Sáng 29.4, dưới kỳ đài Tổ quốc bên dòng sông Bến Hải – cầu Hiền Lương lịch sử, tỉnh Quảng Trị long trọng tổ chức lễ thượng cờ trong khuôn khổ lễ hội “Thống nhất non sông” (30.4.1975 – 30.4.2026).
Tham dự buổi lễ có Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc; Trưởng ban Nội chính Trung ương Lê Minh Trí; Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang; Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang; Phó thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu cùng các đồng chí thành viên đoàn công tác Trung ương, lãnh đạo tỉnh Quảng Trị và đông đảo quần chúng nhân dân.
Phát biểu tại buổi lễ, ông Nguyễn Văn Phương, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, ôn lại chặng đường lịch sử hào hùng, khẳng định dù chiến tranh đã lùi xa, ký ức về những năm tháng bi tráng vẫn còn nguyên vẹn trong lòng mỗi người Việt Nam, đặc biệt là người dân Quảng Trị; Hiền Lương – Bến Hải mãi là biểu tượng thiêng liêng của ý chí thống nhất, khát vọng hòa bình và niềm tin Bắc Nam sum họp.
Ông Nguyễn Văn Phương cũng bày tỏ cảm ơn sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo Trung ương đối với sự phát triển của Quảng Trị, đặc biệt là của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đồng thời nhấn mạnh địa phương sẽ tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, biến niềm tự hào thành động lực để xây dựng quê hương ngày càng phát triển.
Ngay sau lễ thượng cờ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn công tác ra giữa cầu Hiền Lương, gặp gỡ cựu cán bộ công an vũ trang giới tuyến và học sinh; tham gia thả chim bồ câu, chụp ảnh lưu niệm.
Trước đó, cùng ngày, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và đoàn công tác đã đến dâng hương, dâng hoa tại khu mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp (xã Phú Trạch) và Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Bến phà Gianh (phường Bắc Gianh).
Trong không khí trang nghiêm, đoàn bày tỏ lòng thành kính, tri ân sâu sắc Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị tướng huyền thoại, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, người có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng.
Tại Bến phà Gianh, đoàn đã dâng hương, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Trong kháng chiến chống Mỹ, nơi đây là điểm giao thông chiến lược trên tuyến chi viện Bắc Nam, hứng chịu hàng nghìn trận đánh phá ác liệt của không quân, hải quân Mỹ. Hàng trăm cán bộ, chiến sĩ, công nhân và lực lượng dân quân, thanh niên xung phong đã hy sinh để giữ vững mạch máu giao thông.
Trong không khí xúc động, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thực hiện nghi thức thỉnh chuông, cùng các lãnh đạo dành phút mặc niệm, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Hòa thượng Thích Thiện Nhơn: Phật giáo đồng hành xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc

Chiều 12.5, tại Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, hòa thượng Thích Thiện Nhơn, Phó Pháp chủ, Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phó chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, đã có bài phát biểu tham luận về vai trò của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Theo hòa thượng Thích Thiện Nhơn, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Trong bối cảnh đó, các tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng tiếp tục khẳng định tinh thần nhập thế, dấn thân, phụng sự cộng đồng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây không chỉ là sự kế thừa truyền thống mà còn là yêu cầu chiến lược đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong thời đại mới.
Hòa thượng Thích Thiện Nhơn cho biết, Phật giáo Việt Nam hiện có hơn 19.500 cơ sở thờ tự, gần 60.000 tăng ni cùng khoảng 60 triệu tín đồ và người mến mộ Phật giáo. Với hơn 2.000 năm đồng hành cùng dân tộc, Phật giáo đã trở thành một bộ phận quan trọng của bản sắc văn hóa Việt Nam, luôn gắn bó với vận mệnh đất nước qua các giai đoạn lịch sử.
Theo hòa thượng Thích Thiện Nhơn, truyền thống "hộ quốc an dân" của Phật giáo được thể hiện xuyên suốt qua triết lý nhân văn, lấy con người làm trung tâm. Trong bối cảnh hiện nay, khối đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là sự liên kết về tổ chức mà còn là sự hội tụ về giá trị, tinh thần và khát vọng phát triển đất nước.
