Khoảng 10 thị trấn tại miền nam Lebanon đã bị quân đội Israel không kích và pháo kích trong ngày 5/5, khiến ít nhất ba người thiệt mạng và một người bị thương, theo hãng thông tấn nhà nước Lebanon NNA.
Nhóm vũ trang Hezbollah tại Lebanon cũng tuyên bố đã tiến hành 18 cuộc tấn công riêng rẽ nhằm vào lực lượng Israel trong một ngày qua. Đây là số lượng nhiều nhất kể từ khi thỏa thuận ngừng bắn giữa Israel và Lebanon có hiệu lực vào giữa tháng 4.
Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) cho biết binh sĩ nước này ở miền nam Lebanon đã bị rocket của lực lượng Hezbollah nhắm mục tiêu vào cuối ngày 5/5, thêm rằng không có quân nhân nào bị thương.
IDF hôm 6/5 tuyên bố không quân Israel trước đó một ngày đánh trúng một số công trình được Hezbollah sử dụng, khiến vài tay súng thiệt mạng.
Quân đội Israel cũng phát cảnh báo sơ tán ngay lập tức đối với 12 ngôi làng ở miền nam Lebanon. Phần lớn những ngôi làng này nằm ở phía bắc sông Litani, nằm ngoài khu vực mà binh sĩ Israel đang kiểm soát.
Lebanon bị kéo vào xung đột ở Trung Đông từ đầu tháng 3, sau khi lực lượng Hezbollah do Tehran hậu thuẫn phóng rocket vào lãnh thổ Israel để trả đũa vụ lãnh tụ tối cao Iran Ali Khamenei bị sát hại trong chiến dịch tập kích của Mỹ – Israel.
Israel đáp trả bằng cách tiến hành các cuộc không kích lớn trên khắp Lebanon, đồng thời điều quân vào miền nam quốc gia láng giềng. Tel Aviv cũng tuyên bố thiết lập khu vực “Đường Vàng” kéo dài tới 10 km ở miền nam Lebanon. Binh sĩ Israel hiện đồn trú tại đây và cư dân bị cấm quay trở lại.
Những cuộc tập kích của Israel đã khiến hơn 2.700 người chết tại Lebanon, trong đó có hàng chục trường hợp thiệt mạng sau khi lệnh ngừng bắn do Mỹ làm trung gian có hiệu lực. Giao tranh diễn ra gần như hàng ngày bất chấp thỏa thuận đình chiến, chủ yếu là tại miền nam Lebanon.
Quân đội Israel cho biết 17 binh sĩ và một nhà thầu dân sự nước này đã thiệt mạng trong giao tranh.
Hezbollah yêu cầu toàn bộ lực lượng Israel phải rút khỏi miền nam Lebanon, trong khi giới lãnh đạo Israel tuyên bố binh sĩ nước này sẽ ở lại cho đến khi loại bỏ hoàn toàn được mối đe dọa từ nhóm vũ trang.
Tin Gốc: Vnexpress

Iran, Oman họp bàn về quản lý eo biển Hormuz
Trong một tuyên bố hôm 29/6, Thứ trưởng Ngoại giao Iran phụ trách pháp lý và quốc tế Kazem Gharibabadi xác nhận, trong chuyến thăm Muscat, ông đã gặp Đại sứ đặc trách Bộ Ngoại giao Oman Abdulaziz Al-Hinai.
Tại cuộc gặp, hai bên tổ chức cuộc họp đầu tiên của ủy ban chung về eo biển Hormuz tại Muscat nhằm thảo luận các vấn đề hiện tại liên quan đến tuyến đường biển huyết mạch này và định hướng phối hợp trong thời gian tới, cuộc gặp đầu tiên như vậy kể từ khi Mỹ và Iran ký kết thỏa thuận sơ bộ chấm dứt chiến tranh.
