Hôm 1/4, TCL Electronics (Trung Quốc) thông báo hoàn tất thương vụ mua cổ phần chi phối mảng kinh doanh giải trí gia đình toàn cầu của Sony (Nhật Bản). Theo đó, hai bên lập liên doanh mới tên Bravia Inc, TCL sẽ trả khoảng 75,4 tỷ yen (hơn 473 triệu USD) để nắm 51% cổ phần, Sony giữ 49% còn lại.
Sony sẽ ký các thỏa thuận cấp phép với Bravia Inc về bằng sáng chế, công nghệ độc quyền và quyền thương hiệu. Nhờ đó, liên doanh mới được bán các sản phẩm mang thương hiệu Sony và Bravia, bao gồm TV Bravia, máy chiếu, thiết bị âm thanh và hệ thống rạp chiếu phim gia đình. Ngoài ra, TCL cũng sẽ mua lại 100% cổ phần Sony EMCS (Malaysia), công ty con chịu trách nhiệm sản xuất các sản phẩm giải trí gia đình của Sony.
Tin hoàn tất thương vụ giúp cổ phiếu TCL Electronics khép phiên đầu tháng 4 tăng 8,5% trên sàn Hong Kong. Đầu năm đến nay, mã này tăng hơn 32%. Cổ phiếu Sony cũng tăng hơn 5%, thu hẹp mức giảm từ đầu năm đến nay còn 17%.
Trong thông báo phát đi, Chủ tịch cấp cao Sony Kenji Tanaka, cho biết liên doanh Bravia Inc sẽ “nỗ lực mang lại giá trị mới cho khách hàng toàn cầu và đạt được tăng trưởng hơn nữa trong lĩnh vực giải trí gia đình”. Trước đó, thương vụ từng được tiết lộ vào tháng 1/2026, tức 80 năm sau khi Sony thành lập và 20 năm thương hiệu TV Bravia trình làng.
Sony ra đời năm 1946 và gia nhập thị trường TV vào 1960, với TV8-301, mẫu TV bán dẫn di động trực tiếp đầu tiên trên thế giới, cấu tạo từ 23 bóng bán dẫn và 19 điốt. Đến 2005, hãng tung ra dòng tivi LCD mang nhãn hiệu Bravia.
Trong khi, TCL thành lập năm 1981, đang hoạt động tại hơn 160 thị trường. Hãng bắt đầu lập kế hoạch tham gia thị trường TV từ 1991 và trình làng nhiều mẫu TV ra thị trường từ năm 2000. Báo cáo “Global TV Shipments Monthly Tracker” của Counterpoint Research cho biết TCL là nhà sản xuất TV lớn thứ hai thế giới đến tháng 11/2025, nắm 9% thị phần, sau Samsung Electronics (17%).
Trong khi đó, Sony chỉ còn giữ chưa đầy 2% thị phần mảng TV, đứng thứ 10. Trong năm tài chính 2025 kết thúc vào 31/3/2025, mảng kinh doanh màn hình gồm TV và máy chiếu của Sony ghi nhận doanh thu 597,6 tỷ yen, giảm 10%.
Giới quan sát chỉ ra các mặt lợi mang tính bổ khuyết mà Sony và TCL nhận được từ thương vụ này. Với hãng điện tử Nhật Bản, họ có quyền tiếp cận sâu hơn vào năng lực sản xuất của TCL. Công ty Trung Quốc này có chuỗi quy trình sản xuất TV hoàn chỉnh, giúp chủ động hơn về phát triển công nghệ và giá cả.
Theo trang công nghệ The Verge, Sony từng dựa vào nhiều đối tác sản xuất khác nhau để sản xuất TV của mình. Sony được cho là đã sử dụng tấm nền cho TV LCD từ công ty con của TCL là TCL CSOT, bên cạnh tấm nền OLED từ LG Display và Samsung Display. Thỏa thuận giúp mối quan hệ giữa Sony và TCL CSOT được đảm bảo, nhất là khi TCL định xây nhà máy OLED mới.
Với TCL, The Verge cho rằng sẽ được quyền kiểm soát phần lớn việc sản xuất TV Sony, cũng như quyền tiếp cận vào công nghệ bên trong những chiếc TV đó. Điều làm nên một chiếc TV Sony không phải là cách lắp ráp mà là SoC (System on a Chip) và khả năng xử lý hình ảnh của nó.
