Hôm 24/4, Intel công bố dự kiến doanh thu quý II đạt 13,8-14,8 tỷ USD, cao hơn kỳ vọng của Phố Wall (13,07 tỷ USD), theo dữ liệu từ LSEG. Dự báo lợi nhuận điều chỉnh trên mỗi cổ phiếu quý này là 20 cent, vượt xa mức kỳ vọng 9 cent.
Sau thông tin, cổ phiếu Intel tăng vọt 19% trong giao dịch ngoài giờ, giúp vốn hóa thị trường tăng thêm 64 tỷ USD và nối dài đà phục hồi. Đầu năm đến nay, mã này tăng khoảng 70%, đưa vốn hóa công ty lên trên 335 tỷ USD.
Sau nhiều năm mất chỗ đứng trong ngành công nghiệp trí tuệ nhân tạo (AI) do quản lý yếu kém, tượng đài sản xuất chip một thời của Mỹ đã dần thấy triển vọng vực dậy, từ khi Giám đốc điều hành Lip-Bu Tan triển khai kế hoạch phục hồi thông qua việc bán tài sản và cắt giảm nhân sự.
Dù bỏ lỡ những năm đầu của làn sóng AI, cơ hội mới đã xuất hiện khi nhu cầu bộ xử lý trung tâm (CPU) tiên tiến gia tăng. Quý I, doanh thu từ mảng trung tâm dữ liệu và AI đạt 5,1 tỷ USD, cao hơn mức ước tính 4,41 tỷ USD.
Ông Tan đồng thời mang về được các cam kết đầu tư và thỏa thuận lớn với chính phủ Mỹ, SoftBank và Nvidia, cung cấp nguồn lực cần thiết để Intel sản xuất và củng cố niềm tin của nhà đầu tư. Họp với các nhà đầu tư tuần qua, ông cho biết nhu cầu CPU đang bùng nổ trong các trung tâm dữ liệu. Đầu tháng này, Intel đã mở rộng hợp tác CPU AI với Alphabet.
“CPU đang khẳng định lại vị thế là nền tảng không thể thiếu của kỷ nguyên AI”. Đây không chỉ suy nghĩ của chúng tôi mà còn là những gì nghe được từ khách hàng”, ông nói.
Trong khi bộ xử lý đồ họa (GPU) được dùng để xử lý các phép toán quy mô lớn nhằm tạo nội dung, CPU lại phù hợp hơn với công việc suy luận của “tác nhân AI (AI Agent). Tác nhân AI là loại AI là hệ thống trí tuệ nhân tạo có khả năng hoạt động tự động và ra quyết định dựa trên các mục tiêu cụ thể do con người đặt ra, thay vì chỉ trả lời câu hỏi hoặc tạo nội dung.
Đáng chú ý, mảng sản xuất của Intel vừa giành được hợp đồng từ Tesla. Hãng xe điện của tỷ phú Elon Musk trở thành khách hàng lớn đầu tiên của quy trình sản xuất chip thế hệ mới 14A cho dự án Terafab – một tổ hợp chip AI tiên tiến phục vụ robot và trung tâm dữ liệu tại Austin, Texas.
Đây được xem là một “thắng lợi lớn”, theo Reuters. “Elon và tôi cùng chia sẻ niềm tin mạnh mẽ rằng nguồn cung chất bán dẫn toàn cầu không theo kịp sự gia tăng nhanh chóng về nhu cầu”, ông Tan, cho biết.
Ông đồng thời tiết lộ hai công ty đang “tìm kiếm những cách thức phi truyền thống để cải thiện hiệu quả sản xuất”. CEO Tesla Elon Musk nói quy trình 14A vẫn đang được Intel phát triển nhưng “vào thời điểm Terafab mở rộng quy mô, 14A có lẽ sẽ khá hoàn thiện hoặc sẵn sàng cho việc sử dụng rộng rãi”.
Vào quý I, doanh thu của Intel đạt 13,58 tỷ USD, vượt ước tính 12,42 tỷ USD, một phần nhờ giải phóng được lượng chip cũ và hiệu suất kém còn tồn kho. “Chúng tôi đã rà soát và tìm ra cơ hội bán những sản phẩm mà trước đây nghĩ rằng không thể tiêu thụ được”, Giám đốc tài chính David Zinsner, giải thích.