“Trong khi xem xét các vấn đề hiện tại liên quan đến eo biển, chúng tôi trao đổi quan điểm về việc quản lý eo biển trong tương lai trong khuôn khổ Điều 5 của Bản ghi nhớ Islamabad và các quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển”, ông Gharibabadi nói thêm.
Eo biển Hormuz sở hữu vị trí địa lý đặc biệt quan trọng, được xem là “cánh cổng” trên biển duy nhất nối Vùng Vịnh với đại dương, nơi hơn 20% sản lượng dầu mỏ thế giới đi qua mỗi ngày. Vì vậy, nó là tuyến vận tải mà thế giới chưa có phương án thay thế.
Đây là nơi trung chuyển năng lượng trung tâm của thế giới, nhưng cũng là điểm nghẽn với nguồn cung nhiên liệu cho thế giới khi xung đột xảy ra.
Vì vậy, ngay sau khi Mỹ và Israel tấn công Iran hôm 28/2, Tehran đã đáp trả bằng cách đóng cửa eo biển quan trọng này, dẫn tới những hậu quả nặng nề cho kinh tế thế giới, cho Washington và các đồng minh, đồng thời đối với cả Tehran.
Theo biên bản ghi nhớ chấm dứt xung đột giữa Iran và Mỹ, Tehran sẽ đối thoại với Oman để xây dựng cơ chế quản lý và cung cấp dịch vụ hàng hải tại eo biển Hormuz, với sự tham vấn các quốc gia ven Vùng Vịnh. Văn kiện cũng quy định việc qua lại eo biển được miễn phí trong 60 ngày kể từ khi ký thỏa thuận.
Việc Tehran tiếp tục kiểm soát eo biển này đã làm leo thang căng thẳng, gần đây nhất là vào rạng sáng 28/6, khi Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ tuyên bố tấn công 10 mục tiêu quân sự của Iran vì “sự gây hấn liên tục của Tehran đối với hoạt động vận tải thương mại”.
Iran cho biết đã tấn công trả đũa vào các căn cứ của Mỹ ở Kuwait và Bahrain. Cả Kuwait và Bahrain đều lên án các hành động này.
Tehran khẳng định các tàu đi qua eo biển phải đi qua một hành lang gần bờ biển của nước này, mặc dù trong tuần qua có hàng chục tàu đã đi dọc theo phía đối diện của tuyến đường thủy, men theo bờ biển Oman.
“Bất kỳ nỗ lực nào nhằm áp dụng các thỏa thuận mới hoặc riêng biệt so với những gì đang được Cộng hòa Hồi giáo Iran thực hiện, sẽ chỉ dẫn đến tình hình phức tạp hơn và việc chậm trễ mở lại eo biển Hormuz cũng như sẽ làm gia tăng căng thẳng”, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi cho biết.
Văn bản ghi nhớ được công bố cho biết Iran sẽ xác định việc quản lý eo biển trong tương lai thông qua đối thoại với Oman và các quốc gia Vùng Vịnh khác, nhưng phải “phù hợp” với luật pháp quốc tế.
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran cho biết đang thực hiện các biện pháp kiểm soát giao thông trên eo biển và các tàu vi phạm các biện pháp này sẽ bị xử lý nghiêm khắc hơn trước.
Mohammad Mokhber, cố vấn của Lãnh tụ Tối cao Iran, viết trên X rằng, chừng nào Iran còn quản lý eo biển Hormuz, thì “giấc mơ bá quyền của Washington trong khu vực sẽ không thành hiện thực”.
Các chuyên gia cảnh báo động thái này cho thấy có thể sẽ xảy ra thêm nhiều sự cố hơn nữa ở eo biển Hormuz.
Số phận tài sản Iran bị phong tỏa
Trong ngày 29/6, Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian cho biết nước này và Qatar đã đạt được thỏa thuận giải phóng 6 tỷ USD trong tổng số 12 tỷ USD tài sản của quốc gia Hồi giáo đang bị phong tỏa tại Qatar.
