Huân chương Mặt trời mọc là phần thưởng cao quý nhất của Nhật Bản, không chỉ là sự ghi nhận đối với những cống hiến của hai nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam, mà còn thể hiện sự trân trọng của Chính phủ Nhật Bản đối với những nỗ lực của lãnh đạo và nhân dân hai nước trong việc thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Nhật Bản ngày càng bền chặt.
Sau khi nghe Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam công bố quyết định của Nhà Vua Nhật Bản, thay mặt Nhà nước và Chính phủ Nhật Bản, Thủ tướng Takaichi Sanae đã trao Huân chương Mặt trời mọc hạng nhất Đại thập tự cho nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Phát biểu tại buổi lễ, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh bày tỏ xúc động và vinh dự cùng với nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được đón nhận Huân chương Mặt trời mọc hạng nhất Đại thập tự do Nhà nước và Chính phủ Nhật Bản trao tặng. Ông khẳng định đây là sự ghi nhận đối với những nỗ lực chung của nhiều thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước Việt Nam và Nhật Bản trong sự nghiệp chung vun đắp và thúc đẩy quan hệ giữa hai nước.
Nhấn mạnh Nhật Bản là người bạn tin cậy, chân thành và đối tác quan trọng của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cho biết, trong suốt thời gian đảm nhận các trọng trách của Đảng và Nhà nước, ông luôn coi việc vun đắp quan hệ Việt Nam – Nhật Bản là một trong những ưu tiên chiến lược quan trọng hàng đầu trong tổng thể chính sách đối ngoại của Việt Nam.
Nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhắc lại dấu mốc khi thăm chính thức Nhật Bản vào năm 2009 đã cùng với Thủ tướng Taro Aso ra tuyên bố chung, thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á.
Trong khi đó, trên cương vị Thủ tướng Chính phủ Việt Nam giai đoạn 2006 – 2016, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dành nhiều tâm huyết, chỉ đạo sâu sát để cụ thể hóa các cam kết, đưa hợp tác giữa hai nước đi vào chiều sâu, hiệu quả và thực chất trên tất cả các trụ cột từ chính trị, kinh tế đến giao lưu nhân dân.
Vinh dự được đóng góp một phần nỗ lực vào quá trình xây dựng và phát triển của quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh chúc quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Nhật Bản ngày càng phát triển và đạt được nhiều thành quả mới.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Công nghệ lượng tử là vấn đề chiến lược quốc gia

Sáng 21.5, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chủ trì buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương cho ý kiến về Đề án "Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ lượng tử phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh".
Phát biểu tại buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ, đây là vấn đề rất mới, rất khó, diễn biến nhanh, liên quan đến khoa học, công nghệ, an ninh quốc gia, chuyển đổi số công nghiệp chiến lược và năng lực cạnh tranh dài hạn của đất nước.
Vì vậy, phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, bài bản hơn, chiến lược hơn để xây dựng và hoàn thiện đề án quan trọng về phát triển công nghệ lượng tử tại Việt Nam trong giai đoạn tới, phục vụ phát triển đất nước, với yêu cầu tự chủ chiến lược.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, phải thống nhất nhận thức công nghệ lượng tử là vấn đề chiến lược quốc gia, không chỉ là vấn đề nghiên cứu khoa học đơn thuần.
Do đó, phải đặt vấn đề phát triển công nghệ lượng tử trong tổng thể triển khai thực hiện Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị và chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, gắn với bảo đảm an ninh quốc gia, dữ liệu quốc gia, công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ không gian...
Nếu tách rời các mục tiêu này, lượng tử rất dễ trở thành chương trình nghiên cứu đắt đỏ nhưng ít chuyển hóa thành sức mạnh quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, phải có tư duy đúng, đi sau nhưng không đi chậm; không nóng vội nhưng cũng không được chần chừ; cần hết sức tránh tâm lý tự ti, tránh tư duy phong trào, chạy theo hình thức, đầu tư dàn trải, đặt mục tiêu vượt quá khả năng thực tế.
