Theo thông tin từ UBND tỉnh Quảng Ninh, trong 3 ngày nghỉ lễ (từ 30/4-2/5), Quảng Ninh đón khoảng 810.000 lượt du khách. Trong đó khách nội địa đạt khoảng 782.300 lượt, khách quốc tế đạt khoảng 27.700 lượt. Trong đó khách lưu trú ước đạt 330.000 lượt, tổng doanh thu du lịch ước đạt 2.510 tỷ đồng.
Các điểm đến chủ lực tiếp tục ghi nhận lượng khách ổn định. Trong 3 ngày nghỉ lễ, Vịnh Hạ Long đón gần 56.500 lượt, công viên Sun World Hạ Long đón khoảng 47.000 lượt. Bảo tàng Quảng Ninh đón trên 20.500 lượt, quần thể Di sản văn hóa thế giới Yên Tử đón 18.100 lượt, khu di tích Nhà Trần đón gần 5.800 lượt; Khu di tích Bạch Đằng đón khoảng 10.200 lượt…
Thời tiết thuận lợi cũng đã kéo du khách đổ về các bãi tắm trên địa bàn Quảng Ninh tạo nên không khí nhộn nhịp, sôi động. Không chỉ tại Hạ Long, Bãi Cháy, nhiều bãi biển nổi tiếng và các điểm đến khu vực Cô Tô, Vân Đồn cũng ghi nhận lượng khách tăng cao, mang đến diện mạo rực rỡ, đa sắc màu cho du lịch biển của tỉnh trong những ngày đầu hè.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
Một năm triển khai Nghị quyết 68: Doanh nghiệp làm trung tâm, hiệu quả làm thước đo

Nghị quyết 68 là một trong các Nghị quyết được Đảng, Nhà nước xác định là một định hướng lớn, có ý nghĩa chiến lược trong việc thúc đẩy, phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, là quyết sách quan trọng để tạo nền tảng đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững.
Sau gần một năm triển khai Nghị quyết 68, khu vực kinh tế tư nhân đang ghi nhận những chuyển biến tương đối rõ nét cả về quy mô và chất lượng phát triển. Nhiều chính sách đã bắt đầu đi vào thực chất, tạo động lực mới cho tăng trưởng.
Báo chí đã có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Tâm để làm rõ hơn những tác động tích cực của Nghị quyết 68 tới cộng đồng kinh doanh cũng như môi trường doanh nghiệp.
PV: Thưa Thứ trưởng, Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị được xem là một bước ngoặt trong tư duy phát triển. Sau một năm kể từ khi Nghị quyết được ban hành, Thứ trưởng đánh giá như thế nào về những kết quả ban đầu và chuyển biến của khu vực kinh tế tư nhân?
Thứ trưởng Nguyễn Đức Tâm: Sau gần một năm triển khai, Nghị quyết 68 đã tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp và kinh doanh trong xã hội.
Năm 2025, cả nước có gần 297.500 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 27,4% so với năm 2024. Tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế của khu vực kinh tế tư nhân ước đạt gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8%.
Đà phục hồi và gia nhập thị trường tiếp tục được duy trì trong 4 tháng đầu năm 2026. Cả nước ước đạt gần 75.000 doanh nghiệp thành lập mới, cùng với đó là hơn 48.000 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Qua đó nâng tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường lên gần 123.000 doanh nghiệp, tăng 36,7%. Tính đến hết ngày 18/5/2026, cả nước có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động.
Cùng với đà phục hồi kinh tế và niềm tin gia tăng của khu vực kinh tế tư nhân, việc chuẩn bị thành công lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán đã tạo động lực mới cho dòng vốn đầu tư.
Giá trị giao dịch bình quân từ đầu năm 2026 đạt khoảng 32.700 tỷ đồng/phiên, tăng 12,1% so với bình quân năm trước. Tính đến hết tháng 4/2026, tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường chứng khoán Việt Nam đạt khoảng 10,5 triệu tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay. Con số này tương đương khoảng 82% GDP Việt Nam năm 2025 (524 tỷ USD). Số lượng nhà đầu tư tiếp tục bùng nổ, đạt gần 13 triệu tài khoản, tăng hơn 29% so với cuối năm 2024.
