Nửa tháng qua, đoạn kênh chìm Sơn Tịnh từ phường Trương Quang Trọng, qua xã Thọ Phong đến cầu Lệ Thủy (xã Tịnh Khê) đổi từ màu xanh sang đen kịt. Nhiều đoạn nước đặc quánh, bốc mùi khó chịu, cá rô phi chết nổi dọc tuyến.
Ông Đinh Vàng, 70 tuổi, ở thôn Phong Niên Hạ, xã Thọ Phong, cho biết tình trạng ô nhiễm lặp lại nhiều năm, đặc biệt vào mùa hè khi thủy lợi cắt nước phục vụ sản xuất. Cứ mỗi mùa gặt, khi nước ít đi là cả tuyến kênh đen hết, xuống gần biển nước vẫn đen.
“Cá chết thường xuyên, đất đai bị ảnh hưởng, người dân lo nhất là nguồn nước giếng gần kênh bị ô nhiễm”, ông nói.
Theo ông Lê Vân, người dân địa phương trước đây từng tận dụng kênh để bắt cá, nuôi vịt, nhưng ô nhiễm kéo dài hơn một thập kỷ khiến hoạt động này dần biến mất. “Ba năm nay không còn ai dám nuôi vịt trên kênh nữa. Cá dưới kênh cũng không ai dám bắt về cho vịt ăn vì sợ chết”, ông Vân cho hay.
Kênh chìm Sơn Tịnh thuộc hệ thống thủy lợi Thạch Nham, cung cấp nước tưới cho nhiều cánh đồng trong khu vực. Người dân cho rằng tình trạng ô nhiễm bắt đầu gia tăng từ khoảng 20 năm trước, khi cụm công nghiệp Tịnh Ấn Tây đi vào hoạt động.
Theo khảo sát của UBND tỉnh Quảng Ngãi, ngoài cụm công nghiệp Tịnh Ấn Tây, tuyến kênh còn chảy qua khu công nghiệp Tịnh Phong và VSIP Quảng Ngãi. Nguồn ô nhiễm đến từ nước thải công nghiệp, rác sinh hoạt, xác động vật và bao bì thuốc bảo vệ thực vật.
Riêng cụm công nghiệp Tịnh Ấn Tây hiện có khoảng 15 doanh nghiệp hoạt động, trong đó nhiều cơ sở sản xuất giấy, nhựa, thực phẩm phát sinh nước thải, nhưng chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2020.
Tỉnh Quảng Ngãi từng bố trí 10 tỷ đồng xây dựng hệ thống xử lý nước thải cho cụm công nghiệp này, song dự án chưa triển khai do nhiều vướng mắc về quy hoạch, lưu lượng xả thải và định hướng di dời cụm công nghiệp khỏi khu vực trung tâm.
Ông Trương Công Hòa, Chủ tịch UBND xã Thọ Phong, cho biết sau phản ánh của người dân, cơ quan chức năng đã tiếp tục lấy mẫu nước để kiểm tra. Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Ngọc Dung, Chủ tịch UBND phường Trương Quang Trọng, nói địa phương đang thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để rà soát việc chấp hành quy định môi trường tại các doanh nghiệp.
Theo lãnh đạo Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Ngãi, do chưa hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung, tỉnh đã dừng thu hút đầu tư mới vào cụm công nghiệp Tịnh Ấn Tây, đồng thời tăng cường giám sát các doanh nghiệp đang hoạt động.
Từ năm 2014 đến nay, cơ quan chức năng Quảng Ngãi đã xử phạt hơn 10 vụ vi phạm môi trường tại cụm công nghiệp này với tổng số tiền hàng trăm triệu đồng. Năm 2024, một doanh nghiệp bị phạt 150 triệu đồng do xả nước thải có hàm lượng tổng xyanua vượt quy chuẩn hơn 21 lần.
Tin Gốc: Vnexpress

Chiều 19.4, tại phiên họp toàn thể lần 2 Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, Bộ VH-TT-DL đề xuất nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi để phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó có nội dung Nhà nước sẽ bảo đảm chi ngân sách cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước.