"Căn cứ theo các thỏa thuận đã đạt được, 6 tỷ USD trong tổng số 12 tỷ USD tài sản của Iran đang được giữ tại Qatar sẽ được giải phóng và chuyển về nước. Công tác cần thiết để hoàn tất việc thu hồi phần tài sản còn lại cũng đang được tiếp tục", ông Pezeshkian tuyên bố.
Trước đó, theo các nguồn tin, Mỹ và Qatar đang phối hợp xây dựng một cơ chế cho phép Iran sử dụng một phần tài sản bị phong tỏa để mua hàng hóa nhân đạo. Theo nguồn tin, trong giai đoạn đầu Tehran có thể được tiếp cận khoản tiền 6 tỷ USD đang được giữ tại Qatar.
Động thái này diễn ra trong bối cảnh Mỹ và Iran đang tìm cách duy trì một thỏa thuận tạm thời vừa được ký kết.
Tuy nhiên, tiến trình đàm phán vẫn rất mong manh do bất đồng về quyền sử dụng số tiền được giải phóng, chương trình hạt nhân của Iran và cơ chế bảo đảm an ninh hàng hải tại eo biển Hormuz.
Giới chức Iran khẳng định mục tiêu cuối cùng của họ là thu hồi toàn bộ khoảng 12 tỷ USD tài sản đang bị phong tỏa tại Qatar, trong khi Mỹ cho rằng việc giải ngân sẽ được thực hiện theo từng giai đoạn và vẫn chịu cơ chế giám sát.
Việc giải phóng 6 tỷ USD nếu xảy ra sẽ phần nào giảm bớt áp lực đối với nền kinh tế Iran, vốn đang chịu tác động nặng nề từ nhiều năm trừng phạt quốc tế và xung đột gần đây. Nhưng đến nay Mỹ và Qatar chưa xác nhận việc chuyển giao tiền.
Tin Gốc: Dân Trí

Ngoại trưởng Anh Yvette Cooper ngày 2/4 chủ trì hội nghị trực tuyến với sự tham gia của đại diện hơn 40 quốc gia nhằm thảo luận các chiến lược để mở lại eo biển Hormuz. Tuyến huyết mạch dầu mỏ của thế giới này đang bị Iran phong tỏa để trả đũa Mỹ và Israel, khiến hoạt động vận tải biển qua khu vực bị đình trệ.
"Liên minh đa quốc gia sẽ huy động tổng lực các công cụ kinh tế và ngoại giao nhằm đảm bảo eo biển Hormuz được mở cửa an toàn và bền vững", bà Cooper nói.
Giới chuyên gia nhận định liên minh khó tạo ra thay đổi ngay lập tức trừ khi đạt được thỏa thuận với Iran, trong khi biện pháp quân sự còn phụ thuộc vào sự sẵn sàng của các thành viên và khả năng phối hợp với Mỹ.
Cuộc họp trực tuyến có sự góp mặt của đại diện nhiều nước châu Âu như Pháp, Hà Lan, Đức, Italy cùng các quốc gia từ châu Á và Trung Đông. Ban đầu, châu Âu tỏ ra dè dặt do lo ngại bị cuốn vào xung đột, nhưng giá dầu và khí đốt tăng mạnh đã buộc khu vực này phải thay đổi lập trường.
Liên minh do Anh dẫn dắt đặt mục tiêu khôi phục tự do hàng hải và an toàn cho tàu thương mại đi qua Hormuz. Bà Cooper cho biết liên minh đang xem xét các công cụ phù hợp, có thể là áp thêm lệnh trừng phạt kinh tế với Iran để đạt được mục tiêu này.