Kết quả phục hồi và tăng trưởng sản xuất - kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục tác động tích cực tới thu ngân sách Nhà nước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, tổng thu ngân sách Nhà nước ước đạt 1.114 nghìn tỷ đồng, bằng 44% dự toán và tăng 15,2% so với cùng kỳ.
PV: Nghị quyết 68 đặt trọng tâm vào cải cách thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính và chuyển từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân. Thứ trưởng đánh giá như thế nào về kết quả triển khai và những chuyển biến thực chất thời gian qua?
Thứ trưởng Nguyễn Đức Tâm: Ngay từ đầu tháng 4/2026, với sự chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ đã ban hành 11 Nghị quyết về cắt giảm (bãi bỏ), phân cấp và đơn giản hóa các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc các lĩnh vực quan trọng như tư pháp, đầu tư, môi trường…
Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 15 Quyết định phê duyệt Phương án cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của 14 Bộ, dự kiến sẽ bãi bỏ 606 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 2.479 thủ tục hành chính.
Tính đến ngày 15/4/2026, các bộ, ngành đã thực thi phương án đơn giản hóa và chủ động cắt giảm 292 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 1.640 thủ tục kinh doanh; cắt giảm 2.594/6.974 đăng ký doanh nghiệp (đạt tỉ lệ 37,2%); tương ứng cắt giảm 30,9% thời gian thực hiện thủ tục hành chính (khoảng 27.704 ngày/89.721 ngày) và 38% chi phí tuân thủ (khoảng 45.500 tỷ đồng/ 120.000 tỷ đồng).
Luật Đầu tư 2025 có hiệu lực từ tháng 3/2026 đã rà soát, cắt giảm mạnh danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Theo đó, Chính phủ đã trình Quốc hội cắt giảm 38 ngành, nghề và điều chỉnh phạm vi 20 ngành, nghề.
Đồng thời, Luật bổ sung các quy định để làm rõ nguyên tắc xác định điều kiện đầu tư kinh doanh, qua đó rà soát, sàng lọc, phân định các ngành, nghề thực sự cần thực hiện "tiền kiểm" và chuyển các ngành, nghề có thể kiểm soát bằng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật do cấp có thẩm quyền ban hành sang cơ chế "hậu kiểm", góp phần giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Không dừng lại ở đó, trong giữa tháng 5, Chính phủ đã ban hành 3 Nghị quyết đặc giúp từ ngày 1/7/2026, số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện sẽ giảm từ 198 xuống còn 142, gồm: kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm, vàng, xăng dầu, vận tải hàng không, bất động sản, dịch vụ viễn thông…
PV: Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết 68 là tăng cường cơ hội tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh cho kinh tế tư nhân. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, mặt bằng không chỉ là điều kiện sản xuất, mà còn là không gian để đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Thứ trưởng nhìn nhận như thế nào về ý nghĩa của chính sách này? Theo Thứ trưởng, đâu là hướng tiếp cận cần ưu tiên để chính sách mặt bằng thực sự trở thành động lực hỗ trợ doanh nghiệp phát triển?
Thứ trưởng Nguyễn Đức Tâm: Tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh là một trong những điểm nghẽn lớn, kéo dài đối với khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trong khi đó, dư địa phát triển mặt bằng sản xuất của nước ta còn rất lớn. Tính đến hết năm 2025, cả nước đã có 478 khu công nghiệp được thành lập; trong đó 324 khu đã đi vào hoạt động với khoảng 68.000 ha đất công nghiệp, 153 khu đang trong quá trình xây dựng, dự kiến bổ sung khoảng 32.600 ha đất công nghiệp trong thời gian tới.
Tuy nhiên, tỉ lệ lấp đầy tại các khu công nghiệp đã hoạt động đạt khoảng 78,8%, cho thấy nhu cầu mặt bằng sản xuất còn rất cao, trong khi DNNVV vừa thường gặp bất lợi hơn trong cạnh tranh thuê đất, thuê nhà xưởng so với các doanh nghiệp lớn.
Trong thời gian tới, trọng tâm phải đưa chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất đi vào thực chất, chuyển từ cách tiếp cận hỗ trợ chung sang hỗ trợ cụ thể, các địa phương cần nhanh chóng bố trí, dành quỹ đất cho các DNNVV.
