Hơn 172.000, đó là số lượng thí sinh đăng ký thi đánh giá năng lực (V-ACT) đợt 2 của ĐH Quốc gia TP.HCM theo thống kê do ĐH này công bố hôm 26.4. Mức này không chỉ lập kỷ lục đông nhất sau 8 năm tổ chức mà còn đánh dấu lần đầu tiên số thí sinh thi đợt 2 cao hơn cả đợt 1. Trong số đó, có hơn 82% từng tham gia đợt 1, đặt ra yêu cầu về một phương pháp ôn tập và làm bài hiệu quả để cải thiện điểm số.
Đạt tổng điểm 1.063 đợt 1, trong đó điểm tiếng Anh và toán đạt mức tối đa 300/300, Nguyễn Huy Khang, học sinh Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa (TP.HCM), cho biết điều quan trọng nhất là vững kiến thức nền tảng. Với môn toán, câu hỏi sẽ không đánh đố mà chủ yếu xoay quanh dạng bài quen thuộc. Còn với tiếng Anh, cần hiểu rõ các thì (tenses) và cấu trúc câu (sentence structures) như câu điều kiện, câu tường thuật…
Với phần thi tiếng Việt, Khang cho rằng cần nắm chắc đặc trưng thể loại, phương thức biểu đạt… và nhất là chính tả, cách dùng từ. Trong khi đó ở nội dung tư duy khoa học, việc nằm lòng một số kiến thức nền của các môn – dù không theo học – vẫn mang lại lợi thế lớn, nhất là ở nhóm khoa học xã hội. Tuy nhiên, các bạn vẫn có thể suy luận đáp án dựa trên dữ kiện đề cho, đặc biệt ở nhóm khoa học tự nhiên, nam sinh nói thêm.
Về 2 phần thi không có trong chương trình phổ thông là tư duy logic và phân tích số liệu, Khang kể chủ yếu tự ôn bằng cách “cày đề” vì các câu hỏi thường “có tính lặp lại cấu trúc”. “Mình sẽ tham khảo đề mô phỏng hoặc phục dựng để làm quen dạng bài”, Khang nói. Qua quá trình ôn luyện, nam sinh rèn được thói quen đọc nhanh và lọc ý chính đồng thời tự thiết kế một số ký hiệu riêng khi giải đề để tiết kiệm thời gian.
“Quan trọng nhất ở tất cả các phần là sau mỗi lần trả lời chưa chính xác, mình đều xem lại thật kỹ để hiểu sai chỗ nào và rút kinh nghiệm”, Khang nói.
Chung quan điểm, Phan Đức Huy, học cùng trường với Khang và từng đạt tổng điểm 1.005, cho biết chưa từng đặt nhiều thời gian ôn luyện V-ACT, vì mục tiêu của nam sinh là kỳ thi đánh giá năng lực chuyên biệt của Trường ĐH Sư phạm TP.HCM. Thành tích trên của Huy, vì thế, được nam sinh cho là tới từ việc học đều các môn và cách học “trial and error” – tức làm sai, thử lại và ghi nhớ những lỗi điển hình cần tránh – lặp đi lặp lại với từng dạng bài.
“Mình thi V-ACT khá nhẹ nhàng vì tất cả đều là kiến thức đã học”, Huy chia sẻ. “Môn toán chỉ có một số câu nâng cao và khó với cả người từng thi học sinh giỏi toán như mình, song các câu còn lại chỉ cần quen dạng là làm được. Còn phần tư duy khoa học sẽ dựa nhiều vào việc các bạn có đọc hiểu được văn bản và tận dụng được những công thức, thông tin đề đã cho hay chưa”.
Đó là nguyên nhân Huy tin rằng trong thời gian tới, thí sinh nên tập trung cải thiện năng lực toán học, sau đó là tiếng Anh. Điều không nên làm là dành quá nhiều thời gian để học các môn như sử, địa, giáo dục kinh tế và pháp luật – vốn chỉ chiếm 3 câu/môn học trong phần thi tư duy khoa học.
