Ngày 6-5, Bệnh viện Nhi đồng 1 (TP.HCM) thông tin về tình trạng sức khỏe của bé trai N.G.K. (sinh năm 2024) bị mẹ ruột và người tình bạo hành tại xã Hòa Hiệp (TP.HCM).
Sau những ngày giành giật sự sống, hiện sức khỏe của bé đã dần ổn định và vượt qua cơn nguy kịch. Bé đã có thể ăn uống bình thường, các vết thương, sây sát trên cơ thể cũng từng ngày hồi phục.
Điều khiến các y, bác sĩ và nhân viên y tế cảm thấy ấm lòng hơn cả là sự thay đổi trong tinh thần của bé. Bé đã bớt quấy khóc, dần lấy lại cảm giác an toàn.
Bé bắt đầu chơi đùa với những món đồ chơi nhỏ, có thể tương tác và đáp lại sự quan tâm, chăm sóc của các nhân viên y tế.
Hiện bé đang được các y, bác sĩ theo dõi, điều trị tại khoa ngoại tổng hợp Bệnh viện Nhi đồng 1, dự kiến chưa cần phẫu thuật.
Trước đó, bé K. được các bác sĩ chẩn đoán đa chấn thương với các tổn thương dập lách, dập gan, đứt tụy, tổn thương thận; gãy cũ xương cẳng tay trái kèm thiếu máu mạn tính và rối loạn đông máu.
Như Tuổi Trẻ Online đã thông tin, tối 5-5, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP.HCM đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị Thanh Trúc (33 tuổi) và Danh Chơn (30 tuổi, cùng trú xã Hòa Hiệp) để điều tra về hành vi “cố ý gây thương tích”.
Trúc và Chơn được xác định là hai người bạo hành nghiêm trọng cháu N.G.K. (sinh năm 2024, con ruột của Trúc) phải vào viện cấp cứu.
Theo điều tra, chiều 2-5, Công an xã Hòa Hiệp (TP.HCM) tiếp nhận tin báo của người dân về việc một phụ nữ có hành vi đánh đập con nhỏ tại nhà thuê ở ấp Phú Lâm, xã Hòa Hiệp.
Khi lực lượng chức năng có mặt, cháu K. được phát hiện trong tình trạng nguy kịch, toàn thân có nhiều vết bầm tím, trầy xước, vùng đầu bị rách, lơ mơ, phản ứng chậm.
Nạn nhân lập tức được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện địa phương, sau đó chuyển lên Bệnh viện Nhi đồng 1 (TP.HCM) tiếp tục điều trị.
Ngay khi tiếp nhận thông tin, ban giám đốc Công an TP.HCM đã chỉ đạo Phòng Cảnh sát hình sự phối hợp Công an xã Hòa Hiệp xác minh, làm rõ vụ việc.
Bước đầu cơ quan công an xác định Trúc và Chơn chung sống như vợ chồng, đã nhiều lần dùng cây tre đánh bé trai.
Riêng chỉ trong ngày 2-5, cháu K. đã bị đánh nhiều lần vào chân, lưng và đầu. Dù phát hiện bé trai chảy máu, hai người vẫn không đưa K. đi cấp cứu kịp thời.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP.HCM tiếp tục củng cố chứng cứ, xử lý nghiêm các nghi phạm theo quy định.
Nhiều người có thói quen cho trực tiếp cơm thừa vào ngăn mát tủ lạnh nhưng các chuyên gia cảnh báo hành động này có thể tiềm ẩn rủi ro về an toàn thực phẩm. Bác sĩ Yên Tông Hải, Giám đốc Trung tâm Độc chất lâm sàng tại Bệnh viện Trường Canh (Đài Loan), cho hay vi khuẩn Bacillus cereus từng gây ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm quy mô lớn tại các trường học. Hầu hết trường hợp này đều liên quan đến việc bảo quản không đúng cách các loại thực phẩm chứa tinh bột như cơm và các suất cơm hộp. Điểm mấu chốt không nằm ở việc chọn ngăn mát hay ngăn đá, mà là thời điểm đưa cơm vào tủ lạnh.
Trước những ý kiến nói không nên để cơm trắng trong ngăn mát, nhiều chuyên gia trong ngành gạo cho rằng cách tối ưu để xử lý cơm thừa là cho vào hộp kín và bảo quản trên ngăn đá. Họ giải thích nhiệt độ ngăn mát thường không đủ lạnh để bảo quản cơm hoàn hảo, khiến hạt cơm dễ bị ám mùi thực phẩm và mất đi độ ẩm bề mặt, dẫn đến kết cấu khô cứng, kém ngon. Cách làm lý tưởng là chia nhỏ cơm vào các hộp chuyên dụng và đưa vào ngăn đá ngay khi cơm còn tươi ngon.