Về phía Bộ Tài chính, trong quá trình xây dựng dự thảo Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi), dự kiến trình Chính phủ để báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 tháng 10/2026, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chính sách hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh theo hướng quy định rõ hơn trách nhiệm của địa phương, cơ chế công khai quỹ đất, phương thức hỗ trợ và nhóm đối tượng ưu tiên.
Mục tiêu là để chính sách về hỗ trợ mặt bằng không chỉ tháo gỡ khó khăn trước mắt, mà còn tạo lập một "đường băng" dài hạn, giúp DNNVV có thêm không gian phát triển, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh.
PV: Thưa Thứ trưởng, Nghị quyết số 198/2025/QH15 đã thể chế định hướng tại Nghị quyết 68 khi giao Chính phủ xây dựng và triển khai Chương trình đào tạo 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030. Thứ trưởng có thể chia sẻ những điểm đột phá của Chương trình cũng như lộ trình triển khai trong thời gian tới?
Thứ trưởng Nguyễn Đức Tâm: Phần lớn doanh nghiệp tư nhân phát triển từ hộ kinh doanh gia đình nên còn hạn chế về kỹ năng quản trị như quản trị dòng tiền, nhân lực, khách hàng; đồng thời, do quy mô nhỏ, mức độ chuyên nghiệp và khả năng trả lương còn thấp, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa khó thu hút nhân lực chất lượng cao.
Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao, Bộ Tài chính đã khẩn trương nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và đánh giá thực tiễn công tác đào tạo, bồi dưỡng cho doanh nghiệp tại Việt Nam để trình Thủ tướng Chính phủ thông qua Quyết định phê duyệt Chương trình đào tạo, bồi dưỡng 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030.
Chương trình được thiết kế với nhiều nội dung mới, đột phá: các khóa đào tạo được phân loại cho nhiều đối tượng (lãnh đạo cấp chiến lược; giám đốc điều hành; giám đốc chuyên môn; quản trị kinh doanh thực chiến; lãnh đạo kế cận). Đặc biệt, với phương thức hỗ trợ qua phiếu học bổng, doanh nghiệp sẽ được lựa chọn chính xác dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ phù hợp nhất với nhu cầu của mình, điều này góp phần tạo ra thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh cạnh tranh hơn cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, học viên sau khi hoàn thành khóa đào tạo còn được tham gia các chương trình như: Chương trình Phòng thí nghiệm lãnh đạo (CEO Lab), Chương trình sẵn sàng CEO (CEO Readiness Program), Chương trình Trò chuyện doanh nhân (CEO Talk)…
PV: Năm 2026 được kỳ vọng là giai đoạn chuyển mạnh từ hoàn thiện chính sách sang tổ chức thực hiện, từ chủ trương sang kết quả cụ thể. Từ góc độ người trực tiếp theo dõi, chỉ đạo công tác triển khai Nghị quyết số 68, Thứ trưởng kỳ vọng điều gì ở chặng đường sắp tới? Theo Thứ trưởng, đâu là những việc cần làm quyết liệt nhất để khu vực tư nhân cảm nhận rõ hơn sự thay đổi từ chính sách?
Thứ trưởng Nguyễn Đức Tâm: Sau một năm triển khai Nghị quyết 68, có thể nói nhận thức về kinh tế tư nhận được khẳng định trong toàn hệ thống chính trị và xã hội, thể chế và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đã được củng cố rõ hơn. Vấn đề đặt ra trong giai đoạn tới là làm sao để những chủ trương, chính sách đã được ban hành chuyển hóa nhanh hơn thành kết quả cụ thể trong thực tiễn.
Doanh nghiệp cần cảm nhận được sự thay đổi không chỉ qua thông điệp đồng hành, mà qua thủ tục thuận lợi hơn, chi phí tuân thủ thấp hơn, khả năng tiếp cận nguồn lực tốt hơn và sự chủ động hơn từ cơ quan Nhà nước trong hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân.
Vì vậy, từ năm 2026 cần được xem là giai đoạn hành động thực chất, tập trung mạnh vào tổ chức thực hiện và đo lường hiệu quả chính sách bằng chính trải nghiệm của doanh nghiệp, hộ kinh doanh.
