Với mức giá hiện nay, quy đổi theo tỉ giá niêm yết tại ngân hàng, giá vàng thế giới tương đương 153,5 triệu đồng/lượng.
Tối 17-4, giá vàng thế giới có thời điểm đạt gần 4.890 USD/ounce sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump thông báo trên nền tảng Truth Social: “Eo biển Hormuz hiện hoàn toàn mở cửa”, nhưng mức giá này không thể duy trì cho tới cuối phiên do đồng USD hồi phục trở lại.
Trong một bài đăng trên mạng xã hội X vào ngày 17-4, Ngoại trưởng Iran Abbas Araqchi nói eo biển Hormuz sẽ mở cửa hoàn toàn cho tất cả tàu thương mại trong thời gian còn lại của lệnh ngừng bắn giữa Israel và lực lượng Hezbollah do Iran hậu thuẫn ở Lebanon.
Sau tuyên bố trên của phía Iran, giá dầu thô và đồng USD cùng sụt mạnh, hỗ trợ cho giá vàng đi lên.
Eo biển Hormuz được mở cửa trở lại là sự kiện quan trọng, gây áp lực giảm lên giá dầu, theo đó làm giảm mối lo về lạm phát và làm tăng kỳ vọng về cắt giảm lãi suất.
Tuy nhiên tối nay, 18-4, lại rộ tin tàu Iran nổ súng vào tàu chở dầu ở eo biển Hormuz.
Quỹ ETF vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust mua ròng 7,7 tấn vàng trong phiên ngày thứ Sáu, nâng khối lượng nắm giữ lên mức 1.060,6 tấn vàng. Tuần này, quỹ mua ròng vàng 4 phiên liên tiếp, với tổng lượng mua ròng của cả tuần đạt 13,4 tấn vàng.
Giá vàng miếng SJC ngày hôm nay, 18-4, tăng 1 triệu đồng/lượng, lên 172 triệu đồng/lượng, giá mua vào cũng tăng tương ứng lên mức 168,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng nhẫn 9999 bán ra cũng tăng 1 triệu đồng/lượng, lên mức 171,5 triệu đồng/lượng, mua vào 168 triệu đồng/lượng.
So với giá vàng thế giới quy đổi, giá vàng trong nước chỉ còn cao hơn 18,5 triệu đồng/lượng. Trước đó mức chênh từng lên đến hơn 30 triệu đồng/lượng.
Cuối tuần giá bạc cũng nhích lên. Công ty Ancarat niêm yết giá bạc bán ra ở mức 3,111 triệu đồng/lượng và mua vào ở mức 3,018 triệu đồng/lượng.
Công ty SBJ niêm yết giá bạc bán ra ở mức 3,102 triệu đồng/lượng, mua vào ở mức 3,012 triệu đồng/lượng.
Công ty Phú Quý niêm yết giá bán bạc ở mức 3,128 triệu đồng/lượng và 3,034 triệu đồng/lượng mua vào.
Mời độc giả theo dõi diễn biến giá vàng và giá bạc TẠI ĐÂY
Vào lúc 3h sáng ngày 8-4 (giờ Việt Nam), FTSE Russell công bố kết quả rà soát giữa kỳ trong khuôn khổ kỳ đánh giá phân loại thị trường tháng 3-2026.
Theo đó, tổ chức này xác nhận giữ nguyên lộ trình nâng hạng thị trường Việt Nam từ cận biên lên mới nổi thứ cấp.
Việc đưa cổ phiếu Việt Nam vào các rổ chỉ số của FTSE sẽ được triển khai theo 4 giai đoạn, bắt đầu từ ngày 21-9-2026 và hoàn tất vào tháng 9-2027.
Lộ trình được chia ra nhiều giai đoạn nhằm đảm bảo quá trình chuyển đổi diễn ra trật tự, kiểm soát dòng vốn dự kiến và duy trì thanh khoản thị trường, đồng thời hỗ trợ cơ chế không yêu cầu ký quỹ trước giao dịch (non-prefunding).
Cụ thể, trong giai đoạn đầu từ tháng 9-2026, tỉ trọng cổ phiếu Việt Nam được thêm vào ở mức 10%. Tỉ trọng này sẽ tiếp tục tăng thêm 20% vào tháng 3-2027, 35% vào tháng 6-2027 và hoàn tất với phần bổ sung 35% còn lại vào tháng 9-2027.
Như vậy, tổng tỉ trọng được đưa vào sẽ đạt 100% sau bốn giai đoạn, với hệ số phân bổ tăng dần từ 10%, 30%, 65% và hoàn tất đủ vào cuối kỳ.
Trong tài liệu công bố, FTSE Russell cũng đưa ra danh sách 32 cổ phiếu Việt Nam mang tính tham khảo, đã đáp ứng các tiêu chí sàng lọc của bộ chỉ số FTSE Global All Cap, dựa trên dữ liệu đến cuối ngày 31-12-2025.