Lò vi sóng là cách tốt nhất để giúp cơm đông lạnh lấy lại độ dẻo ngon như lúc mới nấu. Khi sử dụng cách này, cơm không cần phải rã đông trước; chỉ cần xịt một chút nước lên bề mặt rồi quay ở mức công suất 500W trong khoảng 3 phút 30 giây. Ngoài ra, việc sử dụng nồi cơm điện để hấp lại cơm trong khoảng 15 đến 20 phút cũng là một lựa chọn phù hợp.
Theo bác sĩ Yên, việc chỉ đơn thuần bỏ đồ ăn vào ngăn đá không giúp thực phẩm an toàn hơn một cách tuyệt đối. Mấu chốt nằm ở cách lưu trữ, nghĩa là thực phẩm sau khi nấu chín cần được đưa vào tủ lạnh càng sớm càng tốt. Nếu cơm trắng bị để ở nhiệt độ phòng suốt nhiều giờ mới mang đi cất, có thể vi khuẩn Bacillus cereus đã kịp sinh sôi và tiết ra độc tố. Khi đó, dù ngày hôm sau có mang cơm đi hấp lại, hâm nóng hay rang lên thì nhiệt độ cao cũng không thể tiêu diệt được những độc tố gây hại này.
Ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn Bacillus cereus được chia làm hai dạng chính. Dựa trên các tài liệu giáo dục sức khỏe của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Đài Loan, loại ngộ độc này gồm dạng gây nôn và gây tiêu chảy. Trong đó, dạng gây nôn chủ yếu liên quan đến thực phẩm chứa tinh bột và các món làm từ gạo.
Người bệnh thường có triệu chứng buồn nôn, nôn mửa, đau bụng và các cảm giác khó chịu khác. Thời gian ủ bệnh khá ngắn, các triệu chứng thường xuất hiện chỉ sau khoảng 30 phút đến 6 giờ. Tại Đài Loan, hầu hết vụ ngộ độc thực phẩm quy mô lớn liên quan đến suất ăn trường học trước đây đều bắt nguồn từ việc bảo quản cơm không đúng cách, dẫn đến sự xâm nhập của vi khuẩn Bacillus cereus.
Dạng ngộ độc gây tiêu chảy thường bắt nguồn từ nguồn thực phẩm đa dạng hơn. Bác sĩ cho biết khác với dạng gây nôn, loại ngộ độc do vi khuẩn Bacillus cereus dẫn đến tiêu chảy có thời gian ủ bệnh tương đối dài. Các loại thực phẩm dễ kích hoạt triệu chứng tiêu chảy rất phong phú, từ xúc xích, các loại nước sốt, nước dùng đến mứt, salad và bánh pudding.
Bác sĩ Yên nhấn mạnh một số độc tố do vi khuẩn Bacillus cereus tiết ra có khả năng chịu nhiệt cực tốt, và đây cũng chính là nguồn gốc của "hội chứng cơm rang". Loại độc tố gây nôn bền bỉ đến mức một khi cơm đã bị nhiễm khuẩn, dù có mang đi hâm nóng hay rang lại ở nhiệt độ cao, độc tố vẫn tồn tại mà không bị phá hủy.
Ông giải thích thêm nhiệt độ trong ngăn mát tủ lạnh thường duy trì ở mức 4 độ C. Mức nhiệt này chỉ có tác dụng ức chế sự phát triển của vi sinh vật chứ không thể tiêu diệt được vi khuẩn. Nếu cơm đã nhiễm độc tố gây nôn của vi khuẩn Bacillus cereus, loại độc tố này sẽ trở nên cực kỳ "lì lợm" và không thể bị loại bỏ bằng các phương pháp hâm nóng thông thường.
Theo bác sĩ Yên, trong y học có một khái niệm gọi là "vùng nhiệt độ nguy hiểm", cụ thể là từ 7 độ C đến 60 độ C. Hầu hết loại vi sinh vật gồm tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), vi khuẩn E. coli, Bacillus cereus và Salmonella, đều có thể dễ dàng sinh sôi và nhân bản nhanh chóng trong khung nhiệt độ này.