Italy, Hà Lan và UAE ra tuyên bố chung kêu gọi lập một "hành lang nhân đạo" để đảm bảo vận chuyển phân bón qua Hormuz, ngăn chặn một cuộc khủng hoảng lương thực. Giới hoạch định quân sự từ nhiều quốc gia cũng sẽ họp bàn sau đó để vạch ra các phương án đảm bảo an ninh cho eo biển một khi chiến sự kết thúc.
Trước thềm hội nghị, Thủ tướng Anh Keir Starmer nhấn mạnh các nước sẽ "đánh giá mọi biện pháp ngoại giao và chính trị khả thi". Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận thực tế khi lưu ý mở lại Hormuz "không dễ dàng".
Thách thức lớn nhất đến từ Iran, quốc gia đang nắm lợi thế địa lý để kiểm soát thực địa và sử dụng Hormuz để gây sức ép chiến lược. Trong thời bình, tuyến đường này vận chuyển khoảng 20% nguồn cung dầu toàn cầu từ vùng Vịnh. Hiện tại, Iran chỉ cho phép một số tàu từ quốc gia "thân thiện" đi qua, chặn hoàn toàn các phương tiện liên quan đến Mỹ, Israel và đồng minh.
Theo dữ liệu từ Lloyd's List Intelligence, lưu lượng tàu qua Hormuz từ ngày 1/3 đã giảm tới 94% so với cùng kỳ năm ngoái. Tehran còn thiết lập hệ thống "trạm thu phí" để kiểm soát tàu thuyền đi qua, cho thấy nỗ lực định hình một cơ chế quản lý mới tại khu vực.
Trong khi đó, Mỹ không tham gia liên minh do Anh dẫn dắt, bởi Tổng thống Donald Trump từng kêu gọi đồng minh châu Âu triển khai tàu chiến để cùng Washington mở cửa lại Hormuz nhưng không được đáp lại.
"Đối với những quốc gia không thể tiếp cận nguồn nhiên liệu qua Hormuz, như Anh, nước đã từ chối tham gia chiến dịch Iran, tôi có gợi ý này. Thứ nhất, hãy mua dầu của Mỹ, chúng tôi có rất nhiều. Thứ hai, hãy gom chút can đảm muộn màng, đến Hormuz và tự mà lấy lại", ông Trump viết trên mạng xã hội Truth Social ngày 31/3.
Giới quan sát đánh giá sự vắng mặt của Mỹ làm dấy lên nghi ngờ về năng lực quân sự của liên minh, bởi Washington lâu nay vẫn là lực lượng chủ chốt trong các chiến dịch đảm bảo an ninh hàng hải. Khi lực lượng Houthi ở Yemen phong tỏa Biển Đỏ cuối năm 2023 để thể hiện sự ủng hộ Hamas trong chiến sự Gaza, Mỹ cũng là bên lập liên minh hàng hải để hộ tống tàu thương mại qua khu vực.
"Với bối cảnh hiện tại, triển vọng của liên minh do Anh dẫn dắt là rất mờ mịt, trừ khi họ đạt được một thỏa thuận nào đó với Iran về quyền tiếp cận eo biển", Ian Lesser, chuyên gia tại viện chính sách công phi đảng phái German Marshall Fund, trụ sở Mỹ, trả lời Al Jazeera.
Giải pháp quân sự gần như không khả thi, khi nội bộ liên minh chưa có sự thống nhất rõ ràng. Các nước châu Âu vẫn thận trọng với việc triển khai lực lượng quân sự, gây hoài nghi về khả năng biến cam kết thành hành động cụ thể.
Cựu cao ủy phụ trách đối ngoại của Liên minh châu Âu Cathy Ashton mô tả hội nghị của bà Cooper giống một "nỗ lực thăm dò" hơn là chương trình hành động thực tế.
"Nội dung thảo luận sẽ không tập trung vào những việc như 'hãy tập hợp hải quân lại, rồi lên đường thực hiện một chiến dịch quân sự nào đó'", bà Ashton bình luận. "Nhưng điều đó không đồng nghĩa sẽ không có các cuộc đối thoại về hành động quân sự".
