Theo thông tin từ UBND tỉnh Quảng Ninh, trong 3 ngày nghỉ lễ (từ 30/4-2/5), Quảng Ninh đón khoảng 810.000 lượt du khách. Trong đó khách nội địa đạt khoảng 782.300 lượt, khách quốc tế đạt khoảng 27.700 lượt. Trong đó khách lưu trú ước đạt 330.000 lượt, tổng doanh thu du lịch ước đạt 2.510 tỷ đồng.
Các điểm đến chủ lực tiếp tục ghi nhận lượng khách ổn định. Trong 3 ngày nghỉ lễ, Vịnh Hạ Long đón gần 56.500 lượt, công viên Sun World Hạ Long đón khoảng 47.000 lượt. Bảo tàng Quảng Ninh đón trên 20.500 lượt, quần thể Di sản văn hóa thế giới Yên Tử đón 18.100 lượt, khu di tích Nhà Trần đón gần 5.800 lượt; Khu di tích Bạch Đằng đón khoảng 10.200 lượt…
Thời tiết thuận lợi cũng đã kéo du khách đổ về các bãi tắm trên địa bàn Quảng Ninh tạo nên không khí nhộn nhịp, sôi động. Không chỉ tại Hạ Long, Bãi Cháy, nhiều bãi biển nổi tiếng và các điểm đến khu vực Cô Tô, Vân Đồn cũng ghi nhận lượng khách tăng cao, mang đến diện mạo rực rỡ, đa sắc màu cho du lịch biển của tỉnh trong những ngày đầu hè.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) từ đầu tháng 4 triển khai chứng chỉ tiền gửi trực tuyến trên nền tảng ứng dụng VCB Digibank dành cho khách hàng cá nhân với lãi suất tối đa lên tới 7,9%/năm, cao hơn khoảng 2 điểm phần trăm so với lãi suất gửi tiết kiệm thông thường. Cụ thể, khách hàng có thể mua trực tuyến chứng chỉ tiền gửi của Vietcombank với mệnh giá tối thiểu từ 100.000 đồng, kỳ hạn 6 tháng sẽ có lãi suất 7,5%/năm và 12 tháng là 7,9%/năm.
Đáng chú ý, so với đợt phát hành cuối tháng 1, Vietcombank đã có sự điều chỉnh đáng kể về lãi suất. Trước đó, ngân hàng này chỉ phát hành chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 12 tháng với lãi suất cố định 6%/năm. Khách hàng không được tất toán trước hạn nhưng khách hàng có thể bán lại cho Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS) trực tiếp trên ứng dụng. Đồng thời, tài sản này cũng có thể chuyển nhượng, cầm cố vay vốn hoặc sử dụng cho các mục đích hợp pháp khác.
Một nhà băng khác là Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) cũng triển khai chứng chỉ tiền gửi online với mức sinh lời cao hơn rõ rệt so với tiền gửi tiết kiệm thông thường. Cụ thể, lãi suất áp dụng cho kỳ hạn 6 tháng lên tới 7,6%/năm và 15 tháng lên 7,8%/năm. Sản phẩm có mệnh giá tối thiểu từ 10 triệu đồng. Chương trình này được thực hiện từ cuối tháng 3 đến hết tháng 6 hoặc đến khi hết hạn mức phát hành 1.000 tỉ đồng. Lãi suất chứng chỉ tiền gửi này cao hơn đến 0,3 điểm phần trăm so với lãi suất gửi tiền online tại BVBank với mức cao nhất là 7,2%/năm cho kỳ hạn từ 12 - 24 tháng.
Tương tự, Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank) đang phát hành chứng chỉ tiền gửi đợt 2/2026 với tổng mệnh giá 2.000 tỉ đồng. Theo đó, chứng chỉ tiền gửi tại ngân hàng này được áp dụng cho hai kỳ hạn 6 và 7 tháng với lãi suất lần lượt 7,89% và 7,99%/năm. Lãi được chi trả định kỳ hằng tháng, chuyển trực tiếp vào tài khoản thanh toán cho nhà đầu tư. Thời gian phát hành kéo dài đến giữa tháng 6 hoặc khi phát hành đủ mệnh giá nêu trên. Nếu khách hàng đề nghị thanh toán chứng chỉ tiền gửi trước ngày đến hạn thì phải chịu phí 0,05%/mệnh giá chứng chỉ tiền gửi.