Với nền tảng từ bi, trí tuệ và bình đẳng, Phật giáo có vai trò quan trọng trong xây dựng nền tảng tinh thần cho khối đại đoàn kết ấy.
Báo cáo tham luận cũng nêu bật những đóng góp cụ thể của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong công tác an sinh xã hội và phát triển cộng đồng. Theo hòa thượng Thích Thiện Nhơn, đây không chỉ là hoạt động từ thiện đơn thuần mà là chiến lược phát triển cộng đồng bền vững, hướng đến việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người dân.
Ngoài tham gia công tác an sinh, Giáo hội Phật giáo Việt Nam còn tích cực đóng góp vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo nghề, chăm sóc người yếu thế và phản biện xã hội. Hòa thượng cho biết, Giáo hội đã xây dựng 47 trường phổ thông tại vùng khó khăn, mở 5.680 lớp dạy nghề và đồng hành cùng 156 trung tâm bảo trợ xã hội, viện dưỡng lão, cơ sở chăm sóc trẻ em mồ côi, người khuyết tật.
Hòa thượng Thích Thiện Nhơn nhấn mạnh, Phật giáo Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy vai trò là trụ cột tinh thần của xã hội, tham gia sâu hơn vào các vấn đề phát triển bền vững như bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, chăm sóc sức khỏe cộng đồng và xây dựng xã hội học tập.
Đồng thời, Phật giáo sẽ đẩy mạnh hội nhập quốc tế, mở rộng giao lưu văn hóa, góp phần xây dựng Việt Nam thành trung tâm Phật giáo khu vực và thế giới, đóng góp tích cực vào chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và du lịch của đất nước Việt Nam.
Để thực hiện hóa tầm nhìn chiến lược về phát huy vai trò của Phật giáo Việt Nam trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong kỷ nguyên mới, hòa thượng Thích Thiện Nhơn kiến nghị MTTQ Việt Nam và các cấp chính quyền xem xét một số định hướng chiến lược.
Trong đó, tiếp tục xây dựng cơ chế phối hợp chiến lược với các tôn giáo trong phát triển kinh tế - xã hội; hỗ trợ giải quyết vấn đề đất đai cho các cơ sở tôn giáo; tạo điều kiện đào tạo đội ngũ chức sắc đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới và mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa, tôn giáo.
Khẳng định tinh thần đồng hành cùng dân tộc, hòa thượng Thích Thiện Nhơn nhấn mạnh, Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động, xây dựng một nền Phật giáo hiện đại, nhân văn, hội nhập sâu rộng với đời sống xã hội, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trong bối cảnh toàn hệ thống chính trị đang quyết liệt thực hiện cuộc đại cách mạng về tổ chức bộ máy, sắp xếp và sáp nhập các đơn vị hành chính, quy chuẩn "đoàn kết" và "thanh khiết" của Người chính là thước đo để soi chiếu, chỉnh đốn bản lĩnh của toàn thể cán bộ, đảng viên từ cơ sở đến Trung ương.
Nền tảng của một thể chế chính trị mạnh không nằm ở quy mô cồng kềnh của bộ máy, mà nằm ở độ tinh gọn, tính hiệu năng của cấu trúc và đặc biệt là chất lượng nhân sự vận hành cấu trúc đó.
Hai từ khóa "đoàn kết" và "thanh khiết" gắn kết chặt chẽ như hình với bóng, là điều kiện tiên quyết quyết định sự thành bại của mọi chủ trương, đường lối, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang dũng cảm đối diện với bài toán tinh gọn bộ máy hậu sáp nhập.
Nhằm đạt được mục tiêu cốt lõi là xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và tối ưu hóa nguồn lực công, việc sắp xếp các đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là bước đi hoàn toàn khách quan và cần thiết.
Dù vậy, hiệu quả của công cuộc này không thể chỉ đo đếm bằng các chỉ số mang tính cơ học như số lượng phòng ban giảm, biển tên mới được treo hay danh sách nhân sự được gộp lại trên giấy tờ.