Ông Lesser cho rằng mở cửa lại eo biển bằng vũ lực đòi hỏi Mỹ và châu Âu phải hợp tác chặt chẽ với nhau, trong khi Washington đang chỉ trích đồng minh và dọa rút khỏi NATO.
"Tuy nhiên, liên minh sẽ có vị thế tốt để đảm bảo an ninh cho các tuyến hàng hải thương mại sau khi các hoạt động thù địch chấm dứt", ông Lesser bổ sung. "Lý tưởng nhất là liên minh không phải thay thế, mà hoạt động song hành với Mỹ. Chính quyền ông Trump hiểu rằng họ khó nhận được sự hỗ trợ nào khác ngoài liên minh này, vì vậy Washington có thể đưa ra các cam kết để trấn an".
Edmund Fitton-Brown, chuyên gia tại Quỹ Bảo vệ Dân chủ (FDD) có trụ sở tại Mỹ, đánh giá việc xây dựng liên minh hàng hải là bước đi khôn ngoan của Thủ tướng Starmer nhằm thể hiện vai trò lãnh đạo của Anh trong nhóm quốc gia vốn thường ngần ngại sử dụng vũ lực.
"Mục đích của cuộc họp là xem xét tất cả phương án khả thi để mở cửa lại eo biển Hormuz sau khi chiến sự kết thúc. Dù vậy, mọi thứ khó có thể sớm quay lại như trước, bởi ngay cả khi Mỹ đơn phương chấm dứt các hoạt động quân sự, Iran vẫn có khả năng gây ra những xáo trộn lớn tại eo biển này", ông Fitton-Brown bình luận.
Như Tâm (Theo Al Jazeera, euronews, Reuters)

Chúng tôi gặp Linnéa Flystam, 27 tuổi, vào những ngày cuối cùng trước khi cô kết thúc kỳ thực tập 5 tháng tại bộ phận chính trị và ngoại giao công chúng của Đại sứ quán Thụy Điển ở Hà Nội. Trong quán cà phê, Flystam chọn một ly bạc xỉu và chia sẻ: "Tôi sẽ rất nhớ hương vị cà phê đậm đà và thơm ngon ở Việt Nam".
Sau 5 tháng ở Việt Nam, điều Flystam mang về không chỉ là hương vị của những ly cà phê mà còn là tình bạn, những trải nghiệm và sự gắn bó với một đất nước cách quê hương hàng nghìn cây số, nhưng đã trở thành "ngôi nhà thứ hai" của cô.
Là sinh viên ngành khoa học chính trị ở Thụy Điển, Linnéa Flystam lựa chọn đến Việt Nam cho kỳ thực tập của mình, nhưng đó cũng không phải một quyết định ngẫu nhiên.
"Tôi từng đến Việt Nam hai lần với tư cách là khách du lịch, nhưng kể từ lần đầu tiên, tôi đã biết đất nước này luôn là nơi tôi muốn quay lại. Việt Nam vừa rất khác so với Thụy Điển, lại vừa rất thân thiện và cởi mở, vì vậy tôi hòa nhập rất nhanh. Gia đình và bạn bè đều biết tôi yêu thích Việt Nam nên chẳng hề ngạc nhiên khi tôi chọn đến đây thực tập", Flystam chia sẻ về mối duyên với đất nước hình chữ S.
Công việc của Flystam tại Đại sứ quán Thụy Điển là theo dõi thông tin thời sự, viết báo cáo, tổ chức sự kiện và tham gia vào hoạt động truyền thông của đại sứ quán.
Sinh sống ở Hà Nội, điều khiến nữ thực tập sinh cảm thấy thích thú là được cảm nhận một thành phố đang chuyển mình mạnh mẽ, từ những công trình mới cho đến tư duy của con người.