Tuy nhiên, tổ chức này nhấn mạnh: danh sách cuối cùng các cổ phiếu Việt Nam đủ điều kiện để được đưa vào các chỉ số FTSE Russell liên quan trong kỳ rà soát bán niên tháng 9-2026 sẽ được công bố vào thứ Sáu, ngày 21-8-2026.
Đồng thời sẽ được sàng lọc dựa trên việc các cổ phiếu Việt Nam được coi là không phải là thành phần của FTSE GEIS và các chỉ số liên quan.
Danh sách đính kèm dự kiến này bao gồm các doanh nghiệp niêm yết thuộc nhiều nhóm ngành và quy mô vốn hóa.
Trong đó, nhóm vốn hóa lớn có các đại diện tiêu biểu như Tập đoàn Hòa Phát (HPG), Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BID), Vinhomes (VHM) và Tập đoàn Vingroup (VIC).
Nhóm vốn hóa trung bình gồm Tập đoàn Masan (MSN), Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (SAB), FPT (FPT) và Công ty CP Sữa Việt Nam (VNM).
Trong khi đó, nhóm vốn hóa nhỏ chiếm số lượng lớn nhất, với nhiều doanh nghiệp quen thuộc như Chứng khoán SSI (SSI), Đạm Phú Mỹ (DPM), Kinh Bắc (KBC), Tasco (HUT), Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB), DIC Corp (DIG),
Eximbank (EIB), Đất Xanh (DXG), Khang Điền (KDH), Chứng khoán VIX (VIX), Chứng khoán VNDirect (VND), Phát Đạt (PDR), Hóa chất Đức Giang (DGC),
Novaland (NVL), Vietjet Air (VJC), Chứng khoán Bản Việt (VCI), Vincom Retail (VRE), Thiết bị điện Việt Nam (GEX), FPT Retail (FRT), GELEX Electric (GEE), Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR), Kinh Đô (KDC) và Sacombank (STB).
Tôi đầu tư chứng khoán cũng được vài năm nhưng bản thân tự nhận thấy một "tật" rất lớn, đó chính là hay chốt lời "hụt". Ví dụ trường hợp gần nhất là với cổ phiếu NVL. Tôi mua từ hồi 10.000 đồng, đến cuối tháng 4, NVL lên hơn 20.000 đồng, tính bán nhưng sợ nó tăng tiếp, sau này sẽ tiếc, nên giữ lại và chờ đợi thêm. Kết quả là mã này giảm về 16.000 đồng mấy ngày gần đây, tôi mới vội vàng bán ra, hụt mất 40 triệu tiền lãi.
Có cách nào để tôi hạn chế việc này không?
Chuyên gia tư vấn:
Đây là tâm lý rất phổ biến của nhiều nhà đầu tư, đặc biệt trong những giai đoạn thị trường chứng khoán biến động mạnh hoặc cổ phiếu tăng nóng. Tôi sẽ chia sẻ một số góc nhìn chung về tâm lý học hành vi của con người và cách giảm áp lực trong đầu tư để bạn có thể hiểu rõ hơn.
Trước hết, trong behavioral finance (tài chính hành vi) có một khái niệm gọi là "hiệu ứng mỏ neo" (anchoring heuristic). Hiểu đơn giản, não bộ thường bám vào một mức giá nào đó rồi xem đó là mốc chuẩn để đưa ra quyết định.
Trong trường hợp của bạn, có thể tồn tại cùng lúc hai "mỏ neo" tâm lý. Mỏ neo đầu tiên là giá mua 10.000 đồng. Vì mua ở vùng giá thấp nên khi cổ phiếu điều chỉnh từ 20.000 về 16.000 đồng, nhà đầu tư vẫn có xu hướng nghĩ rằng "mình còn lời nhiều", từ đó trì hoãn quyết định bán ra.
Tuy nhiên, mỏ neo mạnh hơn lại là vùng giá hơn 20.000 đồng mà NVL từng đạt được. Từ thời điểm cổ phiếu lên mức này, não bộ bắt đầu mặc định đây mới là "giá trị hợp lý" của khoản đầu tư. Vì vậy, khi cổ phiếu giảm dần, cảm giác không còn là "vẫn đang có lãi", mà chuyển thành "mình đang mất đi khoản lợi nhuận từng có". Đây là lý do nhiều nhà đầu tư cảm thấy rất tiếc nuối dù thực tế vẫn đang sinh lời khá lớn so với giá vốn ban đầu.
Ngoài hiệu ứng mỏ neo, yếu tố FOMO (sợ bỏ lỡ cơ hội) cũng ảnh hưởng lớn. Khi cổ phiếu tăng mạnh, nhà đầu tư thường lo rằng nếu bán quá sớm, cổ phiếu có thể tiếp tục tăng và mình sẽ "bỏ lỡ" phần lợi nhuận phía sau. Điều này khiến nhiều người không bán trong lúc hưng phấn, nhưng lại bán khi cảm xúc bắt đầu áp lực và khó chịu hơn. Nói cách khác, quyết định bán lúc đó không còn hoàn toàn dựa trên chiến lược đầu tư, mà là để giải tỏa áp lực tâm lý.