Do đó, phải lựa chọn đúng hướng đi phù hợp với điều kiện Việt Nam; từng bước xây dựng năng lực thực chất của quốc gia trong những lĩnh vực có khả năng tham gia và làm chủ. Tinh thần là đi sớm về nhận thức, đi chắc về nền tảng, đi đúng vào những khâu có thể tạo năng lực thật và giá trị thật; xây dựng năng lực công nghệ lượng tử, cần lựa chọn một số hướng nghiên cứu ưu tiên phù hợp với điều kiện Việt Nam và gắn với những bài toán thực tiễn của Việt Nam.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, ưu tiên trước hết cho vấn đề an ninh và chủ quyền số quốc gia, bảo đảm chủ động từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ.
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực lượng tử phải mạnh mẽ, chọn lọc và thực chất, phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực tự chủ của Việt Nam, không nên biến hợp tác quốc tế thành một sự phụ thuộc mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Không đầu tư dàn trải, manh mún, mỗi nơi làm một ít, thiết bị phân tán, không tạo được sức mạnh tổng hợp.
Đồng thời, phải đổi mới cách đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học, coi trọng năng lực tích lũy lâu dài vì khoa học đỉnh cao không thể phát triển bằng tư duy, thành tích ngắn hạn; phải có chấp nhận rủi ro, có kiểm soát trong nghiên cứu khoa học. Vì vậy, cơ chế quản lý phải phân biệt giữa thất bại khoa học, trung thực với lãng phí với hình thức hoặc thiếu trách nhiệm.
Đặc biệt coi trọng nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; phải có chương trình quốc gia đào tạo nhân lực công nghệ lượng tử, có cơ chế đặc thù để thu hút, trọng dụng nhân tài; xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh trong nước; tăng cường hợp tác quốc tế, thu hút các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia quốc tế tham gia xây dựng năng lực lượng tử cho Việt Nam.
Bên cạnh việc đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản, phải thúc đẩy hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lượng tử với sự tham gia của Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và các đơn vị quốc phòng - an ninh; có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ.
Không để công nghệ lượng tử chỉ nằm trong phòng thí nghiệm hay trên đề án, phát minh mà phải được đưa vào thực tế, có sản phẩm.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, phải truyền cảm hứng được cho thế hệ trẻ về khát vọng chinh phục tri thức đỉnh cao; cần gieo mầm cho thế hệ các nhà khoa học mới giỏi chuyên môn, liêm chính học thuật, có tư duy quốc tế, có bản lĩnh sáng tạo và có trách nhiệm với Tổ quốc. Một dân tộc muốn vươn lên phải dám đầu tư cho những lĩnh vực khó và dám đặt niềm tin vào trí tuệ của thế hệ trẻ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ cách tổ chức thực hiện. Đây là lĩnh vực liên ngành, liên lĩnh vực, yêu cầu rất cao về phối hợp và điều hành thống nhất.
Đề án cần tiếp tục làm rõ cơ chế điều hành phát triển lĩnh vực này; xác định rõ mục tiêu, lộ trình, nhiệm vụ ưu tiên; đề xuất cơ chế đặc thù về đầu tư, tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế; lựa chọn một số nhiệm vụ, dự án trọng điểm để triển khai ngay...
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, Đảng ủy Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện đề án, bảo đảm thực sự mang tầm chiến lược, khoa học và sát với thực tiễn, trình Ban Bí thư xem xét cho ý kiến bảo đảm chất lượng, tiến độ theo quy định.
Tin Gốc: Thanh Niên

Làm việc với Bộ Ngoại giao, Thủ tướng Lê Minh Hưng nêu rõ, Đại hội XIV của Đảng đã xác định "đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên"; đây là bước chuyển tư duy chiến lược rất quan trọng của Đảng, cho thấy sự đánh giá cao đối với vai trò, vị trí rất quan trọng của lĩnh vực đối ngoại, ngoại giao.
Thời gian gần đây, tình hình thế giới biến chuyển nhanh, phức tạp, khó lường, trong khi những biến động dù nhỏ hay lớn đều tác động trực tiếp tới VN, cơ chế truyền tải tác động rất đa chiều, liên ngành; đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi phải phát huy chủ động, dự báo chiến lược, phản ứng chính sách, có kịch bản ứng phó với các tình huống có thể xảy ra.
Ghi nhận những nỗ lực của Bộ Ngoại giao, Thủ tướng cho rằng cần nhận diện rõ hạn chế, khó khăn, thách thức và những nguyên nhân để làm tốt hơn nữa thời gian tới; đẩy mạnh xây dựng ngành ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp. Thủ tướng lưu ý các cơ quan đại diện VN tại nước ngoài cần chủ động, tích cực hơn nữa, bám sát tình hình, diễn biến thế giới nói chung và nước sở tại nói riêng, nắm chắc địa bàn; tăng cường hơn nữa hợp tác giữa VN với các nước trên các lĩnh vực mà ta quan tâm, chú trọng; mở rộng thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa, hợp tác thúc đẩy khoa học, công nghệ, lao động...