"Việt Nam là một đất nước thú vị và đây là thời điểm tốt nhất để tôi đến đây làm việc, vì tôi được chứng kiến những thay đổi đang diễn ra ngay lúc này. Việt Nam trên đà vươn lên và tôi rất vui khi được tận mắt quan sát quá trình đó", cô nói.
Theo Flystam, Việt Nam vốn không xa lạ với người Thụy Điển. Tại quốc gia Bắc Âu này, Việt Nam không chỉ được nhắc đến với những câu chuyện lịch sử, mà còn về việc đất nước này đang trên đà phát triển và những cơ hội hợp tác mà hai nước có thể cùng nhau khai thác. Những quan sát từ công việc giúp cô nhận ra rằng hợp tác giữa hai nước đang bước sang giai đoạn mới.
"Quan hệ Việt Nam - Thụy Điển đã có nền tảng và niềm tin vững chắc. Chúng tôi là quốc gia phương Tây đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Số lượng doanh nghiệp tại Thụy Điển đang tăng nhanh tại Việt Nam, với hơn 80 công ty. Tôi cho rằng hợp tác giữa hai nước đang bước sang giai đoạn mới", cô nói.
Trong thời gian ở Việt Nam, Flystam cũng tranh thủ khám phá nhiều địa phương như Đà Nẵng, Hội An, Hạ Long, Ninh Bình.
Cô đặc biệt ấn tượng với TP.HCM - "một thành phố lớn, sôi động và rất quốc tế".
Không chỉ yêu cà phê Việt Nam, nữ thực tập sinh người Thụy Điển còn "phải lòng" chả giò, đậu phụ sốt cà chua và nhiều món ăn khác.
Khi được hỏi về một điều sẽ làm cô nhớ mãi về Việt Nam, Flystam nói rằng cô "không có một khoảnh khắc cụ thể nào", đó là rất nhiều giây phút nhỏ giúp cô vượt qua những bỡ ngỡ ban đầu và nhanh chóng thích nghi với cuộc sống ở Việt Nam.
Khác biệt văn hóa ban đầu là rào cản, nhưng cuộc sống ở Việt Nam đã giúp cô học cách "bước ra khỏi vùng an toàn của chính mình".
"Tôi nhận ra mình có khả năng thích nghi tốt hơn nhiều so với tôi nghĩ. Và tôi nhận ra rằng việc lao mình vào một xã hội mới, bước ra khỏi vùng an toàn, điều đó hoàn toàn ổn", Flystam chia sẻ.
Những người bạn Việt Nam mới quen vừa giúp cô cảm nhận được sự ấm áp và dễ gần của người dân địa phương, vừa cho cô nhiều góc nhìn mới mẻ về đất nước.
Từ những tiếp xúc cá nhân đó, Flystam cho rằng trong thế giới ngày nay, những mối quan hệ giữa người với người có ý nghĩa không kém các kênh ngoại giao chính thức trong việc vun đắp quan hệ giữa các quốc gia.
"Khi đến một đất nước khác, chúng ta xây dựng sự quan tâm và hiểu biết rất cá nhân. Đó cũng là điều mà tôi sẽ đem theo khi trở về nhà", cô nói và nhắn nhủ người trẻ Việt Nam hãy đến Thụy Điển nếu có cơ hội.
Cô cũng cho rằng việc người trẻ hai nước tìm hiểu về lịch sử của mối quan hệ Việt Nam - Thụy Điển là cách để chúng ta gìn giữ mối quan hệ này.
"Những thế hệ đi trước ở đất nước chúng tôi hiểu rất rõ về Việt Nam. Ông bà, cha mẹ của chúng tôi đã từng xuống đường biểu tình phản đối cuộc chiến ở Việt Nam và cùng ăn mừng khi cuộc chiến kết thúc. Đó là những ký ức tập thể được lưu truyền qua nhiều thế hệ", cô kể lại.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

