UBND TP.Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 51 quy định trường hợp có nhà ở thuộc sở hữu nhưng cách xa nơi làm việc vẫn được hưởng chính sách nhà ở xã hội.
Cụ thể, nhóm đối tượng được áp dụng gồm: các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở. Các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, hộ gia đình, cá nhân liên quan đến việc phát triển, quản lý sử dụng, sở hữu nhà ở xã hội trên địa bàn Hà Nội.
Theo đó, người có nhà ở hợp pháp tại Hà Nội nhưng cách nơi làm việc từ 20 km trở lên có thể được mua, thuê mua nhà ở xã hội nếu đáp ứng đủ điều kiện.
Đồng thời, khoảng cách từ dự án nhà ở xã hội đăng ký đến nơi làm việc phải ngắn hơn 2/3 so với khoảng cách từ nhà hiện tại đến nơi làm việc.
Ngoài ra, người đăng ký phải chưa từng mua, thuê mua nhà ở xã hội, đồng thời đáp ứng điều kiện về đối tượng và thu nhập theo quy định. Trường hợp đã kết hôn, cả hai vợ chồng đều phải đủ điều kiện.
Khoảng cách được xác định theo tuyến đường bộ ngắn nhất, đo trên Google Maps (chế độ ô tô) tại thời điểm xét duyệt hồ sơ.
Quyết định số 51/2026/QĐ-UBND cũng quy định việc xác định địa điểm làm việc đối với từng loại đối tượng.
Cụ thể, đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng thì địa điểm làm việc được xác định theo địa chỉ ghi trong hợp đồng lao động, quyết định tuyển dụng hoặc quyết định phân công công tác của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nơi người lao động đang làm việc.
Đối với người lao động lưu động, địa điểm làm việc được xác định theo đơn vị quản lý trực tiếp người lao động và địa điểm tập trung chính thức của đơn vị quản lý trực tiếp.
Đối với người lao động tự do, địa điểm làm việc được xác định theo địa điểm thực hiện hoạt động nghề nghiệp hoặc kinh doanh thường xuyên của người lao động.
Theo điều 76 luật Nhà ở 2023, các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội bao gồm: người có công, hộ nghèo/cận nghèo (đô thị/nông thôn/vùng lũ), người thu nhập thấp, công nhân, người lao động tại doanh nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang.
Mức thu nhập tối đa để mua nhà ở xã hội đối với người độc thân là không quá 20 triệu đồng/tháng; đối với vợ chồng đã kết hôn là không quá 40 triệu đồng/tháng…
Liên quan đến nhà ở xã hội, hồi đầu tháng 4, TP.Hà Nội cũng ban hành Quyết định số 37 quy định về tiêu chí để chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất bị thu hồi khi thực hiện các dự án cải tạo, chỉnh trang đô thị được mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội.
Theo quyết định này, từ 10.4, người bị thu hồi đất khi cải tạo đô thị, nếu đủ điều kiện tái định cư nhưng không mua hoặc không đủ điều kiện, có khó khăn về nhà ở sẽ được mua nhà ở xã hội không qua bốc thăm.
Kế hoạch phát triển nhà ở xã hội của Hà Nội thể hiện, ở giai đoạn 2026 – 2030, thành phố sẽ phát triển nhà ở xã hội theo 2 cấp độ. Trong đó, cấp độ 1 hoàn thành tối thiếu 120.000 căn; cấp độ 2 định hướng phát triển 500.000 căn, sử dụng đa mục tiêu.
Sáng 24/4, với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 98,4%), Quốc hội thông qua bổ sung dự toán thu NSNN năm 2024 và phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước (NSNN) năm 2024.
Theo đó, bổ sung dự toán thu NSNN năm 2024 là 13.760 tỷ đồng, bao gồm tăng thu ngân sách Trung ương là 3.408 tỷ đồng; tăng thu ngân sách địa phương là 10.352 tỷ đồng.
Đồng thời, phê chuẩn quyết toán NSNN năm 2024 với tổng số thu cân đối NSNN là 3.402.379 tỷ đồng, bao gồm cả số thu chuyển nguồn từ năm 2023 chuyển sang năm 2024, thu kết dư ngân sách địa phương năm 2023, thu từ quỹ dự trữ tài chính theo quy định của Luật NSNN.