Thử thách thực chất và phức tạp hơn nằm ở giai đoạn hậu sáp nhập: Kiến tạo một môi trường làm việc hòa hợp, xây dựng khối đoàn kết nội bộ vững chắc, đảm bảo bộ máy mới không chỉ giảm về đầu mối mà phải thực sự mạnh về chất lượng.
Thực tiễn tại không ít địa phương sau sáp nhập đã và đang phát sinh những rào cản nội tại mang tính tâm lý sâu sắc. Đó là hội chứng "cục bộ địa phương" ngấm ngầm diễn ra, khi cán bộ vẫn vô tình hay hữu ý phân chia ranh giới theo kiểu "người của huyện cũ A", "người của xã cũ B".
Sự khác biệt về thói quen quản lý, văn hóa làm việc, hay những va chạm lợi ích trong quá trình sắp xếp, bố trí lại các vị trí chủ chốt dễ dẫn đến tâm lý nghe ngóng, phòng thủ, thậm chí là "bằng mặt nhưng không bằng lòng".
Khi "cái tôi cục bộ" chưa được gột rửa, dòng chảy năng lượng của bộ máy mới sẽ bị nghẽn lại, tạo ra những lực cản vô hình làm suy giảm sức chiến đấu của tổ chức Đảng.
Nhìn lại tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng cầm quyền, Người coi đoàn kết không phải là một khẩu hiệu ngoại giao hay sự thỏa hiệp mang tính hình thức. Đoàn kết phải là một thực thể sống, được xây dựng trên nền tảng của lý tưởng cách mạng, của nguyên tắc tập trung dân chủ, tinh thần tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, thẳng thắn, và trên hết là tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.
Trong một tổ chức Đảng sau sáp nhập, nếu các đảng viên thực hiện tự phê bình và phê bình theo kiểu nể nang, né tránh, "dĩ hòa vi quý" vì sợ mất lòng đồng nghiệp mới, hoặc ngược lại, mượn diễn đàn để đả kích, hạ bệ lẫn nhau vì động cơ cá nhân, thì đó là sự phản bội lại nguyên tắc đoàn kết của Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ví phê bình như việc rửa mặt mỗi ngày, là liều thuốc hay nhất để chữa trị các căn bệnh trong Đảng. Do đó, để đạt được sự đoàn kết thực chất hậu sáp nhập, toàn thể cán bộ, đảng viên phải dũng cảm vượt qua tư duy định kiến, lấy lợi ích chung của sự phát triển địa phương làm điểm tương đồng tối cao.
Trong di chúc, Người căn dặn: "Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình...". Đoàn kết không phải là nói suông, đoàn kết phải thể hiện trong công tác, trong hành động, trong việc giải quyết các mối quan hệ giữa đồng chí với nhau.
Nếu như "đoàn kết" tạo ra sức mạnh tổng hợp cho bộ máy sáp nhập, thì "thanh khiết" chính là điều kiện cốt lõi để giữ vững niềm tin của nhân dân vào bộ máy đó.
Khi sáp nhập địa giới hành chính, quy mô quản lý về đất đai, ngân sách, tài nguyên và dự án đầu tư tại đơn vị mới sẽ gia tăng đáng kể. Đi liền với đó là quyền lực trong tay người cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu, cũng phình to lên. Quyền lực càng lớn nếu không được kiểm soát bằng cơ chế nghiêm ngặt và sự liêm chính nội tâm của người thực thi, thì nguy cơ tha hóa quyền lực càng cao.
Cụm từ "thanh khiết từ to đến nhỏ" mà Bác dạy chứa đựng một triết lý vô cùng nghiêm khắc và toàn diện. Thanh khiết không chỉ giới hạn ở việc cán bộ lãnh đạo cấp cao phải trong sạch, mà đòi hỏi mọi mắt xích trong hệ thống chính trị, từ người giữ cương vị cao nhất cấp tỉnh, cấp xã cho đến những cán bộ trực tiếp tiếp xúc với dân ở văn phòng một cửa, anh công chức địa chính xã, đều phải giữ mình không tì vết.