Sony từ lâu đã dẫn đầu về xử lý hình ảnh, tạo nên sự khác biệt về hiệu năng TV so với các đối thủ. Ví dụ, mẫu Bravia 8 II nổi trội nhờ khả năng xử lý hình ảnh chứ không phải nhờ tấm nền QD-OLED, được cho là mua từ Samsung Display.
Đồng quan điểm, nhà phân tích cấp cao Nikhil Kishor tại hãng nghiên cứu thị trường Counterpoint tin rằng TCL sẽ tích hợp sâu công nghệ tấm nền và đèn nền của mình với công nghệ xử lý hình ảnh độc quyền của Sony, tạo ra lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ hơn trong phân khúc TV cao cấp.
“Thay vì định vị lại Bravia như thương hiệu hướng đến số lượng, chiến lược dường như tập trung vào việc duy trì sự khác biệt cao cấp của thương hiệu, đồng thời cải thiện khả năng cạnh tranh về giá cả”, ông nhận định.
Tại thông báo thương vụ, Chủ tịch TCL Du Juan cũng tuyên bố: “Thông qua hợp tác này, chúng tôi dự định cùng nhau tận dụng thế mạnh cốt lõi của mỗi bên trong việc xây dựng thương hiệu, công nghệ màn hình, kênh bán hàng, chuỗi cung ứng”.
Phó chủ tịch nghiên cứu Counterpoint Research Yoshio Tamura, đánh giá Sony giúp TCL giải quyết khoảng trống cấu trúc còn lại về định vị thương hiệu cao cấp và uy tín, lĩnh vực mà TCL còn thua kém, bất chấp khả năng phần cứng mạnh mẽ.
Với Sony, tận dụng chuỗi cung ứng LCD tích hợp theo chiều dọc của TCL, đặc biệt là công nghệ đèn nền MiniLED, thuộc hàng mạnh nhất thế giới, giúp nâng khả năng tiếp cận phần cứng màn hình tiên tiến với chi phí cạnh tranh.
Từ thương vụ Sony – TCL, nhiều khả năng “ngôi vương” TV toàn cầu đổi chủ. Phó tổng giám đốc bộ phận nghiên cứu kinh doanh màn hình cỡ lớn tại Sigmaintell Zita Zhang chỉ ra đây là một trong số ít các thương vụ giữa các thương hiệu TV hàng đầu thế giới hai thập kỷ qua. “Nó sẽ có tác động toàn diện và sâu rộng đến toàn bộ thị trường”, bà nói.
Theo dữ liệu của Sigmaintell, lượng TV TCL xuất xưởng toàn cầu đạt 30,7 triệu chiếc vào năm 2025, đứng thứ hai sau Samsung (35,3 triệu chiếc). Sony sản xuất được 4,1 triệu chiếc TV năm ngoái.
Sau khi thương vụ hoàn tất, lượng TV xuất xưởng của TCL dự kiến sẽ thách thức vị trí dẫn đầu của Samsung trong 3 năm, theo dự báo Rong Chaoping, Phó giám đốc nghiên cứu tại AVC Revo. Theo bà, đây sẽ là lần đầu tiên một thương hiệu TV Trung Quốc thách thức ngôi vị dẫn đầu và viết lại cục diện cạnh tranh của thị trường TV vốn ổn định hàng thập kỷ.
Phó chủ tịch nghiên cứu Counterpoint Research Yoshio Tamura lưu ý TCL đang nhanh chóng chiếm được thị phần. Với đà này, hãng điện tử Trung Quốc có cơ hội thành nhà cung cấp TV lớn nhất thế giới về số lượng ngay từ 2027. “Điều này dẫn đến áp lực cạnh tranh gia tăng với Samsung và LG, đặc biệt là trong phân khúc TV cao cấp, nơi OLED là yếu tố khác biệt cốt lõi”, chuyên gia Counterpoint, nói.
Và trong lúc TCL dẫn dắt kỷ nguyên tiếp theo của thương hiệu TV Bravia, Sony có thể dành nhiều nguồn lực để tập trung hơn vào định hướng mở rộng kinh doanh tài sản sở hữu trí tuệ như phim hoạt hình, phim điện ảnh, âm nhạc và các chương trình phát sóng thể thao.
Tùy thuộc vào sự chấp thuận của cơ quan quản lý và các điều kiện khác, liên doanh giữa TCL và Sony dự kiến bắt đầu hoạt động từ tháng 4/2027, đặt trụ sở chính tại văn phòng Osaki của Sony ở Tokyo. Hiện TCL còn tiếp tục đàm phán về khả năng mua toàn bộ hoặc một phần mảng kinh doanh sản xuất tại Trung Quốc của Sony, vận hành bởi Shanghai Suoguang Visual Products.
