Ngày 7.5, Thủ tướng Lê Minh Hưng và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã tới sân bay quốc tế Mactan-Cebu ở thành phố biển Cebu của Philippines, bắt đầu chương trình tham dự Hội nghị Cấp cao Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) lần thứ 48, theo lời mời của Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026.
Đón Thủ tướng Lê Minh Hưng cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tại sân bay quốc tế Mactan-Cebu có Cố vấn An ninh quốc gia Philippines Eduardo Oban Jr, Thống đốc tỉnh Cebu Pamela Baricuatro, Thị trưởng thành phố Lapu Cindi King-Chan và đại diện Ban tổ chức Hội nghị Cấp cao ASEAN.
Về phía Việt Nam có Đại sứ Việt Nam tại Philippines Lại Thái Bình; Đại sứ, Trưởng phái đoàn Việt Nam tại ASEAN Tôn Thị Ngọc Hương; cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Philippines.
Đây là chuyến công tác nước ngoài đầu tiên của Thủ tướng Lê Minh Hưng trên cương vị người đứng đầu Chính phủ, cũng là hội nghị đa phương đầu tiên Thủ tướng tham dự trực tiếp, qua đó tiếp tục thể hiện cam kết đóng góp chủ động, tích cực, trách nhiệm của Việt Nam trong ASEAN.
Việt Nam gia nhập ASEAN vào ngày 28.7.1995 và luôn xem ASEAN là ưu tiên trong chính sách đối ngoại. Sau hơn 30 năm, Việt Nam đã trở thành thành viên nòng cốt, cùng các nước thành viên duy trì hòa bình, ổn định khu vực, tăng cường quan hệ với các đối tác, khai thác hiệu quả mạng lưới liên kết kinh tế của ASEAN để thúc đẩy thương mại, đầu tư, tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ và các nguồn lực từ ASEAN và các đối tác để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.
Trong vai trò Chủ tịch ASEAN 2026, với chủ đề “Cùng chèo lái tương lai chung”, Philippines đặt ra 3 định hướng lớn cho hợp tác ASEAN trong năm 2026 là củng cố các nhân tố then chốt đối với hòa bình và an ninh, mở rộng các hành lang thịnh vượng và thúc đẩy trao quyền cho người dân.
Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 tập trung trao đổi về các định hướng lớn cho hợp tác ASEAN năm 2026 về bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và bảo hộ công dân ASEAN; đồng thời tiếp tục chiến lược về tăng cường liên kết nội khối, nâng cao tự cường, tự chủ chiến lược và vai trò trung tâm của ASEAN.
Dự kiến tại hội nghị, Thủ tướng Lê Minh Hưng sẽ có các bài phát biểu quan trọng, truyền tải thông điệp đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng và quan điểm của Việt Nam về các ưu tiên của ASEAN, đưa ra các đề xuất thiết thực củng cố tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, góp phần tăng cường khả năng tự cường và ứng phó của ASEAN trước các biến động, nhất là các tác động của tình hình Trung Đông và trao đổi các vấn đề khu vực, quốc tế cùng quan tâm.
Nhân dịp này, Thủ tướng cũng sẽ tiếp xúc, gặp gỡ với lãnh đạo các nước để củng cố quan hệ hữu nghị, tăng cường tin cậy chính trị và thúc đẩy hợp tác thực chất, hiệu quả. Đây cũng sẽ là những cuộc gặp trực tiếp đầu tiên của Thủ tướng với lãnh đạo các nước ASEAN trên cương vị mới, góp phần tạo xung lực tích cực cho quan hệ song phương cũng như cho sự gắn kết chung của cộng đồng.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại hội nghị sơ kết chính quyền 3 cấp

Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lãnh đạo các cấp ủy đảng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương,
Thưa toàn thể các đồng chí dự hội nghị.
Sau một buổi sáng làm việc khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ và trách nhiệm, Hội nghị đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Các ý kiến phát biểu rất phong phú, sâu sắc, thẳng thắn, cần nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp trong giai đoạn tới.