Tại cuộc làm việc với Bộ Tư pháp, Thủ tướng nhấn mạnh, là cơ quan "gác cổng pháp lý", Bộ có trách nhiệm rất lớn, vai trò quan trọng để pháp luật, thể chế thực sự là một đột phá chiến lược, phục vụ phát triển đất nước, tăng trưởng 2 con số.
Thủ tướng cũng lưu ý việc xây dựng thể chế cần đặc biệt lưu ý công tác kiểm soát, không để tình trạng luật chờ văn bản hướng dẫn thi hành như thời gian qua; phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cơ chế "xin - cho" trong công tác xây dựng pháp luật; cũng như lưu ý các quy định trên môi trường mạng, môi trường số.
Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ phải rà soát rất kỹ dự thảo trước khi báo cáo Chính phủ, Thủ tướng, nếu còn ý kiến khác nhau phải tăng cường trao đổi trực tiếp với cơ quan soạn thảo. "Trao đổi trực tiếp thì chỉ mất một tiếng là có thể giải quyết rất thông suốt, nhưng nếu phát văn bản thì cả tháng không xong", Thủ tướng nêu.
Thủ tướng cũng yêu cầu hoàn thành việc xây dựng, kết nối, đồng bộ dữ liệu của các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành về Trung tâm dữ liệu quốc gia, khắc phục các lỗi kỹ thuật của hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử, hoàn thành trong tháng 5.
Tin Gốc: Thanh Niên

Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV vừa qua đã thông qua Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng (Quy định). Đây là sự cụ thể hóa "4 kiên định" về chính trị, tư tưởng, gồm: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quy định đã thể chế hóa các quan điểm của Đảng thành những quy tắc mang tính bắt buộc nhằm nâng cao nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị, năng lực công tác, khả năng ứng phó các biến động của tình hình mới.
Trao đổi với Thanh Niên, trung tướng, GS Trần Vi Dân, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, nhìn nhận nếu công tác cán bộ là "then chốt của then chốt", thì công tác chính trị, tư tưởng là mở đường, đi trước vì nó giải quyết vấn đề nhận thức của đảng viên: "Tư tưởng thông suốt hành động mới đúng".
Thưa ông, tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh việc thực hiện nghiêm túc, nhất quán "4 kiên định" về chính trị, tư tưởng và xem Quy định về công tác chính trị, tư tưởng là sự cụ thể hóa những nguyên tắc này. Ông đánh giá thế nào về tính cấp thiết của quy định này trong giai đoạn hiện nay?
GS Trần Vi Dân: Công tác chính trị, tư tưởng không phải là mới mà đã có từ những lớp học tại Quảng Châu do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mở ra để truyền bá tư tưởng cách mạng trước khi Đảng ra đời. Trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam, công tác này luôn được coi là đi trước mở đường, đi cùng dẫn dắt và động viên khích lệ, đi sau để tổng kết.
Tuy nhiên, tại sao bây giờ lại cần một quy định riêng biệt và mang tính hệ thống như vậy? Có 2 lý do chính. Thứ nhất, trước đây các nội dung này nằm tản mạn ở nhiều văn bản khác nhau như Điều lệ Đảng, các nghị quyết, kết luận. Đây là lần đầu tiên Đảng có một quy định riêng, tích hợp và hệ thống lại một cách rõ ràng, thống nhất, tập trung để làm công cụ xây dựng Đảng vững mạnh.
Thứ hai, chúng ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những điều kiện mới, nơi mà "thuyền to thì sóng lớn". Các nguy cơ từ năm 1994 như tụt hậu kinh tế, "diễn biến hòa bình", chệch hướng xã hội chủ nghĩa và tham nhũng vẫn hiện hữu, thậm chí diễn biến phức tạp hơn. Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nếu cán bộ không vững vàng về chính trị, tư tưởng thì rất dễ dẫn đến mất cảnh giác, dao động, thậm chí là "tự diễn biến".
Xin ông phân tích sâu hơn về nội dung kiên định đầu tiên: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh?