Theo Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL Trịnh Thị Thủy, một trong những nội dung nổi bật của dự thảo nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam của Quốc hội mà Bộ này soạn thảo là bảo đảm chi ngân sách và ưu đãi thuế mạnh mẽ cho ngành văn hóa. Cụ thể, các hoạt động sản xuất, phát hành và phổ biến phim, triển lãm, thể dục, thể thao, biểu diễn nghệ thuật dự kiến được hưởng thuế suất thuế giá trị gia tăng 5%.
Tổ chức, cá nhân đầu tư hạ tầng số và giải pháp công nghệ cao cho các ngành công nghiệp văn hóa (như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi điện tử...) sẽ được hưởng nhiều ưu đãi về thuế. Chẳng hạn, các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo sẽ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo. Chuyên gia, nhà khoa học làm việc cho doanh nghiệp cũng được miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân với mức tương tự.
Ngành văn hóa cũng được khuyến khích phát triển thông qua chính sách quỹ đất và mặt bằng. Theo dự thảo, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm ưu tiên bố trí quỹ đất công dôi dư để thu hút các dự án đầu tư hoặc cho thuê làm không gian hoạt động văn hóa, thể thao.
Đặc biệt, dự thảo đề xuất miễn, giảm tiền thuê đất, tiền thuê bất động sản thuộc sở hữu nhà nước đối với nhà xuất bản, cơ sở sản xuất phim tài liệu và khoa học 100% vốn nhà nước.
Một điểm mới đáng chú ý trong dự thảo là việc thí điểm thành lập quỹ văn hóa, nghệ thuật hoạt động theo mô hình hợp tác công tư. Quỹ này hoạt động như một quỹ đầu tư mạo hiểm, chấp nhận rủi ro theo nguyên tắc thị trường để tài trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và các dự án văn hóa có tính đột phá.
Để thu hút các dự án điện ảnh quốc tế, dự thảo quy định Nhà nước có chính sách hoàn trả chi phí hợp lệ (như thuê bối cảnh, thiết bị, nhân lực, hậu kỳ...) phát sinh tại Việt Nam của các tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Dự thảo cũng cho phép thí điểm áp dụng cơ chế khoán chi kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với một số hoạt động sáng tạo sản phẩm văn hóa, áp dụng khoán chi đến sản phẩm cuối cùng hoặc khoán chi từng phần. Mặc dù tán thành chủ trương này nhằm tăng tính linh hoạt, cơ quan thẩm tra cũng lưu ý cần quy định nguyên tắc thanh toán trong trường hợp phát sinh yếu tố khách quan dẫn đến không hoàn thành sản phẩm cuối cùng, nhằm bảo đảm quản lý chặt chẽ ngân sách.
Theo ông Đặng Xuân Phương, Ủy ban Văn hóa và Xã hội, Ủy ban nhận thấy, dự thảo nghị quyết quy định nhiều cơ chế, chính sách sẽ phát sinh nguồn lực tài chính lớn khi triển khai. Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với Bộ Tài chính phân tích, đánh giá tổng thể nguồn lực tài chính cần thiết để bảo đảm tính khả thi của các chính sách; tiếp tục nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù, đột phá nhằm thu hút nguồn lực xã hội đầu tư cho phát triển văn hóa.
Tin Gốc: Thanh Niên

Phát biểu thảo luận, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh lần sửa đổi này không chỉ đơn thuần hoàn thiện một đạo luật cụ thể, mà là "bước đi có ý nghĩa chiến lược nhằm kiến tạo mô hình thể chế phát triển mới cho thủ đô, với vị trí đặc biệt trung tâm chính trị hành chính quốc gia, đồng thời là động lực phát triển của cả nước".
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Hà Nội đang đối diện với nhiều điểm nghẽn, từ quy hoạch, hạ tầng, quản trị đô thị, cho đến phân cấp phân quyền, huy động nguồn lực... Do đó, luật sửa đổi phải giải quyết căn bản những tồn tại này.
Chẳng hạn về quy hoạch, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu tình trạng "một chỗ đất thì có mấy ông nói có dự án muốn xây nhà để bán, lại cấp đất, mà đường sá không ai lo. Tại sao thời xưa Pháp quy hoạch hay thế, phố cổ xây dựng không tắc đường, không ngập lụt, nhưng mình giờ xây dựng thế nào mà xây đến đâu tắc đường, ngập lụt đến đấy, vì không anh nào lo đường, không có hệ thống ngầm thoát nước, cứ xây nhà lên để bán".
