Tất cả những điều này làm tăng mức độ dễ bị phát hiện.
Mặt khác, chúng có một chân vịt đặc biệt dễ nhận thấy trên thân tàu, cho phép lơ lửng gần như không gây tiếng động theo dòng chảy tại tuyến phân luồng giao thông Hormuz.
Giới quan sát đưa ra giả định rằng các tàu ngầm mini này có thể hoạt động trong vùng nước rất nông ngoài khơi Oman. Các tàu ngầm mini có thể ngồi chờ mục tiêu tự tiến tới, từ đó khắc phục điểm yếu lớn nhất của tàu ngầm phi hạt nhân: tốc độ dưới nước không duy trì được lâu.
Mối đe dọa từ những tàu này tạo ra sức mạnh răn đe cho Iran vì nếu đối thủ không chắc chắn liệu chúng có hiện diện hay không, họ sẽ không thể chấp nhận rủi ro để di chuyển vào khu vực này. Điều đó có thể khiến cho một hải quân mạnh áp đảo so với Iran phải suy nghĩ kỹ nếu thực sự muốn di chuyển qua Hormuz.