Chúng ta thống nhất cao và khẳng định: chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết và có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển đất nước. Đây là cuộc cải cách có phạm vi rất rộng, rất khó, rất quyết liệt, tác động đến hầu hết các cơ quan, các cán bộ, công chức, người lao động trong hệ thống chính trị, từ Trung ương đến cơ sở. Sau một năm, chúng ta đã đi qua giai đoạn sắp xếp tổ chức ban đầu. Nhiệm vụ tiếp theo là chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng vận hành, năng lực phục vụ và năng lực kiến tạo phát triển của bộ máy mới.
Những kết quả nổi bật đã được thể hiện trong báo cáo khá đầy đủ và chi tiết. Tôi nêu khái quát 5 kết quả lớn như sau:
Thứ nhất, bộ máy của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã được sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh gọn hơn, đồng bộ hơn. Nhiều đầu mối, tầng nấc trung gian được cắt giảm, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan từng bước được rà soát, điều chỉnh và làm rõ hơn. Việc tổ chức lại các cơ quan Đảng, cơ quan hành pháp, cơ quan dân cử, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp công lập đã được triển khai với quyết tâm chính trị cao, cơ bản bảo đảm tiến độ, yêu cầu đề ra.
Thứ hai, việc hoàn thiện thể chế pháp luật, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, cải cách thủ tục hành chính và môi trường kinh doanh, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu đã được đẩy mạnh. Nhiều cơ chế mới, quy trình mới, phương thức giao việc, đánh giá kết quả và giám sát mới đang được hình thành.
Thứ ba, việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp bước đầu ổn định. Các hoạt động quản lý nhà nước, cung ứng dịch vụ công, giải quyết thủ tục hành chính, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh, hoạt động của các cơ quan tư pháp, và trật tự, an toàn xã hội cơ bản được duy trì liên tục, không để xảy ra khoảng trống trong quản lý. Cấp tỉnh, cấp xã từng bước thích ứng với chức năng, nhiệm vụ và phương thức vận hành mới.
Thứ tư, công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có nhiều đổi mới. Cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị đã chủ động ban hành quy chế làm việc, quy trình phối hợp, giao ban, phân công trách nhiệm, hỗ trợ cơ sở, giải quyết những vấn đề phát sinh. Công tác sắp xếp, bố trí, đánh giá cán bộ có nhiều đổi mới, chú trọng năng lực, trình độ gắn với vị trí việc làm; quản trị gắn với dữ liệu, tiến độ và kết quả công việc.
Thứ năm, công tác tuyên truyền, quán triệt, giáo dục chính trị, tư tưởng và vận động tạo đồng thuận xã hội được triển khai khá bài bản. Đội ngũ công chức, viên chức, người lao động ảnh hưởng do sắp xếp bộ máy, nhìn chung, tư tưởng ổn định, cán bộ chấp hành sự phân công của tổ chức, Nhân dân đồng thuận và ủng hộ chủ trương lớn của Đảng.
Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao nỗ lực của các cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các bộ, ngành, địa phương, lực lượng vũ trang và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cả nước. Trong điều kiện công việc rất lớn, thời gian rất gấp, yêu cầu rất cao, các đồng chí đã thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự tận tâm, ý thức tổ chức kỷ luật và quyết tâm vượt khó rất đáng trân trọng.
Tuy nhiên, chúng ta không được chủ quan, thỏa mãn. Kết quả đạt được mới là bước đầu. Cuộc cải cách này còn nhiều việc phải tiếp tục thực hiện với quyết tâm cao hơn, cách làm khoa học hơn và tinh thần đổi mới mạnh mẽ hơn.