Chỉ cần một mắt xích nhỏ ở cấp cơ sở bị hoen ố bởi hành vi nhũng nhiễu, hạch sách, đòi "chung chi" khi người dân đến làm thủ tục hành chính, thì toàn bộ uy tín của một chính quyền vừa được tinh gọn cũng có thể bị tổn hại nghiêm trọng.
Thực tiễn thời gian qua tại một số đơn vị sáp nhập cho thấy, hiện tượng trì trệ trong giải quyết hồ sơ đất đai, tư pháp của người dân không hoàn toàn do quy trình phối hợp chưa thông suốt, mà căn nguyên sâu xa xuất phát từ việc cán bộ thiếu sự "thanh khiết" trong tư duy.
Tâm lý "nghe ngóng", sợ sai, đùn đẩy trách nhiệm, không dám quyết, không dám làm thực chất là một biến tướng nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân. Khi người cán bộ đặt sự an toàn cá nhân và lợi ích riêng của chiếc ghế mình đang ngồi lên trên quyền lợi chính đáng của nhân dân, sự thiếu thanh khiết trong đạo đức công vụ này sẽ làm suy yếu nghiêm trọng bản chất của một Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Sự thanh khiết theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một trạng thái chủ động. Đó là việc người cán bộ tự soi, tự sửa, chủ động từ chối những lợi ích vật chất bất chính, đồng thời có đủ bản lĩnh và sự dũng cảm để bảo vệ cái đúng, đấu tranh với cái sai.
Đối với những người nắm giữ trọng trách lớn, sự thanh khiết còn đồng nghĩa với việc nêu gương. Người đứng đầu có thanh khiết, cấp dưới mới không dám làm càn; cán bộ có thanh khiết, nhân dân mới đồng thuận, tin yêu và tự nguyện đồng hành cùng chính quyền xây dựng quê hương.
Đặt trong chỉnh thể tư duy tư tưởng Hồ Chí Minh, "đoàn kết" và "thanh khiết" không phải là 2 phạm trù độc lập tách rời, mà có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau một cách chặt chẽ. Không thể có một khối đoàn kết thực sự nếu nội bộ tổ chức đó dung túng cho những hành vi bất minh, thiếu thanh khiết.
Một tập thể mà trong đó có những cá nhân trục lợi, kéo bè kết cánh để chia chác lợi ích hoặc bao che cho những sai phạm của nhau thì đó chỉ là thứ "đoàn kết xuôi chiều", là sự câu kết mang tính phe nhóm nhằm lũng đoạn tổ chức.
Ngược lại, một tổ chức nếu thiếu đi sự đoàn kết, mất dân chủ, nội bộ chia rẽ thì cũng không bao giờ tạo ra được một môi trường trong sạch, thanh khiết; bởi khi đó, người ta sẽ mải mê đấu đá, kèn cựa địa vị thay vì tập trung rèn luyện đạo đức và thực hiện nhiệm vụ chính trị.
Chính vì vậy, cuộc đại cách mạng về tổ chức bộ máy và tinh gọn hệ thống hiện nay đòi hỏi toàn thể cán bộ, đảng viên phải thực hành đồng thời cả hai bài học này. Khi tiến hành sáp nhập, việc rà soát, đánh giá cán bộ phải dựa trên cả hai tiêu chí song hành: Anh có khả năng quy tụ, xây dựng khối đoàn kết nội bộ hay không? Và bản thân anh, gia đình anh có thực sự thanh khiết, liêm chính trước tài sản công hay không?
Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa 2 yếu tố này chính là chìa khóa để tạo ra những "tế bào" lành mạnh cho cơ thể hệ thống chính trị.
Lời dạy của Bác về chính trị cũng đặt ra yêu cầu cấp bách cho công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và cơ chế giám sát, phản biện của nhân dân. Quyền lực phải được nhốt trong chiếc lồng cơ chế, nhưng chiếc lồng hiệu quả nhất chính là lòng dân và sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng.