Một điều quan trọng là ngay cả các chuyên gia đầu tư hay quỹ chuyên nghiệp cũng không thể liên tục dự đoán chính xác "đỉnh" và "đáy" của thị trường. Việc mua chưa đúng "đáy" hoặc bán chưa đúng "đỉnh" thực tế là điều rất bình thường trong đầu tư. Vì vậy, thay vì cố tìm "điểm bán hoàn hảo", nhà đầu tư nên tập trung vào việc xây dựng một hệ thống đầu tư phù hợp với khẩu vị rủi ro và mục tiêu tài chính của mình.
Để hạn chế cảm giác tiếc nuối hoặc bị cảm xúc chi phối quá mạnh, nhà đầu tư có thể chia nhỏ các lần chốt lời thay vì bán toàn bộ trong một lần; xác định trước nguyên tắc bán khi mua cổ phiếu; hạn chế lấy mức giá cao từng đạt được làm cơ sở cho quyết định hiện tại. Bên cạnh đó, bạn có thể tự đặt câu hỏi: Nếu hôm nay chưa sở hữu cổ phiếu này, bản thân có còn muốn mua ở vùng giá hiện tại hay không?
Cuối cùng, nhà đầu tư cũng nên lưu ý rằng thị trường chứng khoán luôn vận động theo chu kỳ kinh tế. Ở các giai đoạn thanh khoản dồi dào và tâm lý hưng phấn, nhiều cổ phiếu có thể tăng rất mạnh trong thời gian ngắn. Ngược lại, khi nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng trưởng chậm lại hoặc dòng tiền suy yếu, áp lực điều chỉnh thường xuất hiện.
Do đó, thay vì chỉ tập trung vào biến động giá của một mã cổ phiếu riêng lẻ, nhà đầu tư nên quan sát thêm xu hướng lãi suất, tăng trưởng kinh tế, dòng tiền trên thị trường và vị trí hiện tại của chu kỳ kinh tế.
Một số người lựa chọn đầu tư dài hạn hơn thông qua hình thức tích sản cổ phiếu, quỹ mở cổ phiếu hoặc quỹ ETF để giảm áp lực phải liên tục "mua đúng đáy - bán đúng đỉnh" nhưng vẫn đảm bảo lợi nhuận tốt về dài hạn. Khi nhìn theo chu kỳ dài hạn và đa dạng hóa danh mục, tâm lý đầu tư thường ổn định hơn và ít bị cảm xúc ngắn hạn chi phối quá mạnh.
Trên thị trường chứng khoán, điều khó nhất thường không phải tìm được cổ phiếu tăng giá, mà là giữ được sự tỉnh táo khi cảm xúc bắt đầu bị kéo theo biến động lợi nhuận.
Kế hoạch trên được ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) công bố trong tài liệu chuẩn bị cho phiên họp thường niên, diễn ra ngày 24/4. Nhà băng này dự kiến thu về hơn 10.686 tỷ đồng, được bổ sung cho nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực tài chính.
Lãnh đạo Vietcombank cũng cho biết việc tăng vốn sẽ giúp đơn vị này có nguồn lực tái cấu trúc tổ chức tín dụng yếu kém được cơ quan quản lý giao. Ngoài ra, ngân hàng này cũng mong muốn hỗ trợ khách hàng trong giai đoạn phục hồi và phát triển nền kinh tế.
Trước đó, loạt ngân hàng như MB, VPBank, SeABank hay NCB cũng trình cổ đông kế hoạch tăng vốn cho năm nay. Hiện Vietcombank đang đứng đầu ngành ở chỉ tiêu này.
Trước đợt tăng vốn trong năm nay, nhà băng này còn có kế hoạch chào bán riêng lẻ tối đa 543,1 triệu cổ phiếu cho tối đa 55 nhà đầu tư bao gồm nhà đầu tư chiến lược. Phương án này hiện vẫn chưa hoàn tất.
Về kế hoạch kinh doanh, Vietcombank đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong hạn mức cho phép của Ngân hàng Nhà nước. Tỷ lệ nợ xấu duy trì dưới 1,5%. Nhà băng này cũng chưa công bố con số kế hoạch lợi nhuận năm 2026.
Vietcombank cũng trình cổ đông việc thành lập ngân hàng con tại Trung Tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam (IFC) với vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng. Đây là điều kiện để nhà băng này hiện diện và tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành IFC tại Việt Nam.
Trong năm 2025, nhà băng này lãi trước thuế hơn 44.000 tỷ đồng, tăng hơn 4% so với cùng kỳ năm 2024. Tăng trưởng tín dụng đạt 15%, theo phê duyệt của Ngân hàng Nhà nước, lên 1,7 triệu tỷ đồng. Tổng tài sản cũng cải thiện 17%, lên 2,4 triệu tỷ đồng.