Hội nghị đã thống nhất nhận diện một số hạn chế, vướng mắc lớn cần tập trung khắc phục. Ở đây tôi chỉ tóm tắt 07 vấn đề lớn:
Thứ nhất, thể chế liên quan đến tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, cơ chế vận hành mới ở một số lĩnh vực chưa thật sự đồng bộ. Có nơi nhiệm vụ đã được giao nhưng hướng dẫn chưa kịp thời, có nơi thẩm quyền đã được phân cấp nhưng nguồn lực, nhân lực, công cụ quản lý chưa đi cùng.
Thứ hai, thể chế pháp luật hiện hành còn chưa đồng bộ, thống nhất, nhiều quy định còn chưa rõ ràng, nhất là pháp luật liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương trong một số lĩnh vực như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; pháp luật về đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài nguyên rừng, pháp luật về tài chính, ngân sách,… Chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp giữa một số cơ quan trong hệ thống chính trị chưa thật sự rõ ràng, đồng bộ; nhiều trường hợp thẩm quyền chưa tương xứng với nguồn lực được giao và điều kiện thực thi; một số mô hình tổ chức và vận hành sau sắp xếp còn đang trong quá trình hoàn thiện.
Thứ ba, năng lực thực thi ở cơ sở, nhất là cấp xã, chưa theo kịp yêu cầu mới. Khối lượng công việc chuyển xuống cơ sở rất lớn, trong khi cán bộ chuyên sâu về đất đai, quy hoạch, xây dựng, tài chính, đầu tư, công nghệ thông tin, thanh tra, quản lý đô thị, các lĩnh vực phức tạp khác còn thiếu. Nhiều cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều việc, chịu áp lực lớn và đối mặt với rủi ro công vụ. (theo đánh giá chỉ có 53% cán bộ cấp tỉnh, 30% cán bộ cấp xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ).
Thứ tư, định mức biên chế, tổ chức bộ máy và cơ chế phân bổ nguồn lực ở một số nơi còn mang tính bình quân, chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt rất lớn về quy mô dân số, diện tích, tính chất đô thị, điều kiện miền núi, biên giới, hải đảo, mức độ phát triển và khối lượng công việc thực tế.
Thứ năm, hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, hạ tầng số còn hạn chế; việc chuyển đổi số còn chậm và chưa thật sự đồng bộ. Dữ liệu chuyên ngành còn phân tán; một số hệ thống phần mềm chưa liên thông, chưa ổn định (trung tâm dữ liệu quốc gia mới kết nối 5/12 cơ sở dữ liệu chiến lược và 60/104 cơ sở dữ liệu chuyên ngành hay cả nước có 106 triệu thửa đất nhưng chỉ có 23,5 triệu thửa đạt tiêu chí "đúng, đủ, sạch, sống", dữ liệu đất đai chưa được chuẩn hóa thì quản lý dựa trên dữ liệu sẽ rất khó khăn); cán bộ cơ sở phải sử dụng nhiều hệ thống, nhiều phần mềm khác nhau, làm giảm hiệu quả vận hành, tăng áp lực xử lý công việc.
Thứ sáu, việc xử lý tài sản công dôi dư, bố trí trụ sở làm việc, chỉnh lý và số hóa hồ sơ, tài liệu lưu trữ còn chậm ở nhiều nơi. Đây vừa là vấn đề trước mắt cần giải quyết, vừa là nguồn lực rất lớn cần được khai thác hiệu quả cho phát triển.
Thứ bảy, sau khi không còn cấp huyện, yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát giữa cấp tỉnh với cấp cơ sở đặt ra nhiều vấn đề mới. Nếu không đổi mới mạnh mẽ phương thức chỉ đạo, dễ dẫn đến hai nguy cơ: hoặc cấp trên không nắm chắc cơ sở, hoặc cấp dưới lại phải xin ý kiến quá nhiều, làm giảm tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm.