Riêng với nội dung tư duy logic, phân tích số liệu, nam sinh chia sẻ nó có phần tương đồng với đề vào lớp 6 Trường THCS-THPT Trần Đại Nghĩa (TP.HCM) mà Huy từng tham dự – chỉ khác ở chỗ “có độ khó lớp 12”. “Cách ôn tập tốt nhất là giải đề tới khi tìm ra một hướng đi chung phù hợp với mình”, Huy cho hay.
Tập trung vào luyện đề cũng là điều cần làm. Khi giải đề, thí sinh cần bấm giờ như thi thật để rèn tốc độ, khả năng phân bổ thời gian, đồng thời tinh chỉnh chiến thuật làm bài sao cho phù hợp với bản thân nhất. Sau mỗi lần giải, đây cũng là cơ hội để thí sinh phân tích nguyên nhân những sai sót – do thiếu kiến thức, chưa suy luận đúng hay chỉ đơn thuần vì bất cẩn – để rút kinh nghiệm và tránh lặp lại.
Việc luyện đề cũng giúp thí sinh quen với áp lực thi thật, nhất là khi các bạn phải dành 150 phút để giải 120 câu hỏi, tức mỗi câu chỉ có khoảng 75 giây để giải quyết, theo Đặng Phạm Quốc Cường, học sinh Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn (TP.HCM) từng đạt 1.003 điểm. “Mỗi tuần, mình giải từ 2-3 đề”, Cường nói thêm.
Sau quá trình luyện đề, thí sinh sẽ dần hình thành nên chiến thuật làm bài của riêng mình – song có thể không hữu ích với tất cả mà cần sự điều chỉnh phù hợp với bản thân. Với Quốc Cường, đó là ưu tiên những phần thi sở đoản trước và giới hạn thời lượng làm bài nhất định – ở trường hợp của nam sinh là hai phần tiếng Việt, tiếng Anh với tối đa 20 phút/phần. Đồng thời, nam sinh ưu tiên làm câu dễ trước, câu khó sau và nếu quá khó thì để dành lại.
80 phút tiếp theo, Cường nói dành cho phần toán và tư duy khoa học, và 30 phút cuối cùng hoàn thành những câu khó nam sinh đã đánh dấu trước đó trong đề thi.
“Chiến thuật này giúp mình tránh ‘chôn’ thời gian vào những câu hỏi quá khó đồng thời có thể phân bổ thời gian hợp lý cho từng phần thi, tránh tình huống nhiều bạn mắc phải là bắt buộc phải đánh bừa toàn bộ phần thi nào đó dù dễ hay khó. Chiến thuật này cũng giúp mình tăng xác suất trả lời tối đa số câu hỏi trong khả năng của bản thân mà không phụ thuộc quá nhiều vào những câu lụi”, Cường lý giải.
Trong khi đó, Đức Huy ưu tiên thứ tự phần thi theo thời lượng giải bài. Nam sinh làm tiếng Việt, tiếng Anh trước, sau đó tới tư duy khoa học, cuối cùng mới là toán, phần thi mà “dành hết cả 150 phút có khi cũng không xong”. Bên cạnh đó, làm câu nào Huy tô ngay vào phiếu trả lời trắc nghiệm câu ấy, và xong phần nào là kết thúc phần ấy, tiếp tục di chuyển tới phần tiếp theo chứ không quay trở lại – dù trong phần đó có gặp câu khó đi chăng nữa.
Theo Huy, sở dĩ chọn cách này là bởi não bộ sẽ tư duy chậm hơn nếu thí sinh cứ “nhảy qua nhảy lại” các nội dung kiến thức khác nhau, như từ toán đến ngôn ngữ rồi lại về toán. “Cho nên dù không giải được, hãy cứ đánh lụi và làm phần tiếp theo”, Huy nói.
Ngoài ra, việc đề thi dài khoảng 6 trang giấy A3 và phòng thi có đủ loại thí sinh cũng khiến các bạn có thể rơi vào ngột ngạt, bất an. Điều cần làm, chính là rèn tâm lý phòng thi và học cách “làm bài như một cái máy”, thay vì cứ mải độc thoại nội tâm, “Sao mình kém cỏi quá” khi đứng trước câu hỏi khó. “Hãy luôn tự nhủ rằng mình phải tiếp tục bước đi”, Huy nói.