Tổng số chi cân đối NSNN là 3.587.655 tỷ đồng, bao gồm cả số chỉ chuyển nguồn từ năm 2024 sang năm 2025.
Bội chi NSNN là 323.308 tỷ đồng, bằng 2,8% GDP, không bao gồm kết dư ngân sách địa phương. Tổng mức vay của NSNN để bù đắp bội chi và trả nợ gốc là 611.200 tỷ đồng.
Quốc hội giao Giao Chính phủ chỉ đạo các Bộ, cơ quan trung ương, UBND các cấp và các đơn vị quản lý thu, chi NSNN; đồng thời, làm rõ nguyên nhân và trách nhiệm người đứng đầu, các tập thể, cá nhân không chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật trong lập, chấp hành dự toán, quyết toán NSNN năm 2024; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Chính phủ tiếp tục chấn chỉnh, khắc phục các tồn tại, hạn chế, nâng cao chất lượng lập, quản lý, sử dụng NSNN. Đẩy nhanh việc thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công hằng năm; công tác thanh toán khối lượng hoàn thành và quyết toán các chương trình, dự án đầu tư theo đúng quy định của pháp luật.
Quản lý, sử dụng chặt chẽ số tăng thu NSNN gắn với điều hành và xây dựng kế hoạch huy động vốn vay bù đắp bội chi và trả nợ gốc của NSNN bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, đúng quy định của pháp luật.
Quản lý chặt chẽ các khoản chi chuyển nguồn, tạm ứng chi NSNN. Trong năm 2026, tiếp tục xử lý, thu hồi dứt điểm số tạm ứng quá thời hạn quy định; làm rõ các trường hợp không có khả năng thu hồi số kinh phí tạm ứng quá thời hạn quy định.
Thực hiện nghiêm các chế tài xử phạt, xử lý trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân không thực hiện đúng quy định của pháp luật về NSNN, nghị quyết của Quốc hội trong quản lý, thu hồi số tạm ứng NSNN.
Trước khi đại biểu Quốc hội biểu quyết, báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của các đại biểu quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, năm 2024, kết quả thu NSNN vượt dự toán là kết quả của sự phục hồi kinh tế tích cực hơn so với dự kiến tại thời điểm xây dựng dự toán, trong quá trình thực hiện, hiệu quả của các chính sách hỗ trợ và công tác quản lý thu được tăng cường.
Việc tăng thu NSNN trong bối cảnh kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn đã giúp Chính phủ giảm bội chi, có thêm nguồn lực để đầu tư phát triển và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.
Về công tác quản lý nợ thuế của cơ quan thuế, theo báo cáo, trong tổng số nợ thuế năm 2024 do cơ quan thuế quản lý thì các khoản nợ liên quan đến đất là 63.208 tỷ đồng, chiếm 31,04% tổng số nợ. Số tiền nợ các khoản thu từ đất chiếm tỉ lệ lớn trong tổng nợ, trong đó có rất nhiều khoản nợ do vướng mắc trong quá trình thực hiện các dự án phát sinh do giao đất, cho thuê đất từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Số tiền chậm nộp thuế đến thời điểm 31/12/2024 là 60.940 tỷ đồng, chiếm 37% tổng số tiền nợ thuế, tăng 53% so với cùng kỳ năm 2023. Nguyên nhân chủ yếu là do một bộ phận doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến hạn chế về dòng tiền và chậm thực hiện nghĩa vụ thuế.
Từ các tuyến cao tốc ven biển đã vận hành hiệu quả đến những trục Đông - Tây đang được thúc đẩy đầu tư, hạ tầng giao thông đang trở thành "đòn bẩy" chiến lược cho toàn khu vực.
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10 ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài diễn ra vào sáng nay (30/6), ông Takuya Sahashi - Phó Chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam đã trình bày tham luận với nội dung "Vai trò của doanh nghiệp FDI trong phát triển công nghệ cao, chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng nội địa".