Từ những kết quả, hạn chế và yêu cầu thực tiễn đặt ra, tôi đề nghị giai đoạn tới, trọng tâm là nâng cao chất lượng vận hành của mô hình mới, cần tập trung thực hiện tốt 10 nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế về pháp luật và tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Phải tiếp tục rà soát, hoàn thiện đồng bộ pháp luật tất cả các lĩnh vực, và văn bản hướng dẫn thi hành, bảo đảm thống rất, rõ ràng, minh bạch, thuận lợi cho tổ chức thực hiện ở cả 3 cấp chính quyền (không để tình trạng luật này thông mà luật kia lại nghẽn). Việc sửa luật phải xuất phát từ điểm nghẽn thực tế. Các cơ quan Trung ương, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương phải tiếp tục rà soát toàn diện các quy định, quy chế, quy trình liên quan đến tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và quan hệ phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị. Không để chồng chéo, trùng lắp, khoảng trống hoặc tình trạng nhiều cơ quan cùng tham gia nhưng không rõ cơ quan nào chịu trách nhiệm cuối cùng.
Thứ hai, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và xã hội . Cấp ủy phải lãnh đạo bằng định hướng chiến lược, bằng thể chế, bằng công tác cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả. Phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, nhưng không làm thay, không buông lỏng, không can thiệp hành chính không cần thiết vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động tổ chức Đảng ở cơ sở, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, xây dựng tổ chức cơ sở đảng thực sự là hạt nhân chính trị, trung tâm đoàn kết, quy tụ, phát huy sức mạnh cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
Thứ ba, hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế vận hành của chính quyền địa phương 2 cấp. Cấp tỉnh tập trung vai trò chiến lược, quy hoạch, điều phối, phân bổ nguồn lực, tổ chức không gian phát triển, kiểm tra, giám sát và liên kết vùng. Cấp xã phải được tổ chức như tuyến đầu của quản trị công: tiếp nhận, xử lý và phản hồi kịp thời nhu cầu của người dân, doanh nghiệp; đồng thời phát hiện sớm các vấn đề về an sinh, trật tự, đất đai, xây dựng, môi trường, dịch vụ công và các rủi ro phát sinh tại địa bàn. Tiếp tục rà soát tổ chức bộ máy, biên chế, cơ chế phân bổ nguồn lực phù hợp quy mô dân số, diện tích, mức độ đô thị hóa, đặc điểm vùng miền và khối lượng công việc, không áp dụng cào bằng. Nghiên cứu mô hình đơn vị hành chính đô thị hạt nhân trong tỉnh, thành phố, có thẩm quyền và công cụ phù hợp để điều phối hạ tầng, dịch vụ công, không gian kinh tế trọng điểm, liên kết vùng và hình thành các cực tăng trưởng mới.
Thứ tư, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với bảo đảm nguồn lực và kiểm soát quyền lực. Đây là yêu cầu rất quan trọng. Phân cấp, phân quyền phải thực chất, phải bảo đảm cấp được giao nhiệm vụ có đủ thẩm quyền, nhân lực, kinh phí, công cụ quản lý để thực hiện. Khắc phục tình trạng giao việc xuống dưới nhưng không giao đủ điều kiện cần thiết. Phân cấp không phải là chuyển gánh nặng xuống cấp dưới mà là chuyển thẩm quyền, nguồn lực, dữ liệu, công cụ thực thi và trách nhiệm một cách rõ ràng, minh bạch, có kiểm soát. Đồng thời, phải tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình.
Thứ năm, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của mô hình mới. Đây là nhiệm vụ then chốt của then chốt. Coi năng lực thực thi của cấp xã là thước đo kiểm định thành công của mô hình mới. Khẩn trương hoàn thiện vị trí việc làm, đánh giá năng lực, sở trường, kinh nghiệm của cán bộ để bố trí đúng người, đúng việc. Tăng cường cán bộ có năng lực, chuyên môn sâu về cơ sở, nhất là lĩnh vực đất đai, xây dựng, quy hoạch, đầu tư, tài chính, công nghệ thông tin, thanh tra, tư pháp, giáo dục, y tế, quản lý đô thị, v.v… Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã, luân chuyển, tổ công tác hỗ trợ chuyên môn, hướng dẫn trực tiếp tại cơ sở. Đồng thời, có chính sách tiền lương, phụ cấp, điều kiện làm việc và cơ chế khuyến khích phù hợp để cán bộ yên tâm công tác, nhất là địa bàn khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo.