Để khắc phục, cần quy hoạch rõ vùng lõi thế nào, đô thị vệ tinh ra sao, tiêu chuẩn về bệnh viện, nhà văn hóa, trường học, sân vận động, vườn hoa..., cùng với đó là hệ thống giao thông kết nối từ các thành phố vệ tinh về khu vực trung tâm.
"Quy hoạch phát triển làm sao phải có tầm nhìn, để toàn dân được biết rõ, hiện tại đường ngoằn ngoèo như thế, 10 năm sau thế nào", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, đồng thời yêu cầu phải đảm bảo tính bền vững, "không phải quy hoạch nhiệm kỳ 5 năm, ông này làm quy hoạch ông kia lên chủ tịch lại đảo lại".
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng nhấn mạnh đến tư duy xây dựng luật, cần chuyển từ quản lý sang kiến tạo phát triển. Luật không chỉ quy định cấm hay hạn chế mà phải tạo không gian thể chế để thủ đô chủ động thiết kế, thử nghiệm và triển khai các chính sách đặc thù.
Luật chỉ nên quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc, ổn định, còn những gì mang tính biến động nhanh thì giao cho Chính phủ, thậm chí chính quyền thành phố quy định, để bảo đảm thích ứng với thực tiễn.
Vẫn theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, thủ đô không thể phát triển nếu tách rời vùng và ngược lại. Do đó, luật cần xây dựng cơ chế phối hợp thực chất giữa Hà Nội và các tỉnh về tài chính, giao thông…
Song song với việc trao quyền mạnh hơn, phân cấp, phân quyền triệt để hơn thì cũng cần giải trình rõ ràng hơn, kiểm soát quyền lực chặt chẽ hơn. "Thủ đô được trao quyền cao hơn thì phải chịu trách nhiệm cao hơn; được cơ chế đặc thù thì phải tạo ra kết quả vượt trội; được thí điểm trước thì phải đi đầu về kỷ cương và hiệu quả", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, và yêu cầu Hà Nội phải trở thành hình mẫu về quản trị hiện đại, có giá trị lan tỏa cho cả nước.
Cùng cho ý kiến tại tổ, Chủ tịch Quốc hội (QH) Trần Thanh Mẫn khẳng định việc xây dựng luật Thủ đô sửa đổi sẽ giúp Hà Nội bứt phá về kinh tế, giải quyết dứt điểm tình trạng ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, thiếu nhà ở xã hội…, từ đó vươn tầm khu vực và quốc tế.
Theo Chủ tịch QH, năm 2025, QH đã ban hành tới 89 đạo luật, trong đó có những quy định tại các luật mới vượt trội hơn so với luật Thủ đô hiện hành, khiến luật Thủ đô trở nên lạc hậu. Bối cảnh trên cho thấy việc sửa đổi luật là rất cần thiết, cũng là tiền đề để tới đây xây dựng luật Đô thị đặc biệt cho TP.HCM.
Chủ tịch QH nhấn mạnh sửa đổi luật Thủ đô lần này cần phân cấp, phân quyền toàn diện, tối đa cho chính quyền TP.Hà Nội, theo nguyên tắc "Hà Nội quyết, Hà Nội làm, Hà Nội chịu trách nhiệm". Trong đó, một số nội dung trọng tâm như: mở rộng nguyên tắc áp dụng pháp luật, bổ sung quy định miễn trách nhiệm pháp lý, thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, tăng thẩm quyền về tổ chức bộ máy cho HĐND thành phố, tăng mức xử phạt vi phạm hành chính…
Nhắc lại buổi làm việc với Hà Nội mới đây, khi Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu thủ đô phải có tầm nhìn quy hoạch 100 năm và xa hơn nữa, Chủ tịch QH khẳng định bất cứ đất nước nào muốn phát triển thì phải có quy hoạch và quy hoạch đó phải được công bố công khai cho toàn dân biết. Chủ tịch QH dẫn ví dụ các thành phố lớn trên thế giới, khách đến có thể thấy ngay sa bàn quy hoạch, thể hiện rõ các khu công nghiệp, thương mại, văn hóa; còn quy hoạch của chúng ta thời gian qua chưa thực sự bài bản.