Cơ quan Tiêu chuẩn Quảng cáo Anh (ASA) ngày 24/6 công bố phán quyết với Uniqlo, Adidas và Calvin Klein.
Ba hãng thời trang trên đều chạy quảng cáo trả phí với thông điệp "tái chế" trên Google. Trong đó, Adidas quảng bá "giày chạy bộ tái chế", Calvin Klein quảng cáo áo nữ "tái chế", còn Uniqlo giới thiệu áo khoác làm từ "vật liệu tái chế". Tuy nhiên, cơ quan chức năng cáo buộc thông điệp trên gây hiểu lầm rằng 100% sản phẩm làm từ vật liệu tái chế, trong khi các hãng bán lẻ thời trang không thể chứng minh tính thân thiện môi trường như quảng cáo.
Trước điều tra của ASA, Adidas phản hồi họ không có dòng giày chạy bộ tái chế riêng biệt. Một số sản phẩm trong các bộ sưu tập của họ có thể kết hợp vật liệu tái chế, với tài liệu xác thực nội bộ.
Calvin Klein cho biết một số sản phẩm trong dòng áo phông và áo kiểu cho nữ của hãng có sử dụng "chất liệu thân thiện với môi trường", gồm vật liệu tái chế, hữu cơ và vật liệu khác. Họ cho rằng người tiêu dùng sẽ không hiểu chệch quảng cáo của hãng theo hướng tuyên bố tái chế áp dụng cho toàn bộ dòng sản phẩm.
Còn từ quan điểm của Uniqlo, họ cho rằng người tiêu dùng có thể hiểu rằng các sản phẩm của họ được sản xuất từ vật liệu tái chế ở "mức độ đáng kể". Trong đó, chất liệu polyester dùng trong áo nỉ của họ làm từ chai nhựa PET (polyethylene terephthalate), tái chế từ chất thải sau tiêu dùng. Từ "tái chế" không dùng cho các thành phần khác như khóa kéo, nhãn mác. Hãng thêm rằng tuyên bố trong quảng cáo được xác thực bởi một tổ chức chứng nhận quốc tế.
Sau khi tiếp nhận phản hồi từ doanh nghiệp, ASA lưu ý Cơ quan Cạnh tranh và Thị trường (CMA) đã ban hành hướng dẫn "Tuân thủ luật người tiêu dùng khi đưa ra các tuyên bố về môi trường trong lĩnh vực bán lẻ thời trang". Hướng dẫn này nêu rõ các nhà quảng cáo không nên ngụ ý rằng một sản phẩm được làm hoàn toàn từ một vật liệu duy nhất, nếu thông điệp đó không đúng sự thật.
Ví dụ, một sản phẩm không nên được mô tả là "tái chế" hoặc "hữu cơ", nếu nó chứa các sợi không được tái chế hoặc hữu cơ, trừ trường hợp tỷ lệ sợi này ở mức không đáng kể. Tức là, sản phẩm không được quảng cáo là tái chế nếu không sử dụng gần như 100% vật liệu tái chế.
Đơn cử với trường hợp Uniqlo, quảng cáo hiển thị trên Google gồm thông điệp "dòng sản phẩm nữ Uniqlo", "mua ngay", "vật liệu tái chế"... Nội dung quảng cáo không bao gồm thông tin giải thích cơ sở của tuyên bố "vật liệu tái chế", có thể khiến người dùng hiểu rằng tuyên bố này mang tính tuyệt đối.
Do đó, cơ quan chức năng kết luận tuyên bố của các quảng cáo trên chưa được chứng minh đầy đủ. Doanh nghiệp phải gỡ quảng cáo, đồng thời đảm bảo các tuyên bố xanh tiếp theo phải gồm bằng chứng mang tính xác thực cao.
Phán quyết trên là một phần trong cuộc điều tra diện rộng về các tuyên bố môi trường trong lĩnh vực bán lẻ thời trang, tránh tình trạng "tẩy xanh (greenwashing)". Cơ quan chức năng ứng dụng hệ thống giám sát sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để rà soát các quảng cáo trong lĩnh vực này, từ đó xác định đối tượng điều tra.
Cuối năm ngoái, ASA cũng cấm quảng cáo của Lacoste, Nike và Superdry với cáo buộc tuyên bố sai lệch về môi trường.