Trong khi đó, Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) cũng phát hành chứng chỉ tiền gửi An Phúc và khách hàng có thể đăng ký online. Chứng chỉ tiền gửi này có kỳ hạn 24 tháng, mệnh giá 10 triệu đồng/chứng chỉ. Lãi suất của chứng chỉ tiền gửi An Phúc bằng lãi suất tham chiếu cộng biên độ 1%/năm và được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần kể từ ngày phát hành. Theo thông báo từ ABBank, lãi suất tham chiếu chứng chỉ tiền gửi này từ ngày 7.4 là 5%/năm, tương ứng chủ sở hữu chứng chỉ tiền gửi sẽ nhận lãi 6%/năm. Mức lãi suất này thấp hơn lãi suất gửi tiết kiệm thông thường lên đến 6,3%/năm cho kỳ hạn từ 6 tháng trở lên của chính nhà băng này...
Nguồn: https://thanhnien.vn/lai-suat-chung-chi-tien-gui-ngan-hang-len-8-nam-185260409100917271.htm

Ngày 6/5, Bộ Tài chính tổ chức Hội nghị công bố điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia và các quy hoạch vùng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương cho biết, quy hoạch lần này đã điều chỉnh, mở rộng hợp lý 4 vùng động lực quốc gia bao gồm vùng động lực phía Bắc, vùng động lực phía Nam, vùng động lực miền Trung, vùng động lực đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời bổ sung vùng động lực Bắc Trung Bộ để phát huy tốt hơn tiềm năng, lợi thế của các khu vực gắn với khai thác hiệu quả không gian phát triển mới.
Định hướng phát triển các vùng động lực quốc gia, nhất là 2 vùng động lực phía Bắc và phía Nam trở thành vùng đi đầu về phát triển các ngành dịch vụ hiện đại, chất lượng cao; các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn; phát triển nhanh công nghiệp công nghệ số và các ngành công nghiệp mới nổi; đi đầu trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, xã hội số…
Ưu tiên hình thành, phát triển tại các vùng động lực: khu thương mại tự do, khu công nghệ cao và mô hình khu chức năng khác, phù hợp với xu thế chung của thế giới, được áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù, tạo môi trường hấp dẫn vượt trội để tăng cường thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao.
Tiếp tục hình thành và phát triển các hành lang kinh tế theo trục Bắc - Nam, các hành lang kinh tế Đông - Tây, các vành đai kinh tế ven biển; trong đó ưu tiên hành lang kinh tế Bắc - Nam, hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, hành lang kinh tế Mộc Bài - Tp.HCM - Biên Hòa - Vũng Tàu.
Phát triển các vành đai công nghiệp - đô thị - dịch vụ tại các vùng động lực, vùng đô thị lớn, nhất là gắn với vành đai 4, vành đai 5 vùng Thủ đô Hà Nội và vành đai 3, vành đai 4 Tp.HCM. Hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng quốc gia, tập trung vào hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị, hạ tầng nông thôn, hạ tầng năng lượng, hạ tầng số, hạ tầng văn hóa, xã hội, hạ tầng thủy lợi và phòng, chống thiên tai.
Một điểm mới nữa của điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia là đã thể chế hóa hệ thống phân vùng kinh tế - xã hội mới phù hợp với các đơn vị hành chính sau sắp xếp, tạo điều kiện khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế của các vùng và từng địa phương trong vùng, đồng thời thúc đẩy liên kết vùng.
Trên cơ sở đó, định hướng phát triển của 6 vùng cũng được xác định rõ trong các quy hoạch vùng điều chỉnh, phù hợp với tiềm năng, lợi thế của mỗi vùng, góp phần hình thành một không gian phát triển thống nhất, hiệu quả trên phạm vi cả nước.
Quy hoạch xác định rõ không gian phát triển đất nước với 6 vùng kinh tế - xã hội gồm:
Vùng trung du miền núi phía Bắc gồm 9 tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên. Vùng Trung du và miền núi phía Bắc, tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 9 - 10%/năm, phát triển vùng theo hướng xanh, bền vững và toàn diện.
Vùng đồng bằng Sông Hồng gồm 6 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình. Vùng Đồng bằng sông Hồng có mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 11%/năm, là động lực phát triển hàng đầu, dẫn dắt quá trình cơ cấu lại nền kinh tế.
Vùng Bắc Trung bộ gồm 5 tỉnh, thành phố: Huế, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị. Vùng Bắc Trung Bộ, tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 10 - 10,5%/năm, ưu tiên phát triển các khu kinh tế ven biển tạo đột phá tăng trưởng.
Vùng Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên gồm 6 tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 9,5 - 10%/năm, tăng cường liên kết, phát huy hiệu quả chuỗi không gian biển - cao nguyên - biên giới.
Vùng Đông Nam Bộ gồm 3 tỉnh, thành phố: Tp.HCM, Đồng Nai, Tây Ninh. Vùng Đông Nam Bộ tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 10 - 11%/năm, xây dựng trở thành vùng phát triển năng động, động lực tăng trưởng lớn nhất cả nước; trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long gồm 5 tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Cà Mau. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tăng trưởng GRDP bình quân đạt 9 - 9,5%/năm, phát triển thành trung tâm kinh tế nông nghiệp hiện đại, bền vững, năng động.
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, công bố điều chỉnh quy hoạch tổng thể quốc gia và quy hoạch sáu vùng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050.
Theo Phó Thủ tướng, trong bối cảnh Đại hội XIV của Đảng thành công, đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen. Tình hình thế giới diễn biến nhanh, phức tạp, cạnh tranh chiến lược gia tăng, trong khi trong nước yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh ngày càng cấp thiết, đòi hỏi quy hoạch phải đi trước, làm nền tảng dẫn dắt phát triển.
Dẫn lại định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm rằng quy hoạch là tư duy phát triển được không gian hóa, theo Phó Thủ tướng, quy hoạch tổng thể phải mang tính tích hợp đa mục tiêu dài hạn, tạo cấu trúc phát triển hợp lý, sử dụng hiệu quả nguồn lực, phân bổ không gian cân đối, tăng cường liên kết vùng và mở rộng dư địa tăng trưởng cho nền kinh tế trong tương lai.
Việc điều chỉnh quy hoạch lần này nhằm cập nhật kịp thời các định hướng lớn từ Văn kiện Đại hội XIV và các nghị quyết của Trung ương. Quy hoạch xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá, phương hướng phát triển ngành, lĩnh vực và tổ chức không gian ở cả cấp quốc gia và vùng. Đây là cơ sở quan trọng để cụ thể hóa chiến lược phát triển, nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành phát triển kinh tế - xã hội.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Sáng 22/5, dưới sự chỉ đạo của Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), Tạp chí Tiếp thị & Gia đình đã tổ chức tọa đàm với chủ đề: "Truy xuất nguồn gốc – Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng".
Phát biểu khai mạc Tọa đàm, ông Trần Hữu Linh - Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho rằng, vấn đề truy xuất nguồn gốc hiện mang tính thời sự cao trong bối cảnh pháp luật ngày càng đặt ra yêu cầu chặt chẽ về minh bạch nguồn gốc hàng hóa, cùng với sức ép hội nhập kinh tế trong nước và quốc tế.
Bên cạnh đó, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng giả, hàng nhái cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải ứng dụng công nghệ vào hoạt động truy xuất nguồn gốc.
Ông cho biết xu hướng quản lý hiện nay cũng đang chuyển dần từ "hậu kiểm" sang "tiền kiểm", đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động minh bạch thông tin ngay từ đầu trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
Đại diện Bộ Công Thương nhấn mạnh, truy xuất nguồn gốc là khái niệm được nhắc đến rất nhiều thời gian qua, tuy nhiên nếu không có cách hiểu và định nghĩa thống nhất thì rất dễ triển khai theo phong trào, không đạt đúng mục tiêu thực chất.
"Trước đây từng có giai đoạn nhiều doanh nghiệp chạy theo trào lưu làm tem chống hàng giả và cho rằng như vậy là đã chống được hàng giả. Với truy xuất nguồn gốc cũng cần nhìn nhận lại bản chất vấn đề để hiểu đúng và làm đúng", ông Linh nêu quan điểm.
Ông Hoàng Vững - Tổng biên tập Tạp chí Tiếp thị & Gia đình cho rằng, truy xuất nguồn gốc không phải là câu chuyện mới khi vấn đề này đã được nhắc đến và triển khai trong nhiều năm qua. Thực tế, nhiều doanh nghiệp hiện nay đã áp dụng các giải pháp truy xuất nguồn gốc từ vài năm trước, với hàng triệu sản phẩm được đưa ra thị trường.
"Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, truy xuất nguồn gốc đang trở thành một từ khóa đặc biệt nóng", ông Vững nhấn mạnh.
Theo ông, hiện có ít nhất hai thông tư đang được Bộ xem xét ban hành trong thời gian tới, gồm Thông tư quy định về truy xuất nguồn gốc và Thông tư ban hành danh mục hàng hóa có nguy cơ cao, nguy cơ trung bình. Đây là các văn bản nhằm cụ thể hóa việc triển khai Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15 (sửa đổi, bổ sung Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007) và Nghị định số 37 quy định chi tiết một số điều, biện pháp tổ chức thực hiện luật.
Đáng chú ý, theo định hướng của các quy định mới, những mặt hàng thuộc nhóm rủi ro cao dự kiến sẽ bắt buộc thực hiện truy xuất nguồn gốc. Đồng thời, Nhà nước cũng khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng truy xuất nguồn gốc đối với các sản phẩm, hàng hóa khác nhằm nâng cao tính minh bạch, bảo đảm chất lượng và tăng cường niềm tin của người tiêu dùng.