Bộ Tài chính đang tập trung rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân. Trong đó tập trung vào sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn về đầu tư, thuế, phí và lệ phí, trái phiếu doanh nghiệp, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Đối với các bộ, ngành, địa phương cần chủ động, quyết liệt triển khai; bố trí nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ để các chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống; đảm bảo nhiệm vụ có kết quả đầu ra, KPI cụ thể và đánh giá trên mức độ tiếp cận, hài lòng của doanh nghiệp, hộ kinh doanh...
Tôi muốn nhấn mạnh một thông điệp xuyên suốt, nhất quán, không thay đổi, đó là "lấy doanh nghiệp làm trung tâm - lấy hiệu quả làm thước đo - lấy kết quả thực tế làm đánh giá cuối cùng". Phát triển kinh tế tư nhân là mệnh lệnh từ thực tiễn, là yêu cầu chiến lược lâu dài, là thước đo năng lực điều hành của bộ máy Nhà nước.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
2 trạng thái mã số thuế cảnh báo hộ kinh doanh có thể bị phong tỏa tài khoản

Thuế cơ sở 7 tỉnh Đắk Lắk vừa khuyến nghị người nộp thuế (hộ kinh doanh, doanh nghiệp, tổ chức) chủ động tra cứu tình trạng mã số thuế để kịp thời hoàn thành các nghĩa vụ theo quy định đối với mã số thuế ở 2 trạng thái dưới đây.
Thứ nhất, người nộp thuế đã thông báo giải thể, chấm dứt hoạt động nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế (trạng thái 03).
Thứ hai, người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, đã được cơ quan thuế xác minh và thông báo theo quy định (trạng thái 06).
Nếu không xử lý kịp thời, người nộp thuế có thể gặp các rủi ro như: bị tính tiền chậm nộp, xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn; bị áp dụng các biện pháp quản lý, cưỡng chế thuế theo quy định (phong tỏa tài khoản ngân hàng, khấu trừ tiền, tạm hoãn xuất cảnh…).
Không được sử dụng hóa đơn, mã số thuế trong các giao dịch kinh tế; ảnh hưởng uy tín, khả năng vay vốn, tham gia đấu thầu, mở rộng kinh doanh. Ngoài ra, người đại diện pháp luật, chủ hộ kinh doanh có thể bị liên đới trách nhiệm về nghĩa vụ chưa hoàn thành.
Để hoàn thành nghĩa vụ thuế, với mã số thuế đang ở trạng thái 03, người nộp thuế cần làm các bước sau:
Rà soát và kê khai đầy đủ: rà soát các tờ khai thuế còn thiếu, khai bổ sung (nếu có); nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân; rà soát hóa đơn, xử lý hóa đơn chưa sử dụng, sai sót.
Thanh toán nghĩa vụ tài chính: nộp đủ thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt (nếu có); xử lý số thuế nộp thừa, số thuế giá trị gia tăng chưa khấu trừ.
Phối hợp với cơ quan thuế cung cấp hồ sơ, tài liệu theo yêu cầu; giải trình, làm việc với cơ quan thuế.
Cuối cùng, cơ quan thuế ban hành thông báo hoàn thành nghĩa vụ thuế; mã số thuế được cập nhật sang trạng thái 01 (đã hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế).
Đối với trạng thái 06, người nộp thuế cần lựa chọn một trong 2 phương án sao cho phù hợp.
Nếu không tiếp tục hoạt động: người nộp thuế nộp hồ sơ 24/ĐK-TCT tại cơ quan thuế; hoàn thành nghĩa vụ thuế, hóa đơn; nhận thông báo hoàn thành nghĩa vụ thuế; mã số thuế được cập nhật sang trạng thái 01.
Nếu muốn tiếp tục hoạt động: người nộp thuế nộp hồ sơ 25/ĐK-TCT tại cơ quan thuế; phối hợp xác minh địa chỉ; hoàn thành nghĩa vụ thuế, hóa đơn (nếu có); nhận thông báo khôi phục hiệu lực mã số thuế; mã số thuế được khôi phục để sử dụng.
Trường hợp người nộp thuế không xử lý có thể gây phát sinh các biện pháp quản lý, cưỡng chế theo quy định của pháp luật.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Quốc hội giao mục tiêu GDP tăng từ 10% mỗi năm, khoán chỉ tiêu từng địa phương

Trong Nghị quyết, Quốc hội đã thông qua mục tiêu tổng quát, trong đó phát triển nhanh, bền vững đất nước; phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân, phấn đấu GDP bình quân đầu người đến năm 2030 là 8.500 USD.
Thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới. 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế đến năm 2030. 20 doanh nghiệp lớn tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu đến năm 2030…
Để đạt được các mục tiêu tăng trưởng trên, Quốc hội yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới lấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành kinh tế, tập trung phát triển năng lực sản xuất; thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống từ đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu và phát triển mạnh mẽ các ngành, lĩnh vực, mô hình kinh tế mới.
Chú trọng phát triển các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp lớn có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu. Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài; đổi mới chính sách thu hút FDI theo hướng chuyển từ trọng tâm ưu đãi thuế sang các chính sách ưu đãi khác, áp dụng ưu đãi sau - ưu đãi theo kết quả.
Quốc hội cũng yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Trong đó bảo đảm cung ứng vốn cho nền kinh tế thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số" gắn với kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
"Nâng cao năng lực dự báo, chủ động phòng ngừa, kiên quyết không để xảy ra khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống", Nghị quyết nêu.
Quốc hội nhấn mạnh viêc ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước làm kênh huy động vốn dài hạn, giảm sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng.
Triển khai các giải pháp để nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, nâng hạng thị trường chứng khoán. Ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do trong việc thu hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp, các quỹ đầu tư quốc tế. Mở rộng tỉ lệ sở hữu nước ngoài tại các ngành nghề không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.
Yêu cầu hiện đại hoá hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng, đẩy mạnh việc xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, sở hữu chéo, nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng, giữ vững ổn định, an toàn hệ thống.
Tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước từ các nguồn: Lợi nhuận sau thuế và trích lập các quỹ, phát hành cổ phiếu, ngân sách nhà nước… theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế.
Phát triển lành mạnh và đa dạng hoá các nguồn vốn, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp trong nước, ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, kinh tế tập thể.
Quốc hội cũng yêu cầu tập trung đầu tư các tuyến đường bộ cao tốc theo quy hoạch, các cảng biển cửa ngõ kết hợp trung chuyển quốc tế, các cảng hàng không lớn, tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, các tuyến đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt đô thị; đến năm 2030 đưa vào sử dụng trên 5.000 km đường bộ cao tốc.
Xây dựng các tuyến giao thông trọng yếu kết nối liên vùng, kết nối các cảng biển, cảng hàng không và cửa khẩu quốc tế lớn. Phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế cao, bảo đảm an ninh năng lượng.
Hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu. Đẩy mạnh liên kết vùng, nội vùng, mở rộng và tổ chức lại không gian phát triển phù hợp với hệ thống hành chính mới. Đẩy nhanh tốc độ, nâng cao chất lượng đô thị hoá.
Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản quan trọng, nhất là tài nguyên biển, đất hiếm. Phát triển và vận hành hiệu quả các thị trường bất động sản, quyền sử dụng đất, khoáng sản, năng lượng.
Quốc hội yêu cầu thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động; đổi mới quản trị thực thi để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế "2 con số". Trong đó, xác định tầm quan trọng và yêu cầu chiến lược, cấp bách thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số" gắn với ổn định vĩ mô, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.
"Xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, phải cụ thể hoá trong các chương trình, kế hoạch công tác hằng năm, có nhiệm vụ, kết quả, sản phẩm cụ thể cho từng ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương gắn với trách nhiệm người đứng đầu; kiểm tra, giám sát, đánh giá dựa trên tiêu chí kết quả thực hiện", Quốc hội yêu cầu.
Trong Nghị quyết, Quốc hội đã giao cụ thể mục tiêu tăng trưởng cho từng địa phương.
Cụ thể, địa phương được giao mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026 và bình quân giai đoạn 2026-2030 cao nhất là Hải Phòng, với 13-13,5% tăng trưởng GRDP năm 2026 và bình quân giai đoạn 2026 - 2030 là 13-14%. Trong khi đó, Hà Nội được giao mục tiêu GRDP 2026 là 10-10,5% và 10,5-11% cho cả giai đoạn; Tp.HCM được giao 10% cho cả 2 mục tiêu.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