Một vấn đề khác được Chủ tịch QH lưu ý là tăng trách nhiệm giải trình công khai trên tinh thần phân quyền triệt để, "bộ, ngành không thể ôm" mà phải giao quyền cho Hà Nội. Đồng thời, cần cơ chế bảo vệ cán bộ, khuyến khích sáng tạo và bộ công cụ quản lý đô thị mạnh mẽ.
Góp ý thêm, đại biểu Trần Hoàng Ngân (đoàn TP.HCM) cho rằng hiện đã có nhiều thể chế luật pháp dành cho Hà Nội, song qua thực tiễn triển khai thì thấy thủ đô vẫn còn nhiều điểm nghẽn. "Chúng ta có thể hình dung hiện nay bầu trời tại Hà Nội, khi chúng ta đến đây họp, ô nhiễm rất lớn. Nếu tra cứu Google danh sách 10 thành phố ô nhiễm không khí nhất thì Hà Nội luôn nằm trong top đầu", ông Ngân nói.
Đại biểu Trần Hoàng Ngân kiến nghị cần có cơ chế thật quyết liệt, bằng việc phân cấp, phân quyền trọn vẹn, để Hà Nội đủ thẩm quyền giải quyết các điểm nghẽn về ô nhiễm môi trường, giao thông, ngập nước, an toàn đô thị, PCCC và các ảnh hưởng của thiên tai, biến đổi khí hậu.
Đại biểu Nguyễn Phương Thủy (đoàn Hà Nội) cũng cho rằng luật cần tạo khuôn khổ để thủ đô có thể linh hoạt, chủ động hơn, bởi "nếu mỗi chính sách lại phải báo cáo QH thì sẽ mất thời gian và để lỡ cơ hội".
Tuy nhiên, bên cạnh việc trao quyền, bà lưu ý phải nâng cao chất lượng giải trình và kiểm soát quyền lực để việc phân quyền đúng đắn và có hiệu quả. Cần cơ chế rõ ràng để các cơ quan được giao quyền yên tâm thực hiện, đồng thời cơ quan giám sát có cơ chế như "phanh hãm" để việc thử nghiệm chính sách và thể chế không bị lạm dụng hay chệch hướng.
Nguồn: https://thanhnien.vn/go-diem-nghen-trao-quyen-manh-hon-cho-ha-noi-185260408222242119.htm
TP Hà Nội đang giải phóng mặt bằng 1.428 dự án, trong đó có nhiều công trình giao thông lớn như 4 cầu vượt sông Hồng (Hồng Hà, Mễ Sở, Vân Phúc và Ngọc Hồi); khép kín các đường vành đai, mở rộng quốc lộ 1, 6... Lượng phế thải xây dựng phát sinh trên 10.000 tấn mỗi ngày, gấp 4-5 lần bình thường, bao gồm bêtông, gạch, đá, vữa, kim loại, gỗ, nhựa, kính, đất đào, bùn thải...
Khác với rác sinh hoạt, phế thải xây dựng được xem là nguồn tài nguyên thứ cấp bởi phần lớn thành phần còn giá trị sử dụng sau khi được phân loại và xử lý phù hợp. Sau khi nghiền, sàng và xử lý, phế thải có thể trở thành cốt liệu cho nền đường, vật liệu san lấp mặt bằng, sản xuất gạch không nung, bêtông, vật liệu sản xuất cấu kiện xây dựng.
Theo ông Nguyễn Văn Hoan, chuyên gia Viện Chuyên ngành Xi măng bêtông (Viện Vật liệu xây dựng), khoảng 80% chất thải rắn đô thị đang bị chôn lấp, chỉ gần 17% được tái chế dưới dạng nghiền nhỏ để phục vụ san lấp hoặc vật liệu nền đường. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với tiềm năng sử dụng của loại chất thải gồm đất đá, bêtông, gạch vụn.
Sử dụng vật liệu tái chế giúp giảm tình trạng khai thác đá, cát sông, đất đắp và các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng. "Trong bối cảnh nguồn cát và đá ngày càng khan hiếm, đây là nguồn nguyên liệu rất đáng giá", ông Hoan nói.
Hiện cốt liệu tái chế dùng để san lấp nền đường - loại giá trị thấp nhất, được bán từ 70.000 đến 100.000 đồng/tấn. Cốt liệu hạt, cát nghiền tái chế giá từ 150.000 đến 200.000 đồng/m3. Nếu Hà Nội tái chế được 10.000 tấn phế thải xây dựng để san lấp nền mỗi ngày, ít nhất có thể thu về khoảng 0,7-1 tỷ đồng.