Mảng sản xuất theo hợp đồng (foundry) của Intel ghi nhận doanh thu 5,4 tỷ USD. Trong khi, mảng sản xuất chip tùy chỉnh (ASIC) đang trên đà đạt doanh thu hơn 1 tỷ USD trong năm nay, theo ông Zinsner.
Việc Intel tập trung trở lại vào sản xuất chip cho các công ty khác bắt đầu khi ông Pat Gelsinger lên nắm quyền CEO năm 2021. Ông Gelsinger bị buộc thôi việc năm 2024 và được thay thế bởi ông Lip-Bu Tan vào đầu 2025.
Để vực dậy công ty, CEO mới quyết định cắt giảm 15% lực lượng lao động vào tháng 7 và hủy bỏ các dự án nhà máy sản xuất chip ở Đức và Ba Lan. Tại Ohio, dự án nhà máy sản xuất chip mới bị lùi tiến độ đến năm 2030. Ông Tan đánh giá vài năm qua, Intel đã “đầu tư quá nhiều, quá sớm mà không đủ nhu cầu” từ thị trường.
Dù có cơ hội tìm lại hào quang, tương lai của Intel vẫn không dễ dàng. Thực tế, đến quý I, công ty vẫn đang thua lỗ, ở mức 4,28 tỷ USD. Theo Michael Schulman, chuyên gia tại Cerity Partners, triển vọng dài hạn của Intel vẫn là “một canh bạc lớn”, phụ thuộc vào khả năng chuyển đổi từ gã khổng lồ truyền thống thành đối thủ linh hoạt trong lĩnh vực foundry, khi cạnh tranh trực tiếp với TSMC.
Còn trong mảng CPU, cạnh tranh vẫn rất khốc liệt, do các đối thủ như Nvidia, Advanced Micro Devices và Arm cũng nhắm đến thị trường này và liên tục tung ra sản phẩm mới. Giới phân tích cho rằng khả năng đáp ứng nhu cầu CPU của Intel vẫn phụ thuộc vào việc công ty có thể tiếp tục sản xuất bộ xử lý ở quy mô lớn mà không gặp tắc nghẽn hay vấn đề chuỗi cung ứng hay không.
“Nếu Intel thành công trong việc đáp ứng nhu cầu chip cho làn sóng robot và tác nhân AI sắp tới, mức định giá hiện tại có thể được xem là hấp dẫn đối với một tập đoàn bán dẫn đa dạng”, ông Michael Schulman nhận định.
Điều này đồng nghĩa những giao dịch trên mức 500 triệu đồng có thể mất vài giờ hoặc phải chờ ngày làm việc kế tiếp để xử lý.
Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) mới đây thông báo dừng tính năng "tự động chia nhỏ lệnh" trên nền tảng ngân hàng số, nhằm tuân thủ quy định mới tại Thông tư 40/2024 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Theo thông báo, kể từ ngày 21-4, các giao dịch chuyển khoản liên ngân hàng có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên sẽ không còn được hệ thống tự động chia nhỏ để thực hiện qua kênh chuyển tiền nhanh Napas 24/7.
Thay vào đó, những giao dịch giá trị lớn sẽ được xử lý theo luồng chuyển khoản thường phù hợp với quy định hiện hành.
Trước đây, hệ thống chuyển tiền nhanh Napas 24/7 áp dụng hạn mức tối đa dưới 500 triệu đồng cho mỗi giao dịch. Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu chuyển tiền giá trị lớn của khách hàng, nhiều ngân hàng đã triển khai giải pháp kỹ thuật cho phép tự động tách một giao dịch trên 500 triệu đồng thành nhiều lệnh nhỏ hơn, mỗi lệnh dưới ngưỡng quy định.
Nhờ cơ chế này, tiền vẫn có thể được chuyển gần như ngay lập tức kể cả ngoài giờ hành chính. Sau thời điểm 21-4, cơ chế này sẽ bị dừng hoàn toàn.
Nếu cần chuyển nhanh, khách hàng sẽ phải thực hiện nhiều giao dịch riêng, mỗi giao dịch có giá trị dưới 500 triệu đồng.