Trong khi đó, Huy Khang chọn phân bổ thời gian theo từng nhóm câu hỏi. Với những câu lý thuyết, Khang dành tối đa 30 giây/câu vì dạng này nếu học rồi là biết ngay, còn nếu chưa học thì hầu như không trả lời được. Với nhóm câu đọc hiểu, thời gian là khoảng 1 phút/câu, còn với các câu tính toán, thời gian linh hoạt hơn tùy mức độ song tối đa là 5 phút cho một câu vận dụng cao.
Riêng phần tư duy logic và phân tích số liệu, nam sinh thường dành tối đa 10 phút cho mỗi nhóm câu nhỏ. “Nếu vượt thời gian mà vẫn chưa tìm thấy hướng giải rõ ràng, mình sẽ chọn phương án có vẻ hợp lý, đánh dấu lại rồi chuyển sang câu khác để tránh mất thời gian cũng như giữ tâm lý ổn định, rồi sẽ quay lại xử lý sau”, Khang chia sẻ.
Chiều nay 4.6, Bộ GD-ĐT đã đăng tải dự thảo thông tư ban hành quy chế đào tạo trình độ đại học. Đáng chú ý, trong dự thảo lần đầu tiên xuất hiện các quy định về sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), yêu cầu việc dùng AI ở đại học phải đảm bảo liêm chính học thuật.
Cụ thể, dự thảo khẳng định AI được sử dụng nhằm hỗ trợ nâng cao chất lượng dạy và học, nhưng không thay thế vai trò của giảng viên và năng lực học tập độc lập của sinh viên. Việc ứng dụng AI phải bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong đánh giá, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền sở hữu trí tuệ và liêm chính học thuật.
Cùng với đó, dự thảo tiếp tục hoàn thiện các quy định về đào tạo từ xa, đào tạo kết hợp giữa trực tiếp và từ xa, giáo dục đại học số, văn bằng số và các điều kiện bảo đảm chất lượng trong môi trường số. Một nguyên tắc xuyên suốt được đặt ra là chất lượng đào tạo phải được bảo đảm không phụ thuộc vào hình thức đào tạo, phương thức tổ chức đào tạo hay công nghệ được sử dụng.
Theo Bộ GD-ĐT, những quy định này tạo cơ sở để các cơ sở giáo dục đại học khai thác hiệu quả các công nghệ mới, thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục đại học, đồng thời hạn chế các rủi ro liên quan đến gian lận học thuật, vi phạm bản quyền hoặc lạm dụng AI trong học tập và nghiên cứu.
Một trong những điểm mới quan trọng khác của dự thảo là mở rộng cơ chế công nhận kết quả học tập của người học. Cơ sở đào tạo có thể xem xét công nhận để chuyển đổi tín chỉ từ kết quả học tập từ xa hoặc từ các kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm mà người học đã tích lũy thông qua quá trình học tập và làm việc.
Dự thảo cũng cho phép học sinh THPT thuộc đối tượng được miễn thi tốt nghiệp được đăng ký học tích lũy tín chỉ giáo dục đại học.
Cũng lần đầu tiên, quy định về chứng chỉ giáo dục đại học - loại chứng chỉ xác nhận kết quả hoàn thành học phần hoặc một phần chương trình đào tạo, được đưa vào dự thảo.
Hiện nay, các hoạt động của giáo dục đại học được quy định tại Thông tư số 08/2021/TT-BGDĐT ngày 18.3.2021. Việc ban hành thông tư mới thay thế thông tư hiện hành là để phù hợp với các quy định mới của luật Giáo dục và luật Giáo dục đại học, đồng thời, cập nhật những yêu cầu mới của giáo dục đại học trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển AI và học tập suốt đời.
Dự thảo Thông tư quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục ĐH đang được Bộ GD-ĐT xem xét và lấy ý kiến đóng góp. Trong đó, ngành sức khỏe là một trong những lĩnh vực có quy định cao về chương trình, giảng viên.