Thứ sáu, nâng cao chất lượng hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, hạ tầng số; đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn hệ thống chính trị. Phải coi dữ liệu là tài sản, là nguồn lực, là nền tảng của quản trị hiện đại. Khẩn trương chuẩn hóa, tích hợp, chia sẻ, khai thác dữ liệu, khắc phục tình trạng phần mềm cục bộ, dữ liệu phân tán, cán bộ phải thao tác trên quá nhiều hệ thống. Chuyển đổi số trong mô hình mới là thiết kế lại phương thức điều hành, từ dữ liệu gốc và hồ sơ công việc đến quy trình liên thông, bảng điều hành theo thời gian thực và cơ chế giám sát trách nhiệm. Chuyển đổi số phải nâng cao hiệu suất công việc, giải quyết thủ tục nhanh hơn, chính xác hơn, chi phí thấp hơn, thiết thực hơn với người dân, doanh nghiệp. Phải giảm tối đa việc yêu cầu người dân, doanh nghiệp kê khai lặp lại những thông tin Nhà nước đã có.
Thứ bảy, phát huy mạnh mẽ hơn vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Sau sắp xếp, MTTQ và các đoàn thể phải thực sự đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập trung về cơ sở, cần có cơ chế tiếp nhận, tổng hợp và phản hồi thường xuyên ý kiến của người dân, doanh nghiệp về chất lượng phục vụ của bộ máy mới, coi đây là một kênh giám sát xã hội quan trọng đối với hiệu quả vận hành của chính quyền cơ sở, tăng cường đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ tám, xử lý hiệu quả tài sản công, trụ sở và hồ sơ, tài liệu sau sắp xếp. Phải coi đây là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Khẩn trương hoàn thiện phương án xử lý từng cơ sở nhà, đất, tài sản công dôi dư. Tài sản còn sử dụng được phải được tận dụng hiệu quả. Tài sản không còn phù hợp cần chuyển đổi công năng, điều chuyển hoặc xử lý minh bạch, đúng quy định; ưu tiên phục vụ giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, an sinh xã hội và các nhu cầu thiết thực của cộng đồng. Đối với hồ sơ, tài liệu, phải có kế hoạch bảo quản, số hóa và khai thác phù hợp; tuyệt đối không để thất lạc, hư hỏng, lãng phí hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của tổ chức, người dân và doanh nghiệp.
Thứ chín, đổi mới mạnh mẽ công tác kiểm tra, giám sát và phương thức chỉ đạo, điều hành. Phải tăng cường nắm tình hình từ cơ sở, kết hợp kiểm tra trực tiếp với giám sát dựa trên dữ liệu, phát hiện sớm, xử lý sớm các vấn đề, không để những khó khăn nhỏ tích tụ thành những vấn đề lớn. Cần xây dựng bộ chỉ số theo dõi vận hành mô hình mới, bao gồm thời gian xử lý thủ tục hành chính, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp, tỷ lệ công việc cấp xã phải xin ý kiến cấp trên, số lượng vụ việc phát sinh được phát hiện sớm và xử lý sớm. Có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung khi đã làm đúng thẩm quyền, đúng quy trình, công khai, minh bạch, có căn cứ chuyên môn và không vụ lợi. Đồng thời xử lý nghiêm hành vi lợi dụng đổi mới để vi phạm pháp luật, trục lợi hoặc né tránh trách nhiệm.