Không chỉ Eximbank, TPBank, VPBank cũng phát đi thông báo tương tự. Đồng thời khuyến cáo khách hàng nếu vẫn muốn chuyển nhanh các khoản tiền lớn sẽ phải chủ động chia thành nhiều giao dịch riêng biệt, mỗi giao dịch dưới 500 triệu đồng để tiếp tục sử dụng kênh 24/7.
Theo các chuyên gia, việc "làm chậm" các giao dịch giá trị lớn ngoài mục tiêu kiểm soát dòng tiền, tăng minh bạch còn nhằm hạn chế rủi ro, ngăn các vụ trộm tiền trong tài khoản lớn như đã từng xảy ra thời gian qua.
Trước đó từ ngày 1-7-2024, theo Quyết định 2345 của Ngân hàng Nhà nước, các giao dịch chuyển tiền trực tuyến trên 10 triệu đồng/lần hoặc tổng hơn 20 triệu đồng/ngày, nạp ví điện tử trên 10 triệu đồng/ngày buộc phải xác thực sinh trắc học bằng khuôn mặt qua ứng dụng ngân hàng.
Mục đích của quy định này là nhằm tăng cường bảo mật, phòng chống gian lận và xác thực chính chủ.
Ngoài ra, hệ thống Thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO) đã được triển khai tại 149 đơn vị, bao gồm 99 tổ chức tín dụng và 50 tổ chức trung gian thanh toán.
Không chỉ dừng ở vai trò tập trung dữ liệu, hệ thống còn hỗ trợ cảnh báo trực tiếp tới khách hàng khi phát sinh giao dịch có dấu hiệu rủi ro. Tính đến cuối tháng 3, đã có 3,5 triệu lượt cảnh báo được gửi đi, trong đó hơn 1,1 triệu lượt khách hàng đã chủ động tạm dừng hoặc hủy giao dịch sau khi nhận được cảnh báo.
Tổng giá trị các giao dịch được ngăn chặn hoặc gián đoạn nhờ cơ chế này lên tới hơn 3.990 tỉ đồng, cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc giảm thiểu thiệt hại từ gian lận trực tuyến.
Tôi đồng tình với ý kiến của ông Ju Liang ở Đại học Vân Nam trong bài "Kho lạnh bảo vệ nông dân" (Tuổi Trẻ ngày 27-4), thủ phạm lại là một mắt xích tưởng khô khan: kho lạnh tại nguồn.
Nông sản Việt Nam có một nghịch lý đau lòng. Chúng ta đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu thanh long, sầu riêng, cà phê, hồ tiêu; xuất khẩu rau quả năm 2025 đạt khoảng 8,5 tỉ USD.
Nhưng giá trị thu về mỗi ha canh tác vẫn thấp hơn Thái Lan, thua xa Chile hay New Zealand ở cùng nhóm sản phẩm. Vì sao? Phần lớn câu trả lời nằm ở 24 giờ đầu tiên sau thu hoạch - khoảng thời gian mà trái cây, rau củ bắt đầu "chết" sinh học nếu không được hạ nhiệt kịp thời.
Con số gây sốc: tỉ lệ tổn thất sau thu hoạch của ngành rau quả Việt Nam ở mức 20 - 40% tùy mặt hàng, theo báo cáo của Hiệp hội Rau quả Việt Nam tại Hội nghị xúc tiến thương mại tháng 6-2025. Tính ra thiệt hại kinh tế lên tới 3,5 - 4,1 tỉ USD mỗi năm - một khoản "thuế tàng hình" mà ngành nông nghiệp đang âm thầm trả.
Trong khi đó toàn quốc hiện chỉ có khoảng 117 kho lạnh chuyên nghiệp. Tới 90% trong số đó phục vụ đông lạnh sâu cho thủy sản và thịt. Kho mát chuyên dụng (0 - 15oC) cho trái cây tươi - vốn là trái tim của chuỗi giá trị nông sản xuất khẩu - gần như là khoảng trống trên bản đồ hạ tầng.
Hệ quả là người nông dân buộc phải bán ngay, bán vội. Mỗi đợt "được mùa rớt giá" lại có kêu gọi "giải cứu". Nhưng "giải cứu" là dấu hiệu của một chuỗi cung ứng không có vùng đệm.