Nhiệt độ trung bình trong nhà thường rơi vào khoảng 20 độ C, hoàn toàn nằm trong vùng nhiệt độ nguy hiểm trên. Vì vậy, lý tưởng nhất là cất cơm vào tủ lạnh trong vòng một giờ vào mùa hè và hai giờ vào mùa đông. Việc duy trì nhiệt độ tủ lạnh ở mức khoảng 4 độ C sẽ giúp thực phẩm tránh được vùng nguy hiểm, từ đó giảm đáng kể nguy cơ nhiễm khuẩn Bacillus cereus.
"Ung thư tuyến giáp đang trở thành một vấn đề nổi lên trong hệ thống y tế, không phải vì tỷ lệ tử vong cao, mà vì sự gia tăng nhanh chóng về số ca mắc và những thách thức trong quản lý hợp lý", TS Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), cho biết tại hội thảo Cập nhật phương pháp điều trị, đánh giá tổn thương do ung thư tuyến giáp và liệu pháp hormone, hôm 4/4 tại Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc.
Việt Nam ghi nhận khoảng 6.100–6.200 ca mắc mới ung thư tuyến giáp, 850–900 trường hợp tử vong mỗi năm. Căn bệnh đứng trong top 10 ung thư phổ biến, đặc biệt ở nữ giới. Tỷ lệ nữ mắc bệnh cao gấp khoảng 3-4 lần nam giới.
Đặc biệt tỷ lệ mắc tăng nhanh trong 20 năm qua. Ví dụ tại TP.HCM, tăng từ 2,4 lên 7,5/100.000 dân (1996–2015), với tốc độ tăng trung bình khoảng 8,7%/năm. Mới nhất, tại Bệnh viện Ung Bướu TP HCM năm 2025, ung thư tuyến giáp chiếm 23% trong hơn 42.000 ca mới, tiếp theo là ung thư vú (18,1%).
"Đây là một trong những mức tăng nhanh nhất trong các loại ung thư", ông Khoa nói, thêm rằng khác với các ung thư như gan, phổi hay dạ dày, ung thư tuyến giáp có những đặc điểm rất đặc biệt. Tỷ lệ mắc tăng nhanh nhưng tử vong thấp, là ung thư có tiên lượng tốt nhất trong nhiều loại ung thư với tỷ lệ sống 5 năm trên 90% nếu phát hiện sớm.
Theo các nghiên cứu quốc tế, sự gia tăng tỷ lệ mắc chủ yếu do tăng phát hiện, không phải tăng thực sự bệnh lý. Ví dụ, tại Hàn Quốc, chỉ trong vòng 10 năm, tỷ lệ chẩn đoán ung thư tuyến giáp đã tăng 15 lần với hơn 40.000 người được phát hiện, tuy nhiên, không có khác biệt về số tử vong.
TS Dương Đức Bình, Bệnh viện K Tân Triều, cũng nhìn nhận thực trạng gia tăng nhanh chóng số ca phát hiện bướu giáp nhân, chủ yếu nhờ sự phổ biến của siêu âm độ phân giải cao. Tuy nhiên, thách thức hiện nay không còn nằm ở việc phát hiện, mà là làm sao phân biệt chính xác tổn thương lành tính và ác tính, từ đó tránh tình trạng chẩn đoán và điều trị quá mức.
Trong điều trị, xu hướng nổi bật hiện nay là chuyển từ "cắt toàn bộ tuyến giáp" sang tiếp cận cá thể hóa. Nhiều trường hợp ung thư tuyến giáp biệt hóa giai đoạn sớm có thể chỉ cần cắt thùy thay vì cắt toàn bộ, giúp giảm biến chứng, bảo tồn chức năng tuyến giáp và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh. Đồng thời, chiến lược theo dõi chủ động cũng đang được áp dụng cho một số trường hợp ung thư nguy cơ thấp.
Trong lĩnh vực y học hạt nhân, TS Bình cho biết, việc sử dụng I ốt 131 (I-131) hiện nay không còn mang tính đại trà mà được chỉ định dựa trên phân tầng nguy cơ. Bệnh nhân nguy cơ thấp thường không cần điều trị I-131, trong khi nhóm nguy cơ trung bình và cao sẽ được cân nhắc liều lượng phù hợp nhằm tối ưu hiệu quả và giảm tác dụng phụ.