Theo dự thảo, các cơ sở giáo dục ĐH có thể thực hiện nhiều chương trình đào tạo khác nhau. Cụ thể, chương trình đào tạo nói chung phải xác định định hướng đào tạo theo hướng học thuật/nghiên cứu hoặc chuyên nghiệp/ứng dụng phù hợp với mục tiêu đào tạo và trình độ đào tạo.
Ngoài ra, các trường có thể cung cấp cho sinh viên chương trình đào tạo tích hợp; chương trình đào tạo liên ngành, xuyên ngành; chương trình đào tạo chuyên sâu; chương trình đào tạo song ngành, ngành chính – ngành phụ; chương trình đào tạo có định hướng và yêu cầu riêng; chương trình đào tạo cấp chứng chỉ giáo dục ĐH (được thiết kế độc lập hoặc là một cấu phần của chương trình đào tạo cấp văn bằng). Chương trình đào tạo có định hướng và yêu cầu riêng có các chương trình như kỹ sư tài năng, cử nhân tài năng, chương trình tiên tiến và các chương trình tương tự.
Các chương trình đào tạo trên phải được xây dựng phù hợp với sứ mạng cụ thể, chức năng, nhiệm vụ và chiến lược phát triển của cơ sở đào tạo đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Bên cạnh đó, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực hiện tại và dự báo của ngành, lĩnh vực; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu hội nhập quốc tế.
Các chương trình đào tạo phải xác định bậc trình độ theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam; được thiết kế theo hướng bảo đảm khả năng tích lũy, công nhận kết quả học tập và liên thông giữa các trình độ, phù hợp với vị trí trong cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân.
Ở tất cả các chương trình đào tạo, giảng viên cơ hữu giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chương trình đào tạo; giảng viên thỉnh giảng chỉ đảm nhận tối đa 1/4 khối lượng giảng dạy.
Mỗi chương trình đào tạo (trừ khối ngành sức khỏe, pháp luật; kỹ thuật then chốt; ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật, thể thao) phải có ít nhất 7 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ, có chuyên môn ngành đúng, ngành gần hoặc ngành có chuyên môn phù hợp chủ trì; trong đó luôn có 2 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Đối với chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực sức khỏe, pháp luật phải có ít nhất 7 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ ngành đúng hoặc ngành gần chủ trì, trong đó luôn có 1 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Đặc biệt, giảng viên giảng dạy và người hướng dẫn thực hành các học phần liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh phải có giấy phép hành nghề chuyên môn phù hợp với học phần được giao nhiệm vụ giảng dạy, có tối thiểu 3 năm kinh nghiệm và đang hoặc đã từng làm việc trực tiếp tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên theo quy định của luật Khám bệnh, chữa bệnh.
Trong khi đó, chương trình đào tạo các ngành kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, quốc phòng, an ninh và ngành, lĩnh vực mới phải có ít nhất 7 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ ngành có chuyên môn phù hợp chủ trì, trong đó luôn có 1 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Chương trình đào tạo các ngành ngôn ngữ, văn học, văn hóa Việt Nam và nước ngoài, lĩnh vực nghệ thuật, thể thao phải có ít nhất 4 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ có chuyên môn phù hợp chủ trì, trong đó luôn có 1 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Trong thời gian tối thiểu 3 năm tính đến ngày 31 tháng 12 của năm liền kề trước năm tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bình quân một năm của một giảng viên chủ trì phải có ít nhất 1 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus.
Với các ngành ngôn ngữ, văn học, văn hóa Việt Nam và nước ngoài, lĩnh vực nghệ thuật, thể thao, giảng viên phải có sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích bao gồm cả tác phẩm, công trình, giải thưởng chuyên môn, huy chương tại các cuộc thi, liên hoan, giải thi đấu thể thao do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc quốc tế công nhận.
Thực tế trên chỉ ra dù vẫn là điểm đến quen thuộc, sức hút của Úc trong mắt phụ huynh và người học lại đang có dấu hiệu suy giảm, nhất là khi nước này liên tục phát đi tín hiệu thắt chặt chính sách visa và quyền làm việc trong vài năm trở lại đây.