Trong kinh tế học vận trù, kho lạnh cho phép nông dân và hợp tác xã giữ hàng lại 3 - 7 ngày - đủ để thương lượng, đủ để đón sóng giá, khớp đơn xuất khẩu. Không có vùng đệm, bên bán mất quyền thương lượng. Đó là "lời nguyền vỉa hè": nông sản chín cây, đồng hồ sinh học đếm ngược từng giờ, và người mua nắm thế thượng phong.
Bài học từ Chile và Nam Phi về táo, nho và cam rất đáng suy ngẫm. Họ không xuất khẩu theo mùa vụ tự nhiên. Họ xuất khẩu theo nhịp điệu do chính họ thiết kế, nhờ hệ thống kho lạnh điều tiết từ trang trại ra cảng. Khi người bán kiểm soát được nhịp độ, quyền định giá tự khắc chuyển dịch.
Thái Lan không vượt Việt Nam về diện tích canh tác trái cây, nhưng vượt xa về giá trị xuất khẩu trên mỗi tấn. Bí quyết nằm ở mô hình các trạm sơ chế và kho mát đặt ngay tại vùng trồng.
Sầu riêng Monthong hái xong được đưa vào buồng tiền làm lạnh trong vài giờ rồi phân loại theo chuẩn xuất khẩu tại chỗ. Chuỗi này không chỉ giữ được phẩm cấp mà còn cho phép Thái Lan truy xuất nguồn gốc đến từng lô hàng - điều kiện sống còn để chinh phục các thị trường khắt khe.
Ấn Độ theo hướng khác. Chương trình Mega Food Parks và các gói tín dụng thuộc Bộ Công nghiệp chế biến thực phẩm hỗ trợ 35 - 50% chi phí đầu tư hạ tầng chuỗi lạnh cho doanh nghiệp nội.
Với vùng như đông bắc Ấn và vùng xa, mức hỗ trợ có thể tới 75%. Cơ chế rõ ràng: Nhà nước không làm kho, nhưng "kích" dòng vốn tư nhân chảy vào khu vực nông thôn - nơi vốn không đủ hấp dẫn với logic thị trường thuần túy.
Trung Quốc thì đi xa hơn nữa. Chỉ riêng một huyện Chu Chí (Thiểm Tây) đã có tới 3.000 kho lạnh phục vụ vùng táo - nhiều hơn tổng số kho lạnh chuyên nghiệp của cả Việt Nam gấp hàng chục lần.
Thứ nhất, Việt Nam cần quy hoạch quỹ đất logistics chuyên biệt tại các vùng trồng trọng điểm - Đồng bằng sông Cửu Long cho trái cây, Tây Nguyên cho cà phê và bơ, Đông Nam Bộ cho rau quả xuất khẩu. Đất cho kho lạnh phải nằm trong quy hoạch hạ tầng nông nghiệp - logistics tích hợp, không bị đẩy sang nhóm "đất thương mại dịch vụ" với giá thuê phi lý khiến bài toán đầu tư vỡ trận ngay từ đầu.
Thứ hai, và là sống còn nhất: giá điện. Kho lạnh tiêu thụ điện gấp 4 - 6 lần kho thường trên cùng diện tích. Nếu ngành sản xuất có giá điện ưu đãi, không có lý do gì hạ tầng cold chain phục vụ nông nghiệp - ngành trực tiếp tạo sinh kế cho hơn 30 triệu người - lại bị áp giá điện kinh doanh. Đây là sự công bằng chính sách.
Thứ ba, tiếp cận vốn. Một gói tín dụng chuyên biệt cho hạ tầng chuỗi lạnh, với lãi suất và thời hạn phù hợp chu kỳ hoàn vốn 7 - 10 năm, hoàn toàn khả thi nếu có sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các ngân hàng thương mại. Mô hình bảo lãnh tín dụng qua Quỹ Bảo lãnh doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được sử dụng.
Mất một vụ mùa, nông dân thiệt một năm. Mất một thập kỷ không đầu tư kho lạnh tại nguồn, ngành nông sản Việt mất quyền định giá cả một thế hệ. Với 3,5 - 4,1 tỉ USD tổn thất mỗi năm, chúng ta đang trả cho sự trì hoãn một cái giá đủ để xây dựng một hệ thống kho lạnh tại nguồn hoàn chỉnh trên cả nước chỉ trong vòng 5 năm.