Ông Takuya Sahashi đánh giá cao định hướng chính sách rõ ràng của Nghị quyết trong việc thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng cao, thúc đẩy các ngành công nghệ cao và đổi mới sáng tạo, đồng thời tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước.
Đồng thời, Phó Chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam đồng tình với tầm nhìn cho rằng sự phát triển kinh tế của Việt Nam không nên chỉ dựa vào việc thu hút đầu tư nước ngoài mà còn phải tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu.
Thông qua quá trình tham gia này, các công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại và các tiêu chuẩn quốc tế sẽ từng bước được lan tỏa vào khu vực doanh nghiệp trong nước, tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ và nâng cao nền tảng công nghiệp nói chung.
Theo ông Takuya Sahashi, các doanh nghiệp Nhật Bản đã đóng góp vào sự phát triển công nghiệp của Việt Nam trong hơn 3 thập kỷ qua. Nhật Bản đã đầu tư đáng kể vào các lĩnh vực sản xuất như thiết bị vận tải, điện tử và máy móc công nghiệp, tạo việc làm và hỗ trợ xuất khẩu.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Nhật Bản luôn chú trọng phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ và phát triển các nhà cung ứng. Nhờ vậy, tỉ lệ nội địa hóa đã không ngừng được nâng lên theo thời gian.
Để triển khai thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết số 10, ông Takuya Sahashi cho rằng vẫn còn một số thách thức cần vượt qua. Đó là năng lực kỹ thuật và chất lượng của các nhà cung ứng trong nước cần tiếp tục được nâng cao. Các ngành công nghiệp thượng nguồn, bao gồm ngành vật liệu và linh kiện then chốt vẫn còn kém phát triển, dẫn đến sự phụ thuộc kéo dài vào nhập khẩu.
Mặc dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận do thủ tục phức tạp hoặc chưa phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp… Việc giải quyết những vấn đề này có ý nghĩa thiết yếu trong việc tăng cường mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.
Dựa trên kinh nghiệm thực tiễn, ông Takuya Sahashi nhấn mạnh một số khuyến nghị trọng tâm, phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 10. Trong đó nhấn mạnh cần sự hỗ trợ có trọng tâm đối với các doanh nghiệp trong nước có tiềm năng cao thay vì chỉ chú trọng đến số lượng; cần xác định các doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng phát triển cao và dành cho họ các chính sách hỗ trợ có trọng tâm.
Việc tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp FDI có thể giúp hình thành và phát triển các nhà cung ứng nòng cốt, có năng lực cạnh tranh.
Đồng thời tăng cường kết nối doanh nghiệp và nâng cao khả năng tiếp cận thông tin. Việc hoàn thiện các cơ chế nhằm nhận diện và giới thiệu các nhà cung ứng trong nước có năng lực là hết sức quan trọng. Mở rộng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng, các triển lãm và nền tảng kết nối doanh nghiệp thông qua sự phối hợp giữa Chính phủ và các tổ chức doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các liên kết chặt chẽ hơn.
Cùng với đó là phát triển các ngành công nghiệp thượng nguồn. Việc phát triển có chiến lược các ngành vật liệu và linh kiện là yếu tố thiết yếu nhằm gia tăng giá trị gia tăng trong nước và nâng cao khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng. Đây cũng là nền tảng quan trọng để thu hút các dòng vốn FDI chất lượng cao và công nghệ cao.
Ông Takuya Sahashi cũng khuyến nghị cần nâng cao khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các chương trình hỗ trợ cần được thiết kế đơn giản hơn, linh hoạt hơn và dễ tiếp cận hơn để doanh nghiệp có thể sử dụng khi cần thiết.
Cuối cùng, việc tăng cường đào tạo nghề, thúc đẩy hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp cũng như nâng cao kỹ năng thực hành là hết sức cần thiết để tăng cường năng lực tiếp nhận và hấp thụ công nghệ chuyển giao.
Việc tạo dựng mối liên kết chặt chẽ hơn giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam thông qua việc nâng cao năng suất, tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn và phát triển một cơ cấu công nghiệp có khả năng chống chịu tốt hơn và tự chủ hơn. Đồng thời, điều này cũng sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu của các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam.