Sau kỳ nghỉ lễ 30-4 và 1-5, thị trường chứng khoán Việt Nam trở lại giao dịch từ phiên 4-5 trong bối cảnh tâm lý nhà đầu tư còn khá thận trọng. Tuần trước, do kỳ nghỉ kéo dài, thị trường chỉ giao dịch hai phiên 28 và 29-4 nhưng đã ghi nhận diễn biến đáng chú ý khi VN-Index quay đầu điều chỉnh sau nhịp hồi phục tích cực trước đó.
Áp lực chốt lời gia tăng rõ rệt, đặc biệt tại nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn như bất động sản và ngân hàng, khiến chỉ số chịu sức ép. Khép lại tuần, VN-Index dừng tại 1.854,1 điểm, gần như đi ngang so với tuần trước, phản ánh trạng thái giằng co khi dòng tiền có dấu hiệu thận trọng hơn trước giai đoạn mới.
Theo ông Huỳnh Anh Huy, CFA, Giám đốc phân tích ngành Chứng khoán Kafi, thống kê 10 năm cho thấy VN-Index có xu hướng tăng trong 6/10 tuần sau kỳ nghỉ lễ 30-4 và 1-5, với mức tăng trung bình khoảng 2,4% ở các năm tích cực. Hai trường hợp giảm mạnh là năm 2018 và 2022 đều diễn ra trong bối cảnh thị trường đã suy yếu từ trước.
Năm nay, thị trường vẫn duy trì xu hướng tăng và đang tiến sát vùng kháng cự 1.880-1.900 điểm. Động lực đáng chú ý là mùa báo cáo quý 1-2026, khi nhiều doanh nghiệp đầu ngành như công nghệ, phân bón ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng từ 15% đến 88% so với cùng kỳ, tạo nền tảng cho dòng tiền quay lại có chọn lọc.
Dù triển vọng tăng điểm vẫn được duy trì, các chuyên gia cho rằng áp lực chốt lời tại vùng đỉnh cũ sẽ tiếp tục xuất hiện và mức tăng sẽ không còn đồng đều giữa các nhóm ngành. VN-Index được dự báo có thể hướng đến vùng 1.900-1.920 điểm trong ngắn hạn, nhưng đi kèm là các nhịp rung lắc.
Ông Nguyễn Trọng Đình Tâm, Giám đốc khối tư vấn đầu tư khách hàng cá nhân, Chứng khoán Thiên Việt, nhận định thị trường nhiều khả năng tiếp tục vận động trong trạng thái đi ngang với biên độ rộng. Trong những phiên đầu sau kỳ nghỉ, lực cung quanh vùng đỉnh lịch sử có thể tiếp tục gây áp lực lên điểm số.
Theo vị này, thay vì tập trung dự báo chỉ số, nhà đầu tư cần chú trọng vào việc xác định dòng tiền đang hướng đến đâu, bởi sự phân hóa đã rõ nét hơn so với giai đoạn trước lễ. Những cổ phiếu có nền tảng cơ bản tốt, câu chuyện tăng trưởng rõ ràng sẽ có lợi thế.
Về chiến lược, nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếu nên tiếp tục duy trì các vị thế có giá vốn thấp, đặc biệt với những mã còn giữ được xu hướng tăng ngắn hạn hoặc đang thu hút dòng tiền. Trong khi đó, nhà đầu tư có tỉ trọng tiền mặt cao có thể giải ngân từng phần trong các nhịp điều chỉnh.
Ba nhóm ngành được khuyến nghị theo dõi gồm ngân hàng, thép và bán lẻ. Ngành ngân hàng được kỳ vọng duy trì tăng trưởng nhờ tín dụng mở rộng, cải thiện thu nhập ngoài lãi và tối ưu chi phí.
Ngành thép hưởng lợi từ kỳ vọng nhu cầu phục hồi cùng đầu tư công và bất động sản, trong khi nhóm bán lẻ có triển vọng tích cực nhờ mở rộng chuỗi và cải thiện hiệu quả hoạt động, cùng câu chuyện IPO.
Ở góc nhìn kỹ thuật, Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS) cho rằng VN-Index đang có dấu hiệu chững lại khi hình thành nến giảm kèm thanh khoản tăng, cho thấy bên bán vẫn chiếm ưu thế. Chỉ số có xu hướng tích lũy quanh vùng kháng cự 1.920 điểm và có thể tiếp tục điều chỉnh trong ngắn hạn, với vùng hỗ trợ gần quanh 1.800-1.820 điểm.
Trong khi đó, Vietcap đánh giá xác suất cao VN-Index sẽ tiếp tục kiểm định vùng 1.900-1.920 điểm trong các phiên tới, còn rủi ro giảm sâu xuống dưới 1.840 điểm hiện chưa lớn.
Chứng khoán ACB nhận định xu hướng tăng ngắn hạn vẫn chưa bị phá vỡ, song cũng cảnh báo vùng 1.900 điểm là ngưỡng cản quan trọng, nơi áp lực bán có thể gia tăng mạnh, khiến thị trường rung lắc trước khi hình thành xu hướng rõ ràng hơn.
Dự báo từ các đơn vị khí tượng thủy văn, nhiệt độ ở khu vực Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ bắt đầu nóng lên mức 36⁰C từ ngày 21-6, và đạt đỉnh điểm có thể lên tới mức 39⁰C hoặc hơn vào khoảng ngày 23 đến 25-6. Khí áp xuống thấp 998hPa sẽ khiến nhiệt độ cảm nhận có thể lên mức 45⁰C do tình trạng om nhiệt ở khu vực đô thị.
Theo đó, dự báo nhiệt độ ở khu vực từ Thanh Hóa - Quảng Trị có thể lên mức 39-40⁰C, Huế nhiệt độ có thể lên mức 37-38⁰C và Đà Nẵng - Quảng Ngãi ở mức từ 36-38⁰C.
Nắng nóng gắt hơn diễn ra ở phía Tây, cách bờ biển 30-50km. Khu vực này có mây dông rải rác buổi chiều nên không xảy ra om nhiệt (tích lũy nhiệt).
NSMO cho rằng nắng nóng diện rộng và kéo dài này có thể khiến nhu cầu sử dụng điện tăng cao đột biến, đặc biệt vào khung giờ cao điểm trưa và tối.
Thực tế trong đợt nắng nóng kỷ lục cuối tháng 5 vừa qua, ngày 27-5, công suất cực đại của hệ thống điện quốc gia đã đạt 58.103MW (tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2025). Riêng hệ thống điện miền Bắc đạt 29.966MW (tăng 27,5% so với cùng kỳ năm 2025).
Dự báo các đợt nắng nóng cuối tháng 6 có thể có cường độ tương đương và gay gắt hơn giai đoạn từ ngày 23 đến 27-5, đặt ra yêu cầu rất cao trong việc bảo đảm cung cấp điện, đặc biệt đối với hệ thống điện miền Bắc.
NSMO cho biết đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị trong hệ thống điện, bám sát diễn biến thời tiết và thủy văn để triển khai đồng bộ các giải pháp vận hành, bảo đảm cung ứng điện, đặc biệt trong các đợt nắng nóng cực đoan.
Cụ thể, NSMO thường xuyên cập nhật tình hình thủy văn để xây dựng phương thức huy động nguồn điện hợp lý, khai thác hiệu quả nguồn nước, duy trì mực nước hồ chứa phù hợp, bảo đảm khả năng phát tối đa công suất trong giờ cao điểm.
Đối với nhiệt điện than, đơn vị liên tục rà soát tình trạng khả dụng của các tổ máy, đôn đốc khắc phục sự cố, tranh thủ sửa chữa ngắn ngày và theo dõi chặt chẽ nhiệt độ nước làm mát để tối ưu khả năng phát điện.
Cùng với đó, NSMO bảo đảm nguồn nhiên liệu, linh hoạt chuyển đổi giữa khí nội địa, LNG và dầu khi phụ tải tăng cao; đồng thời rà soát phương thức vận hành, xử lý kịp thời khiếm khuyết thiết bị, bố trí lực lượng trực và vật tư dự phòng nhằm duy trì độ tin cậy của hệ thống truyền tải và phân phối.
NSMO cũng triển khai các giải pháp quản lý nhu cầu điện, tiết kiệm điện, điều tiết phụ tải hợp lý trong khung giờ cao điểm tối (17h30 - 22h30), đồng thời khuyến nghị cơ quan, doanh nghiệp và người dân sử dụng điện tiết kiệm, hạn chế dùng đồng thời thiết bị công suất lớn để bảo đảm cung ứng điện an toàn, liên tục.
Theo báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tháng 4 vừa qua, Việt Nam nhập khẩu khoảng 543.100 tấn hạt điều với kim ngạch gần 943 triệu USD. Đây là mức nhập khẩu lớn nhất từng ghi nhận trong một tháng, cao gấp hơn hai lần giá trị xuất khẩu điều cùng kỳ.
Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, các doanh nghiệp trong nước đã chi gần 2,2 tỷ USD để nhập khẩu 1,3 triệu tấn hạt điều, tăng 23% về khối lượng và tăng 32% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Giá nhập khẩu bình quân đạt gần 1.704 USD mỗi tấn, tăng 7,6%.
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu điều có dấu hiệu chững lại. Riêng tháng 4, Việt Nam xuất khẩu khoảng 61.100 tấn hạt điều, thu về 433 triệu USD. Tính chung 4 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,3 tỷ USD với sản lượng khoảng 186.600 tấn.
So với cùng kỳ năm 2025, xuất khẩu điều giảm 4,6% về sản lượng và giảm 3% về giá trị, dù giá xuất khẩu bình quân tăng gần 2%, lên gần 6.934 USD mỗi tấn.
Theo Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), Việt Nam hiện chiếm khoảng 80% lượng điều nhân xuất khẩu toàn cầu. Tuy nhiên, ngành điều trong nước chủ yếu mạnh ở khâu chế biến, còn nguồn nguyên liệu nội địa chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu sản xuất.
Đại diện một doanh nghiệp nhập khẩu điều tại TP HCM cho biết lượng điều thô nhập về tăng mạnh do đang vào cao điểm thu mua nguyên liệu từ Campuchia và châu Phi. Năm nay nguồn cung từ nhiều nước dồi dào hơn, trong khi giá quốc tế tăng khiến kim ngạch nhập khẩu lập kỷ lục.
"Các doanh nghiệp Việt đang đóng vai trò trung tâm chế biến điều của thế giới. Điều thô nhập về sẽ được bóc tách, rang sấy, chế biến rồi tái xuất sang Mỹ, châu Âu và Trung Đông", vị này nói.
Nhiều năm qua, diện tích điều trong nước liên tục thu hẹp do nông dân chuyển sang các loại cây có giá trị kinh tế cao hơn. Bên cạnh đó, năng suất thấp và vùng nguyên liệu già cỗi khiến nguồn cung khó đáp ứng nhu cầu của ngành chế biến.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Campuchia tiếp tục là nguồn cung hạt điều lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 51,7% tổng kim ngạch nhập khẩu. Tiếp theo là Tanzania với 19,9%, Bờ Biển Ngà 11,9% và Nigeria 1,9%.
Nguồn cung từ nhiều thị trường tăng mạnh trong những tháng đầu năm, đặc biệt Bờ Biển Ngà và Nigeria khi kim ngạch nhập khẩu lần lượt tăng 5,4 lần và 4,2 lần so với cùng kỳ năm trước. Hạt điều hiện là mặt hàng nông sản có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất cả nước trong 4 tháng đầu năm nay.
Nghị định nhằm quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện, đầu tư xây dựng dự án điện lực và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án kinh doanh điện lực.
Theo đó, nhiều ý kiến đánh giá việc sửa đổi nghị định là cần thiết nhằm tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong thực tiễn triển khai các dự án điện khí LNG, đồng thời bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Điện lực năm 2024.
Một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo là hoàn thiện cơ chế “sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn” (Qc) đối với các dự án điện khí sử dụng LNG nhập khẩu.
Theo Bộ Công Thương, trong quá trình triển khai các nghị định liên quan, nhiều chủ đầu tư đã phản ánh khó khăn trong việc thu xếp tài chính cho dự án.
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thiếu cơ chế đảm bảo dòng tiền ổn định, trong khi các dự án điện khí LNG có tổng mức đầu tư lớn, phụ thuộc nhiều vào vốn vay.
Vì vậy các nhà đầu tư đã kiến nghị một số cơ chế như áp dụng giá điện hai thành phần, cơ chế bao tiêu sản lượng điện, kéo dài thời gian áp dụng sản lượng điện hợp đồng, cũng như nâng tỉ lệ sản lượng điện tối thiểu lên mức cao hơn.
Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đề xuất nâng mức sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn từ 65% lên 75% sản lượng điện phát bình quân nhiều năm của dự án, đồng thời kéo dài thời gian áp dụng tối đa từ 10 năm lên 15 năm.
Theo lý giải của cơ quan soạn thảo, mức điều chỉnh này nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư trong việc thu xếp vốn, đồng thời vẫn bảo đảm cân đối lợi ích giữa các bên và phù hợp với khả năng vận hành của hệ thống điện.
Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp cho rằng mức 75% vẫn chưa đủ hấp dẫn để bảo đảm tính khả thi tài chính của dự án, đề xuất nâng lên 85-95% và kéo dài thời gian áp dụng đến 20-25 năm.
Trước các đề xuất nâng mạnh tỉ lệ Qc, Bộ Công Thương cho biết đã tiến hành tính toán, đánh giá trên nhiều kịch bản phụ tải điện khác nhau, từ cơ sở đến cao và cao đặc biệt.
Kết quả cho thấy, nếu tỉ lệ Qc tăng lên từ 80% trở lên, có thể xuất hiện tình trạng “over contract”, tức sản lượng điện hợp đồng cao hơn nhu cầu huy động thực tế của hệ thống. Khi đó dù không phát điện, bên mua điện vẫn phải thanh toán theo hợp đồng, dẫn đến gia tăng chi phí toàn hệ thống.
Đặc biệt trong bối cảnh giá điện từ các nhà máy LNG thường cao hơn so với nhiều nguồn điện khác, việc tăng nghĩa vụ thanh toán hợp đồng có thể gây áp lực lên giá điện bình quân và ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Vì vậy Bộ Công Thương đã đề xuất Qc chỉ tăng từ 65% lên 75%.
Bên cạnh đó, dự thảo tiếp tục giữ nguyên nguyên tắc để các bên mua và bán điện tự thỏa thuận mức sản lượng cụ thể trong hợp đồng, trên cơ sở tuân thủ mức tối thiểu theo quy định. Cách tiếp cận này phù hợp với chủ trương phát triển thị trường điện cạnh tranh và hạn chế can thiệp hành chính vào hoạt động kinh doanh.
Ngoài vấn đề sản lượng điện hợp đồng, các doanh nghiệp và nhà đầu tư cũng đưa ra nhiều kiến nghị liên quan đến cơ chế giá điện, hợp đồng mua bán điện (PPA), tỉ giá, lạm phát, cũng như cơ chế bao tiêu nhiên liệu LNG.
Một số ý kiến đề xuất cho phép chuyển ngang toàn bộ chi phí nhiên liệu vào giá điện, hoặc bổ sung cơ chế thanh toán trong trường hợp không huy động đủ sản lượng. Tuy nhiên Bộ Công Thương cho rằng các nội dung này không thuộc phạm vi điều chỉnh của nghị định lần này.