Theo đó, thực hiện quy định lộ trình áp dụng tỉ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam, để đảm bảo việc thực hiện lộ trình xăng sinh học E10 được đồng bộ, hiệu quả, tránh chậm trễ hoặc gián đoạn nguồn cung, ảnh hưởng đến thị trường, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đã đưa ra các yêu cầu cụ thể.
Theo đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao ý thức chấp hành lộ trình chuyển đổi xăng E10 của doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, phổ biến rộng rãi tính an toàn, lợi ích của xăng sinh học E10 để tạo sự đồng thuận với người tiêu dùng.
Sở cũng được yêu cầu nhắc nhở, giám sát chặt chẽ các cửa hàng bán lẻ xăng dầu trên địa bàn khẩn trương hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, bồn bể, trụ bơm để chuyển đổi sang kinh doanh xăng sinh học E10 đúng lộ trình quy định.
Các cửa hàng bán lẻ nghiêm túc thực hiện việc chuyển đổi sang kinh doanh xăng E10 kể từ ngày 1-6-2026, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng trì hoãn hoặc gián đoạn nguồn cung.
Cùng đó, từ ngày 1-6, lực lượng quản lý thị trường sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra các cửa hàng bán lẻ xăng dầu trên địa bàn. Kiên quyết xử lý các hành vi kinh doanh không đúng chủng loại theo lộ trình.
Các hành vi găm hàng, tạo khan hiếm nguồn cung hoặc tự ý ngừng bán hàng không có lý do chính đáng hoặc có biểu hiện đầu cơ, tăng giá bất hợp lý và các vi phạm pháp luật khác cũng sẽ bị kiểm tra, xử lý.
Đáng chú ý, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước yêu cầu lực lượng quản lý thị trường các cấp, công chức được phân công phụ trách địa bàn phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra tình trạng cửa hàng bán lẻ xăng dầu không chấp hành lộ trình chuyển đổi hoặc để xảy ra vi phạm nghiêm trọng hoặc diễn biến phức tạp kéo dài, làm mất ổn định thị trường xăng dầu trên địa bàn quản lý mà không kịp thời phát hiện, xử lý.
Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước cũng đề nghị các địa phương phối hợp chặt chẽ để bảo đảm việc triển khai xăng sinh học E10 diễn ra đồng bộ, thông suốt trên phạm vi cả nước.
Theo thông tin từ Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), hệ thống cửa hàng xăng dầu của Petrolimex đã kinh doanh xăng E10 từ cuối tháng 4. Đến ngày 15-5 đạt độ phủ khoảng 80% số cửa hàng và dự kiến hoàn thành việc chuyển đổi sang kinh doanh xăng E10 vào ngày 20-5.
Đánh giá thực tiễn sau thời gian hơn 8 tháng bán xăng E10 tại TP.HCM, thị trường chưa ghi nhận bất kỳ sự cố hay phản ánh nào từ người tiêu dùng liên quan đến chất lượng. Sản lượng tiêu thụ trong thời gian thí điểm xăng E10 đã tăng khoảng 40% so với thời điểm ban đầu. Trong thời gian gần đây, sản lượng kinh doanh xăng E10 đang ở mức 3.000 - 4.000m3/ngày.
Trong khi đó, từ ngày 15-5, hệ thống cây xăng của Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) bắt đầu dừng bán xăng khoáng RON95-III tại hệ thống cửa hàng bán lẻ và triển khai bán xăng E10. Hiện nay tổng công suất pha chế E10 của PVOIL đạt gần 4 triệu m³/năm, sẵn sàng cung ứng cho toàn hệ thống và các đơn vị khác nếu có nhu cầu.
Công tác chuẩn bị cho việc triển khai kinh doanh xăng E10 trên toàn quốc đã được hoàn tất, từ hạ tầng pha chế, tồn trữ, vận chuyển đến hệ thống phân phối và phương án đảm bảo nguồn cung nguyên liệu phục vụ pha chế cho gần 1.000 cửa hàng xăng dầu PVOIL.