Các nghiên cứu cho thấy vật liệu tái chế có giá thành thấp hơn khoảng 20% so với vật liệu tự nhiên. Tỷ lệ tái chế phế thải xây dựng có thể đạt trên 90% khối lượng đầu vào, riêng bêtông nhựa và bêtông xi măng có thể tái sử dụng gần như 100%, theo PGS.TS Tống Tôn Kiên, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng vật liệu xây dựng nhiệt đới (Đại học Xây dựng).
Quan trọng hơn, nguồn vật liệu tái chế giúp thay thế nguồn vật liệu tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt. Tại Hà Nội, hàng loạt công trình đang triển khai đều có nhu cầu lớn về cát vàng, cát xây, đất đắp. Đơn cử dự án vành đai 4 vùng Thủ đô thiếu khoảng 6 triệu m3 đất đắp và khối lượng lớn cát, đá xây dựng. Trong khi đó sản lượng khai thác tại các mỏ vật liệu ở Hà Nội không đủ, buộc nhà thầu phải mua vật liệu từ mỏ tại tỉnh Phú Thọ, tăng chi phí vận chuyển.
Công nghệ biến phế thải thành tiền
Thấy được tiềm năng của phế thải rắn xây dựng, ngành xây dựng đã nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm vật liệu xây dựng tái chế và ban hành cơ bản hệ thống tiêu chuẩn. Những nghiên cứu đầu tiên được triển khai từ năm 2007, do TS Lê Việt Hùng (Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng) thực hiện. Giai đoạn đầu, nhóm tập trung đánh giá khả năng nghiền, sàng phế thải xây dựng để tái chế thành vật liệu đầu vào cho vữa và bêtông.
Năm 2012, dự án sản xuất thử nghiệm "Hoàn thiện công nghệ tái chế phế thải phá dỡ công trình làm cốt liệu cho xây dựng" đã triển khai thành công dây chuyền sản xuất cốt liệu tái chế ở quy mô công nghiệp. Dây chuyền tạo ra cốt liệu tái chế từ phế thải phá dỡ (bêtông, tường xây gạch), cốt liệu nhỏ được sử dụng sản xuất gạch không nung, còn cốt liệu lớn có kích thước đến 40 mm được dùng thay đá dăm để sản xuất bêtông.
Tại Đại học Xây dựng, PGS.TS Tống Tôn Kiên, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng vật liệu xây dựng nhiệt đới, cho biết giai đoạn 2012-2016, nhóm nghiên cứu của trường đã thực hiện hàng loạt đề tài nghiên cứu chuyên sâu về sử dụng cốt liệu tái chế thành đá dăm và cát để sản xuất vữa và bêtông xi măng chịu lực. Giai đoạn 2019-2021, nhóm tiếp tục sản xuất thử cấu kiện bêtông cốt thép đúc sẵn từ phế thải bêtông trong phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy vật liệu tái chế có thể sử dụng trong các công trình.
Để đưa cốt liệu tái chế vào cuộc sống, các bộ ngành đã ban hành hệ thống tiêu chuẩn. Năm 2023, tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13694 ra đời, quy định cấp phối vật liệu tái chế dùng làm lớp móng đường giao thông đô thị. TCVN 11969:2018 quy định cốt liệu lớn tái chế cho bêtông. Nhiều tiêu chuẩn liên quan vật liệu san lấp, tái chế bêtông nhựa, thiết kế hỗn hợp và thi công cũng đã được Bộ Khoa học và Công nghệ thông qua giai đoạn 2020-2025.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Hoan, chuyên gia Viện chuyên ngành Xi măng bê tông (Viện Vật liệu xây dựng), trở ngại của Hà Nội hiện không nằm ở công nghệ xử lý. Một số doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư dây chuyền tái chế hiện đại, thậm chí có thiết bị nghiền di động xử lý ngay tại công trường. Tuy nhiên, đầu ra sản phẩm tái chế chưa ổn định. Nhiều chủ đầu tư và nhà thầu vẫn e ngại chất lượng, độ bền của sản phẩm.