Từ câu chuyện chống hàng giả, bảo vệ thương hiệu đến nâng cao năng lực quản trị và đáp ứng yêu cầu minh bạch của thị trường, nhiều doanh nghiệp cho rằng truy xuất nguồn gốc đang chuyển từ nhu cầu tự nguyện sang yêu cầu bắt buộc trong quá trình phát triển bền vững.
Ông Nguyễn Quốc An - Phó Tổng Giám đốc Công ty Super Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao cho biết doanh nghiệp đã triển khai hệ thống mã QR cho sản phẩm từ năm 2021. Với một thương hiệu có hơn 60 năm phát triển và mỗi năm cung ứng hàng triệu tấn phân bón ra thị trường, việc ứng dụng truy xuất nguồn gốc trước hết nhằm bảo vệ thương hiệu trước tình trạng hàng giả, hàng nhái.
"Động lực lớn nhất xuất phát từ nhu cầu tự thân của doanh nghiệp trong việc bảo vệ thương hiệu và kiểm soát hàng hóa. Là thương hiệu lớn, sản phẩm của chúng tôi bị làm giả rất nhiều", ông An nói.
Theo ông, truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp doanh nghiệp quản lý thị trường hiệu quả hơn mà còn hỗ trợ người tiêu dùng nhận diện sản phẩm chính hãng, qua đó bảo vệ quyền lợi của người nông dân và giữ gìn uy tín doanh nghiệp.
Ở lĩnh vực năng lượng, ông Trịnh Quốc Dân - đại diện Gas South cho biết doanh nghiệp bắt đầu triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc từ năm 2020 trong bối cảnh phải quản lý gần 4 triệu bình gas lưu thông trên thị trường từ Nghệ An đến Cà Mau. Ban đầu, việc triển khai nhằm đáp ứng yêu cầu về sổ theo dõi điện tử theo quy định của pháp luật, nhưng sau đó đã trở thành công cụ quản trị quan trọng.
"Truy xuất nguồn gốc không chỉ để đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước mà còn là nhu cầu tự thân của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, giảm rủi ro và minh bạch hóa thị trường", ông Dân nhấn mạnh.
Nhờ số hóa dữ liệu toàn bộ vòng đời sản phẩm, doanh nghiệp có thể theo dõi chính xác từng bình gas đang ở đâu và trong tình trạng nào.
Trong khi đó, ông Phan Văn Tâm - Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Phân bón Bình Điền, cho rằng truy xuất nguồn gốc thực chất không phải khái niệm mới, song hiện nay là thời điểm chín muồi để triển khai rộng rãi nhờ sự phổ cập của điện thoại thông minh và các nền tảng số.
"Doanh nghiệp muốn phát triển bền vững và bảo vệ thương hiệu thì bắt buộc phải triển khai truy xuất nguồn gốc", ông Tâm nhận định.
Dưới góc độ công nghệ, ông Phạm Văn Quân - Chủ tịch CTCP Công nghệ Checkee, lưu ý rằng truy xuất nguồn gốc không đơn thuần là dán mã QR lên sản phẩm. Theo ông, phía sau mỗi mã truy xuất phải là một hệ thống dữ liệu được kết nối xuyên suốt từ sản xuất, vận chuyển đến phân phối.
"Lợi ích lớn nhất của truy xuất nguồn gốc là giúp bảo vệ doanh nghiệp trong bối cảnh hàng giả, hàng nhái và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng phức tạp", ông Quân cho biết, đồng thời khẳng định công nghệ xác thực số đang trở thành công cụ quan trọng để bảo vệ thương hiệu và củng cố niềm tin của người tiêu dùng.
Bổ sung góc nhìn từ cơ quan quản lý, ông Trần Hữu Linh cho rằng sự phát triển của công nghệ đang tạo ra bước tiến đáng kể trong công tác xác thực hàng hóa và chống hàng giả. Nếu như trước đây thị trường chủ yếu sử dụng tem chống giả thì hiện nay các giải pháp như tem điện tử và mã QR đã mang lại hiệu quả cao hơn trong việc kiểm tra, xác minh nguồn gốc sản phẩm.
Theo ông Linh, thực tế cho thấy các loại tem chống giả truyền thống vẫn có thể bị sao chép, làm giả với thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý lẫn người tiêu dùng trong quá trình nhận diện hàng thật, hàng giả. Trong khi đó, các công cụ truy xuất nguồn gốc ứng dụng công nghệ số cho phép lực lượng chức năng kiểm tra nhanh thông tin sản phẩm ngay tại hiện trường thông qua điện thoại thông minh.
"Chỉ cần quét mã là có thể tiếp cận ngay các dữ liệu về nguồn gốc, xuất xứ và quá trình lưu thông của hàng hóa, qua đó bước đầu nhận diện được những dấu hiệu bất thường của sản phẩm", ông Linh cho biết.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