Đây là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chúng ta kiên định không phải là giáo điều, máy móc mà là vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam và yêu cầu thời đại. Thực tế đã chứng minh sở dĩ chúng ta thắng được các đế quốc lớn là nhờ sức mạnh của ý chí và tư tưởng. Khi sức mạnh "cứng" (vũ khí, trang thiết bị) của ta còn hạn chế, thì chính chính trị, tư tưởng đã biến những con người bình thường thành anh hùng.
Ngày nay, giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn còn nguyên vẹn. Ngay cả các học giả tư sản phương Tây cũng có những công trình chứng minh tính đúng đắn trong các luận điểm của Mác. Việc kiên định nền tảng này giúp chúng ta không bị lạc lối trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, một chế độ hướng tới việc giải quyết triệt để các bất công và đem lại hạnh phúc thực sự cho con người, điều mà các chế độ khác chưa làm được.
Nội dung kiên định thứ hai được Tổng Bí thư nhắc tới là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Thưa ông, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, mục tiêu này cần được hiểu và bảo vệ như thế nào?
Đây là sự lựa chọn mang tính lịch sử, là mục tiêu và lý tưởng của Đảng ta ngay từ khi mới thai nghén. Độc lập dân tộc là điều kiện cần, còn Chủ nghĩa xã hội là điều kiện đủ để đất nước phát triển bền vững. Cần lưu ý rằng độc lập dân tộc bao gồm độc lập cả về chủ quyền lẫn đường lối. Nếu chúng ta lơi lỏng, không kiên định, chúng ta có thể mất quyền tự chủ bất cứ lúc nào, không chỉ về chủ quyền lãnh thổ mà còn về đường lối chính trị.
Việc kiên định mục tiêu này giúp chúng ta thoát khỏi sự khủng hoảng về đường lối mà các phong trào yêu nước trước đây từng gặp phải. Trong thời đại mới, việc xây dựng Chủ nghĩa xã hội chính là tạo ra nguồn lực và sức mạnh tổng hợp để bảo vệ nền độc lập đó một cách tốt hơn. Hai ngọn cờ này phải luôn song hành, không thể buông lơi bất cứ phía nào.
Một điểm rất mới và quan trọng là kiên định đường lối đổi mới của Đảng. Ông có thể lý giải vì sao nội dung này lại được đặt ngang hàng với các nền tảng tư tưởng cốt lõi?
Điều này cho thấy sự trưởng thành vượt bậc về lý luận của Đảng. Sau gần 40 năm đổi mới, chúng ta đã hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối này, đủ để xác định đó là một cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng bên cạnh chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới là quá trình có tính quy luật để giải phóng sức sản xuất và khơi thông nguồn lực.
Kiên định đổi mới có nghĩa là đổi mới đúng định hướng, đổi mới có nguyên tắc chứ không phải là sự thay đổi vô nguyên tắc. Nhờ kiên định đường lối này, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đã thay đổi căn bản. Từ chỗ mong muốn thêm bạn bớt thù, phá thế bao vây cấm vận, đến nay chúng ta đã sẵn sàng là đối tác tin cậy và tham gia định hình các cơ chế quốc tế. Sự ghi nhận của thế giới đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay cả từ những quốc gia có thể chế chính trị khác biệt, chính là minh chứng rõ nhất cho sự đúng đắn của đường lối này.
Nội dung kiên định cuối cùng là kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Vì sao đây lại là chìa khóa để bảo vệ Đảng từ bên trong, thưa ông?
Các nguyên tắc như tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình là điều kiện bắt buộc để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh. Thực tế cho thấy, hầu hết các sai phạm của cán bộ dẫn đến xử lý kỷ luật thời gian qua đều bắt nguồn từ việc vi phạm các nguyên tắc tổ chức này. Kiên định các nguyên tắc này giúp giữ vững kỷ luật, kỷ cương và bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động trong toàn Đảng.
Bên cạnh đó, quy định mới cũng hướng tới việc để nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên. Dân là gốc, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân giám sát. Khi các nguyên tắc được công khai, nhân dân sẽ là thước đo chuẩn xác nhất để đánh giá sự gương mẫu của người đảng viên. Quy định này thực chất là để cấp ủy, đảng viên tốt hơn, gương mẫu hơn để phục vụ nhân dân tốt hơn.
Xin cảm ơn ông!