Đáng chú ý, khoảng 5 - 15% bệnh nhân có thể tiến triển thành ung thư tuyến giáp kháng I-131 – một thách thức lớn trong điều trị. Với nhóm này, các liệu pháp nhắm trúng đích, đặc biệt là các thuốc ức chế tyrosine kinase, đang mở ra hướng điều trị mới, dựa trên phân tích đột biến gen như BRAF hay RET để cá thể hóa phác đồ. Bên cạnh đó, Việc phối hợp giữa chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh, phẫu thuật và y học hạt nhân trong các Hội đồng Ung thư được xem là chìa khóa để đưa ra quyết định điều trị tối ưu cho từng bệnh nhân.
TS Khoa cho biết thêm Bộ Y tế xác định rõ ung thư tuyến giáp không phải là ưu tiên giảm tử vong, mà là ưu tiên quản lý hợp lý, tránh lạm dụng y tế. Cần chuyển từ "phát hiện càng nhiều càng tốt" sang "phát hiện đúng – điều trị đúng – quản lý phù hợp". Thời gian tới, Bộ Y tế định hướng giảm tỷ lệ phẫu thuật không cần thiết, giảm chỉ định siêu âm tràn lan, chuẩn hóa 100% cơ sở ung bướu áp dụng phân tầng nguy cơ, xây dựng hướng dẫn quốc gia cập nhật theo quốc tế và tăng tỷ lệ quản lý ngoại trú, theo dõi dài hạn.
Dưới góc nhìn y học, cần tách bạch giữa ảnh hưởng thực sự lên chức năng tình dục và nỗi lo bị khuếch đại do tâm lý hoặc thói quen tự soi xét quá mức. Hiện chưa có bằng chứng mạnh cho thấy chỉ riêng việc thủ dâm nhiều sẽ trực tiếp gây yếu sinh lý. Các nghiên cứu cho thấy tần suất thủ dâm đơn thuần không phải yếu tố dự báo chính của rối loạn cương dương. Những yếu tố liên quan rõ hơn lại là tuổi tác, lo âu, trầm cảm, bệnh lý nền và mức độ hài lòng trong mối quan hệ.
Tuy nhiên, cảm giác "xuống phong độ" mà nhiều người gặp phải lại thường xuất phát từ yếu tố tâm lý. Khi liên tục lo sợ mình đang làm hại cơ thể hoặc so sánh bản thân với những hình ảnh không thực tế, sẽ dễ rơi vào trạng thái lo âu hiệu suất tình dục. Chính sự lo lắng này có thể làm giảm hưng phấn, khó duy trì cương hoặc tạo cảm giác "không đủ", dù về mặt sinh học chưa chắc có rối loạn rõ ràng.
Trong một số trường hợp, thủ dâm có thể góp phần gây ảnh hưởng, nhưng vấn đề không ở số lần mà ở cách thức và mức độ lệ thuộc. Nếu quen với kiểu kích thích quá đặc hiệu, quá mạnh hoặc mang tính cá nhân hóa cao, cơ thể có thể thích nghi theo kiểu đó; đến khi chuyển sang quan hệ thực tế, phản ứng không còn đồng bộ. Một số nghiên cứu ghi nhận mối liên hệ giữa tần suất thủ dâm và tình trạng xuất tinh chậm. Tuy nhiên mối liên hệ này nhìn chung yếu và không nhất quán, cho thấy đây không phải nguyên nhân duy nhất mà chỉ là một yếu tố góp phần trong bối cảnh cụ thể.
Về mặt nội tiết, hiện cũng chưa có bằng chứng đáng tin cậy cho thấy thủ dâm thường xuyên gây suy giảm testosterone lâu dài hay "hao sinh lực". Các thay đổi hormone nếu có thường chỉ mang tính ngắn hạn và không dẫn đến rối loạn nội tiết đáng kể ở nam giới khỏe mạnh.
Điều quan trọng không phải là đếm số lần, mà là xem hành vi đó có gây hậu quả thực tế hay không. Nếu vẫn sinh hoạt bình thường, không đau, không lệ thuộc, không né tránh quan hệ thật và không bị ám ảnh kiểm tra liên tục, thì thường chưa phải vấn đề bệnh lý. Ngược lại, nếu xuất hiện các dấu hiệu như khó cương kéo dài, khó duy trì cương khi gần gũi, chỉ dễ đạt kích thích khi ở một mình, xuất tinh chậm rõ rệt hoặc lo lắng dai dẳng ảnh hưởng đến đời sống, thì nên đi khám chuyên khoa để được đánh giá đầy đủ.