Hà Nội cũng như phần lớn địa phương chưa có quy hoạch riêng cho chất thải rắn xây dựng hoặc quy hoạch vị trí thu gom, xử lý ngoài đê sông khiến doanh nghiệp khó thực hiện dự án. Đơn vị xử lý chất thải rắn công suất trên 500 tấn/ngày phải đánh giá tác động môi trường, phê duyệt báo cáo tác động và có giấy phép môi trường, hệ thống quan trắc tự động..., gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Đặc biệt, chi phí sản xuất cao khiến một số doanh nghiệp e ngại đầu tư. Phần lớn phế thải hiện nay từ các công trình thường bị đổ lẫn bêtông, gạch, đất, kim loại và bùn thải. Khi đưa về xử lý, doanh nghiệp phải tốn thêm nhân công và chi phí phân loại. Theo tính toán của Công ty Cổ phần dịch vụ sản xuất Toàn Cầu, chi phí sản xuất tái chế vật liệu đắp nền khoảng 100.000-110.000 đồng/tấn, bao gồm phí đầu tư thiết bị, nhân công sản xuất, chi phí phân loại...
Làm gì để khai thác tài nguyên phế thải xây dựng?
Để giải quyết bài toán chất thải rắn xây dựng, theo PGS.TS Tống Tôn Kiên, trước hết địa phương cần quy hoạch quỹ đất dành riêng cho các khu xử lý, bãi tập kết tái chế. Khi có hạ tầng tiếp nhận phù hợp, việc xử lý loại chất thải không quá phức tạp. Kế đó, cần có quy định bắt buộc phân loại chất thải xây dựng tại nguồn, quy định rõ trách nhiệm chuyển giao cho các đơn vị xử lý được cấp phép. Chủ nguồn thải phải chi trả đầy đủ chi phí xử lý.
Một giải pháp quan trọng khác là thúc đẩy thị trường vật liệu tái chế. Hiện Việt Nam đã có khung chính sách khuyến khích nhưng chưa đủ cụ thể và hấp dẫn để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư. Theo ông Kiên, cần có cơ chế ưu đãi mạnh hơn đối với các doanh nghiệp sản xuất vật liệu tái chế, đồng thời phát triển các trung tâm xử lý có quy mô đủ lớn, công suất tối thiểu 500-1.000 tấn mỗi ngày để bảo đảm hiệu quả kinh tế.
Bên cạnh đó, chính sách mua sắm công cần đóng vai trò dẫn dắt thị trường. Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước nên được quy định tỷ lệ bắt buộc sử dụng vật liệu tái chế trong xây dựng. Điều này đặc biệt phù hợp với các đô thị lớn, nơi nguồn vật liệu tự nhiên khan hiếm và phải vận chuyển từ xa, trong khi nhu cầu tiêu thụ vật liệu xây dựng rất lớn.
Dẫn kinh nghiệm từ Nhật Bản và Anh, ông Kiên cho biết các thành phố thường quy hoạch nhiều điểm tiếp nhận phế thải xây dựng. Đối với vật liệu đã được phân loại, các cơ sở tái chế thậm chí hỗ trợ chi phí vận chuyển hoặc trả tiền cho đơn vị thu gom. Ngược lại, vật liệu chưa được phân loại sẽ được đưa tới các cơ sở chuyên trách để phân loại và tái chế trước khi đưa vào sử dụng trở lại.
Ngoài ra, Nhà nước có thể nghiên cứu áp dụng cơ chế tín chỉ carbon đối với vật liệu tái chế nhằm ghi nhận giá trị giảm phát thải, tạo thêm nguồn thu cho doanh nghiệp. Song song với đó là các chương trình hỗ trợ nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ để nâng cao hiệu quả tái chế chất thải xây dựng, hướng tới phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng.
Chuyên gia Nguyễn Văn Hoan nhận định Hà Nội cần đồng thời mở rộng quy hoạch bãi tiếp nhận, siết kiểm soát đổ trộm, bắt buộc phân loại tại công trường và từng bước đưa vật liệu tái chế vào các dự án đầu tư công. Nếu không trong 5-10 năm tới thành phố sẽ đối mặt áp lực lớn về bãi đổ, ô nhiễm môi trường và thiếu nguồn vật liệu tự nhiên như cát, đá, đất san lấp.
Tin Gốc: Vnexpress