Theo thống kê công bố hồi tháng 4 của Bộ Giáo dục Úc, tổng số sinh viên quốc tế đến nước này học tập đến hết năm 2025 là 845.933 người, giảm 1% so với 2024. Số du học sinh Việt là 36.595, giảm 2,7% so với năm trước và xếp thứ 4 về số lượng. Trong đó, 30.619 người là người học cũ, tăng 8,8%. Còn lại (5.976) là những người mới tới Úc lần đầu để học tập, giảm 36,8% so với năm 2024.
Đây cũng là năm thứ hai liên tiếp số lượng tân sinh người Việt đến Úc giảm mạnh, khi năm 2024 ghi nhận tỷ lệ giảm ở mức 32,9% - ít hơn 4.632 người so với 2023. Trong khi đó, số lượng tân sinh từ năm 2021 tăng đều đến 2023, từ gần 1.800 tới hơn 6.200, và cuối cùng là hơn 14.000. Điều này góp phần khiến 2023 bùng nổ về số lượng khi đông hơn năm trước tới 46,2% - mức tăng cao nhất từ 2009 tới nay và lần đầu vượt hơn 30.000 người.
Việc gia tăng số lượng tân sinh cũng giúp năm 2024 sau đó lập kỷ lục cao nhất mọi thời về số người Việt du học Úc, ở mức 37.598 và vào top 5 nhóm đông nhất ở xứ sở chuột túi. Số lượng người Việt cũng tăng trưởng đều đặn từ 2021-2024 trước khi giảm nhẹ vào 2025. Trước đó, số lượng người Việt du học Úc cũng tăng đều trong giai đoạn 2015-2019, rồi giảm đáng kể trong thời điểm Covid-19 bùng nổ là 2020 và 2021.
Đà giảm vẫn đang diễn ra vào năm 2026. Theo dữ liệu cập nhật nhất tính tới tháng 1, có 24.789 người Việt hiện du học Úc, ít hơn 10,4% so với cùng kỳ năm ngoái.
Dù giảm nhẹ số lượng vào năm 2025, song nhóm du học sinh Việt lại tăng hạng, vào top 4 cộng đồng sinh viên quốc tế đông nhất tại Úc - lập lại thành tích cách đây 4 năm. Song thứ hạng này chưa phải cao nhất, khi 3 năm liên tiếp từ 2013-2015 số du học sinh Việt tại Úc luôn nằm trong top 3.
Về phân bổ khóa học, bởi một sinh viên quốc tế có thể ghi danh vào nhiều khóa khác nhau nên tổng số lượt ghi danh cao hơn tổng số du học sinh. Theo thống kê tháng 1, người Việt ghi danh nhiều nhất ở bậc giáo dục ĐH với 15.584 lượt, giảm nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái. Xếp sau đó là đào tạo nghề (hơn 2.600) và giáo dục phổ thông (hơn 2.400).
Trong khi đó, lượt ghi danh sụt mạnh nhất ở các khóa tiếng Anh (ELICOS), giảm tới 56,5%.
Nhìn chung, người Việt chuộng nhất nhóm ngành quản trị và thương mại; xếp sau đó là các chương trình liên ngành và công nghệ thông tin. Trong khi đó, lĩnh vực ít thu hút nhất với sinh viên Việt luôn là nông nghiệp, môi trường và các ngành học liên quan.
Đằng sau số lượng sinh viên quốc tế là một bức tranh phức tạp hơn về tỷ lệ chấp thuận cấp visa du học cho các đương đơn nộp hồ sơ từ ngoài lãnh thổ Úc. Theo thống kê của Bộ Nội vụ Úc, 40,8% hồ sơ xin học ĐH bị từ chối cấp visa du học trong tháng 3, mức cao nhất trong 21 năm qua kể từ khi công bố dữ liệu. Tỷ lệ này cao hơn 8,4% so với tháng trước, và hai tháng qua cũng lần lượt lập kỷ lục mới về tỷ lệ từ chối cấp visa trên toàn cầu.
Tại Việt Nam, bức tranh có phần sáng sủa hơn khi chỉ 9% đương đơn xin học ĐH tại Úc bị từ chối cấp visa trong tháng 3 vừa qua và con số vào tháng 2 là 16,6%. Đây đều là tỷ lệ gần như tương tự mọi năm, không có chênh lệch đáng kể.