Khi toàn bộ hệ thống vận hành một cách minh bạch, công khai dưới sự giám sát của nhân dân, những nhân tố thiếu thanh khiết sẽ tự khắc bị đào thải, tạo không gian cho những cán bộ có đức, có tài gánh vác trọng trách của đất nước.
Lời định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Tóm lại chính trị là: 1. Đoàn kết. 2. Thanh khiết từ to đến nhỏ" trải qua bao thăng trầm của lịch sử vẫn nguyên vẹn giá trị thời đại, mang tính thời sự gay gắt trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Đó không phải là lý thuyết nằm yên trên các trang sách, mà phải trở thành hơi thở, trở thành nguyên tắc hành động tối cao của mỗi cán bộ, đảng viên, từ các đồng chí lãnh đạo chiến lược cho đến các đảng viên ở chi bộ cơ sở.
Đối diện với bài toán sáp nhập địa giới hành chính và tinh gọn bộ máy đầy cam go hiện nay, toàn Đảng và từng cán bộ, đảng viên cần phải lấy lời dạy này làm tấm gương tự soi chiếu mỗi ngày. Sáp nhập không chỉ là một thủ tục lập pháp hay kỹ thuật hành chính, sáp nhập là một cuộc cách mạng về tư duy quản trị, đòi hỏi sự hy sinh những lợi ích cục bộ, cá nhân để đổi lấy sự phát triển trường tồn của đất nước.
Chỉ có một đội ngũ cán bộ biết kết nối với nhau bằng sợi dây đoàn kết chân chính, biết giữ gìn danh dự bằng sự thanh khiết tuyệt đối từ những việc nhỏ nhất, mới có thể vận hành bộ máy mới một cách trơn tru, hiệu quả, đưa con thuyền đất nước vượt qua mọi thác ghềnh, củng cố vững chắc niềm tin sắt đá của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Kiện toàn Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Theo quyết định, Ban Chỉ đạo gồm 19 thành viên. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là Trưởng ban. Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú làm Phó trưởng ban và Trưởng Ban Nội chính Trung ương Lê Minh Trí là Phó trưởng ban thường trực.
Các phó trưởng ban khác gồm: Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Sỹ Thanh, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định.
Các ủy viên Ban Chỉ đạo gồm: Trưởng ban Tuyên giáo - Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài, Phó thủ tướng thường trực Phạm Gia Túc, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Trọng Nghĩa, Chánh án TAND tối cao Nguyễn Văn Quảng, Viện trưởng VKSND tối cao Nguyễn Huy Tiến, Chánh văn phòng Trung ương Đảng Nguyễn Hải Ninh, Tổng Thanh tra Chính phủ Nguyễn Quốc Đoàn, Bộ trưởng Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, Tổng Kiểm toán Nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật - Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu, Phó trưởng ban Nội chính Trung ương Đặng Văn Dũng.
Theo Quy định số 191-QĐ/TW, ngày 29.10.2024, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực do Bộ Chính trị thành lập, chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong việc chỉ đạo, phối hợp, đôn đốc, kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong phạm vi cả nước.
Phạm vi chỉ đạo của Ban Chỉ đạo là chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; trọng tâm của phòng, chống lãng phí là trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công.
Trọng tâm phòng, chống tiêu cực là phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong phạm vi cả nước.
Ban Chỉ đạo trực tiếp chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng hoặc có dấu hiệu tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm; các vụ án, vụ việc gây lãng phí nghiêm trọng tài chính công, tài sản công, dư luận xã hội quan tâm.
Cùng đó, Ban Chỉ đạo trực tiếp chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tiêu cực khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.
Ban Chỉ đạo làm việc theo chương trình hằng năm, họp thường kỳ 6 tháng một lần, họp bất thường khi cần. Thường trực Ban Chỉ đạo họp thường kỳ 3 tháng một lần, họp bất thường khi cần.
Khi cần thiết, Ban Chỉ đạo tổ chức hội nghị toàn quốc hoặc hội nghị chuyên đề về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương.
Tin Gốc: Thanh Niên