Ngày 10-7, Suntory PepsiCo Việt Nam khánh thành nhà máy mới tại Khu công nghiệp Hựu Thạnh (Tây Ninh). Với tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng 300 triệu USD, đây là nhà máy lớn nhất của doanh nghiệp tại Việt Nam và là một trong những cơ sở sản xuất quy mô hàng đầu trong mạng lưới Suntory và PepsiCo tại châu Á.
Nhà máy có diện tích 20ha, công suất thiết kế 1,244 tỉ lít mỗi năm, được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường Việt Nam. Doanh nghiệp cho biết cơ sở này được thiết kế với năng lực sản xuất linh hoạt, sẵn sàng hỗ trợ các thị trường khác trong tương lai khi cần thiết.
Đây là nhà máy thứ 6 của Suntory PepsiCo tại Việt Nam và cũng là khoản đầu tư lớn nhất của doanh nghiệp tại thị trường này kể từ khi hoạt động, với điểm nổi bật là hệ thống sản xuất tích hợp tự động hóa, công nghệ số và các giải pháp sản xuất thông minh xuyên suốt từ khâu tiếp nhận nguyên liệu, chế biến, đóng gói đến lưu kho và logistics.
Phát biểu tại lễ khánh thành, ông Lê Văn Hẳn, chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh, cho rằng sự hiện diện của nhà máy không chỉ mang ý nghĩa về đầu tư sản xuất mà còn góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ, hình thành hệ sinh thái công nghiệp hiện đại và tạo động lực cho quá trình chuyển đổi số, phát triển khoa học - công nghệ của địa phương.
"Sự hiện diện của nhà máy Suntory PepsiCo trên đất Tây Ninh hôm nay sẽ góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ, hình thành hệ sinh thái công nghiệp hiện đại, tạo động lực cho tiến trình chuyển đổi số, ứng dụng, chuyển giao phát triển khoa học công nghệ trên địa bàn tỉnh", ông Hẳn nêu.
Nhà máy tại Tây Ninh cũng sở hữu kho tự động hoàn toàn đầu tiên của Suntory PepsiCo tại châu Á. Kho có diện tích khoảng 15.000m², sức chứa 43.000 pallet, sử dụng hệ thống robot tự động để lưu trữ, xuất nhập và vận chuyển hàng hóa theo dữ liệu thời gian thực, góp phần nâng cao hiệu quả vận hành, tăng cường an toàn lao động và tối ưu chuỗi cung ứng.
Bên cạnh đó, nhà máy được trang bị để sản xuất các sản phẩm sử dụng bao bì làm từ 100% nhựa tái chế (rPET), góp phần thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn, đồng thời mở ra cơ hội phát triển các giải pháp bao bì bền vững. Theo doanh nghiệp, đây là một phần trong lộ trình hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050.
Ông Eugene Willemsen, Giám đốc điều hành khối Đồ uống quốc tế và Phó chủ tịch điều hành PepsiCo toàn cầu, cho biết nhà máy tại Tây Ninh thể hiện niềm tin của tập đoàn vào tiềm năng tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam.
Theo ông, thông qua việc đầu tư vào năng lực sản xuất tiên tiến, chuyển đổi số, vận hành bền vững và phát triển chuỗi cung ứng trong nước, PepsiCo mong muốn đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo của Việt Nam, đồng thời tiếp tục cung cấp các sản phẩm nước giải khát chất lượng cao cho người tiêu dùng.
Mùa trái cây nhiệt đới trong nước đang vào cao điểm thu hoạch nhưng tại các chợ, siêu thị và cửa hàng trái cây, hàng nhập khẩu vẫn xuất hiện dày đặc với chủng loại ngày càng đa dạng.
Chị Loan, ở phường Gia Định, cho biết những năm trước muốn mua nho Mỹ chỉ có vài lựa chọn phổ biến, còn nay có đủ nho xanh, nho đỏ, nho đen với nhiều mức giá khác nhau. Giá bán cũng thấp hơn trước, dao động 130.000-250.000 đồng một kg, giảm 10-15% so với cùng kỳ năm ngoái.
Không chỉ nho, các loại táo, cam nhập khẩu từ Mỹ, Trung Quốc, Australia hay New Zealand cũng xuất hiện ngày càng nhiều tại các chợ, siêu thị và cửa hàng trái cây.