Nhìn rộng hơn ở bức tranh chấp thuận cấp visa du học cho đương đơn Việt Nam nằm ngoài lãnh thổ Úc, năm tài chính 2024-2025 (bắt đầu từ tháng 7 và kết thúc vào tháng 6 năm sau-PV) ghi nhận tỷ lệ 81,1%, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm ngoái và cũng là lần tăng đầu tiên sau 4 năm. Điều này đồng nghĩa, cứ 5 người học Việt Nam xin visa Úc thì có tới 4 người thành công.
Tuy nhiên, bức tranh lại khá phân mảnh nếu xét riêng từng mục đích. Với những trường hợp muốn theo học các khóa đào tạo nghề, tỷ lệ cấp visa du học chỉ là 7%, giảm đến 35,7% so với năm trước. Tương tự, nhóm ứng tuyển bậc giáo dục phổ thông giảm từ 81,5% xuống còn 65,5%, trong khi những đương đơn muốn học các khóa tiếng Anh chỉ có 45,8% cơ hội được cấp visa - dù tỷ lệ đã tăng thêm 12,8% so với năm ngoái.
Nhóm muốn học các trường ĐH cũng đang chứng kiến tỷ lệ đậu visa giảm dần trong 4 năm qua dù vẫn duy trì ở mức cao, từ 99,7% vào 2020-2021 xuống còn 87,1% ở năm xét duyệt mới nhất. Tương tự, nhóm không cấp bằng và nhóm nghiên cứu sau ĐH vốn có tỷ lệ chấp thuận cấp visa 100% trong 2022-2023, đến 2024-2025 giảm nhẹ xuống chỉ còn 96,9% và 99,5%.
Riêng lĩnh vực đối ngoại hoặc quốc phòng luôn duy trì tỷ lệ đậu visa 100% từ năm tài chính 2015-2016 tới nay.
Từ 2024 đến nay, Úc công bố nhiều điều chỉnh về chính sách visa và quyền làm việc, được cho là để quản lý, kiểm soát tốt hơn ngành giáo dục quốc tế cũng như số lượng người nhập cư. Để chọn lọc những đương đơn chân chính muốn du học nước này, Úc ra mắt bài thi GS thay thế cho GTE và nhiều lần thay đổi cơ chế xét duyệt visa du học, từ Chỉ thị 107 tới Chỉ thị 111 và nay là Chỉ thị 115.
Ngoài ra, Úc cũng ban hành nhiều điều chỉnh với hai loại visa phổ biến với sinh viên quốc tế.
Với visa du học, nước này tăng yêu cầu chứng minh tài chính, năng lực tiếng Anh và lệ phí ứng tuyển - lên mức 2.000 AUD (khoảng 38 triệu đồng) và không hoàn lại nếu đương đơn bị từ chối. Với visa làm việc sau tốt nghiệp, Úc rút thời gian hiệu lực từ 4-6 năm xuống còn 2-3 năm, bổ sung tiêu chí ứng tuyển và mới đây tăng gấp đôi lệ phí lên 4.600 AUD (khoảng 87 triệu đồng) - cũng không hoàn lại nếu đương đơn trượt visa.
Tuy nhiên, nước này thời gian qua cũng khuyến khích các trường tăng cường hợp tác với khu vực Đông Nam Á để hỗ trợ chiến lược kinh tế Đông Nam Á của Úc đến năm 2040, thông qua các chương trình đào tạo, quan hệ đối tác, học bổng...
Song song đó, các ĐH Úc cũng ngày càng ưu ái tuyển sinh du học sinh Việt, thể hiện rõ nét qua chính sách tuyển thẳng học sinh Việt Nam vào năm nhất ĐH chứ không bắt buộc phải học khóa dự bị như trước, cũng như ra mắt các chương trình học bổng dành riêng cho Việt Nam. Bên cạnh đó, ngày càng nhiều trường Úc trực tiếp đến Việt Nam để tư vấn tuyển sinh và kết nối với chính quyền, cựu sinh viên và công ty du học.