Tại chợ Phạm Văn Hai, phường Tân Sơn Hòa, bà Hồng, chủ một sạp trái cây, cho biết hàng nhập khẩu hiện chiếm khoảng một nửa lượng hàng bày bán. Theo bà, nhu cầu với trái cây ngoại tăng đều trong những năm gần đây, đặc biệt vào các dịp lễ, Tết hoặc mùa quà tặng.
"Phần lớn khách làm giỏ quà biếu đều chọn hàng nhập khẩu vì mẫu mã đồng đều, màu sắc bắt mắt và bảo quản được lâu hơn", bà nói. Nhờ nguồn cung dồi dào và chủng loại đa dạng hơn trước, trái cây ngoại hiện không chỉ xuất hiện ở các cửa hàng chuyên doanh mà còn phủ rộng tại siêu thị, cửa hàng tiện lợi và các sàn thương mại điện tử.
Không chỉ ở chợ truyền thống, trái cây nhập khẩu còn phủ rộng tại siêu thị, cửa hàng tiện lợi và các sàn thương mại điện tử, giúp người tiêu dùng dễ dàng tiếp cận hơn trước.
Sức tiêu thụ tăng cùng nguồn cung dồi dào đã đẩy kim ngạch nhập khẩu rau quả tăng mạnh. Theo số liệu Hải quan, 5 tháng đầu năm, Việt Nam chi 1,3 tỷ USD nhập khẩu rau quả, tăng 31% so với cùng kỳ năm ngoái. Tốc độ này cao hơn đáng kể mức tăng 20% của xuất khẩu rau quả.
Trong 10 thị trường cung ứng lớn nhất, hầu hết đều ghi nhận tăng trưởng mạnh. Trung Quốc tiếp tục dẫn đầu với kim ngạch hơn nửa tỷ USD, tăng 49% so với cùng kỳ. Mỹ đứng thứ hai với 325 triệu USD, tăng 32%. Các thị trường như Campuchia, Australia, Thái Lan, New Zealand và Ấn Độ cũng tăng 26-70%. Chỉ Chile và Hàn Quốc ghi nhận mức giảm.
Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, xu hướng này phản ánh mức độ hội nhập ngày càng sâu của Việt Nam với thị trường toàn cầu. Khi nhiều hiệp định thương mại tự do được thực thi, hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra theo hướng hai chiều nhằm tận dụng lợi thế thương mại của mỗi bên.
"Nhiều FTA được ký kết thì hàng nhập khẩu cũng tăng lên. Đây là nguyên tắc cùng có lợi giữa các bên tham gia", ông nói.
Theo tính toán của hiệp hội, nhập khẩu rau quả 6 tháng đầu năm ước đạt gần 1,6 tỷ USD, tăng gần 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Nếu duy trì đà tăng trưởng hiện nay, nhập khẩu rau quả cả năm có thể đạt gần 4 tỷ USD, mức cao nhất từ trước tới nay.
Theo các doanh nghiệp nhập khẩu, một trong những nguyên nhân khiến trái cây ngoại ngày càng phổ biến là thuế nhập khẩu giảm mạnh. Việc thực thi các hiệp định thương mại tự do như EVFTA, CPTPP hay ACFTA đã kéo thuế nhiều mặt hàng về mức thấp, thậm chí 0%.
Từ năm 2025, thuế nhập khẩu cherry Mỹ giảm từ 10% xuống 5%, táo Mỹ từ 8% xuống 5%. Trong khi đó, phần lớn trái cây Trung Quốc được hưởng thuế nhập khẩu 0% nếu đáp ứng quy tắc xuất xứ theo Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc.
Bên cạnh yếu tố thuế, hệ thống logistics lạnh ngày càng hoàn thiện và sự cạnh tranh giữa các nhà nhập khẩu cũng giúp giảm chi phí phân phối. Nhờ đó, nhiều loại trái cây từng thuộc phân khúc cao cấp nay trở nên phổ biến hơn, xuất hiện rộng rãi từ siêu thị đến các sàn thương mại điện tử.
Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh của trái cây nhập khẩu cũng tạo áp lực cạnh tranh đáng kể lên sản phẩm trong nước, đặc biệt ở phân khúc trung cấp. Nhiều loại trái cây nội địa gặp khó trong cạnh tranh về mẫu mã, khả năng bảo quản và tính ổn định của nguồn cung.
Theo ông Nguyên, trái cây các tỉnh phía Nam năm nay được mùa, nguồn cung dồi dào trong khi lượng hàng nhập khẩu tiếp tục tăng, khiến giá nhiều mặt hàng trên thị trường giảm mạnh so với các năm trước.