Thứ mười, đối với các lĩnh vực liên ngành còn giao thoa, cần khẩn trương rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ theo nguyên tắc: một việc phải có một cơ quan chủ trì, một đầu mối chịu trách nhiệm chính; một nguồn dữ liệu dùng chung; một quy trình phối hợp liên thông; đồng thời có cơ chế kiểm tra, giám sát và quy trách nhiệm rõ ràng. Trước mắt, phải tập trung hoàn thiện phương án phân định trách nhiệm, xử lý dứt điểm các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc chưa đồng bộ, bảo đảm kế thừa, ổn định, liên tục, không để khoảng trống trong quản lý nhà nước, nhất là ở các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và đời sống Nhân dân.
Chúng ta tiếp tục đổi mới, hoàn thiện công tác đánh giá cán bộ, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng người có năng lực nổi trội; trên cơ sở kết quả đánh giá, thực hiện nguyên tắc cán bộ có vào, có ra, có lên, có xuống; xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu quản trị mới, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, tăng cường cán bộ cho địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu, quyết tâm thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
Các đồng chí thân mến,
Cuộc cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là công việc rất lớn, rất khó và phải được tiến hành kiên trì, bài bản, khoa học. Không thể nóng vội, chủ quan, song cũng không thể dừng lại hoặc chần chừ trước những bất cập được thực tiễn chỉ ra.
Tôi đề nghị các cơ quan có liên quan khẩn trương tiếp thu đầy đủ ý kiến của Hội nghị, hoàn thiện báo cáo, dự thảo kết luận và chương trình hành động. Mỗi nhiệm vụ phải rõ nội dung, rõ cơ quan chủ trì, rõ cơ quan phối hợp, rõ thời hạn, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm. Đồng thời, phải rõ chỉ số đánh giá kết quả, rõ cơ chế theo dõi tiến độ và rõ chế độ báo cáo định kỳ để kịp thời tháo gỡ vướng mắc phát sinh. Những việc thuộc thẩm quyền của Trung ương phải được nghiên cứu, quyết định kịp thời. Những việc thuộc trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương phải được triển khai ngay, không để ách tắc, không để kéo dài, không để cơ sở phải chờ đợi. Những công việc đã được phân cấp cho cấp xã phải được hướng dẫn kịp thời, cụ thể, không để cơ sở phải chờ đợi, lúng túng trong tổ chức thực hiện.
Tinh thần nhất quán là: Tổ chức mới phải tạo ra năng lực mới, cơ chế phân cấp- phân quyền mới phải song hành với trách nhiệm mới, dữ liệu mới phải tạo ra phương thức quản trị mới, và bộ máy mới phải đem lại chất lượng phục vụ mới cho người dân và doanh nghiệp. Tôi tin tưởng rằng mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp sẽ tiếp tục được hoàn thiện, vận hành hiệu quả, góp phần xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, liêm chính, kiến tạo và phục vụ nhân dân.
Chúc các đồng chí sức khỏe, tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, đổi mới, quyết tâm đưa chủ trương cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn nữa.
Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!
Tin Gốc: Thanh Niên

Tham dự lễ đón Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae có Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong; Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn; Bộ trưởng Bộ Công thương Lê Mạnh Hùng; Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo Hoàng Minh Sơn; Thứ trưởng Bộ Công an Đặng Hồng Đức; Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ; Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu.
Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực mà Thủ tướng Takaichi Sanae đi thăm sau khi được bầu lại làm Thủ tướng Nhật Bản tháng 2.2026 vừa qua. Chuyến thăm cho thấy sự coi trọng của Nhật Bản đối với quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Nhật Bản khi cả hai nước đang cùng bước vào giai đoạn phát triển mới.
Chuyến thăm lần này góp phần làm sâu sắc và xác định những trụ cột mới, quan trọng trong quan hệ, góp phần tạo ra không gian hợp tác mới, đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân hai nước.
Trong khuôn khổ chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Takaichi Sanae, hai bên sẽ tập trung trao đổi về những lĩnh vực phù hợp với ưu tiên và phát triển thế mạnh bổ sung cho nhau trên những lĩnh vực thiết yếu hiện nay, trước hết là kinh tế, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, bảo đảm chuỗi an ninh năng lượng, lương thực, hợp tác sản xuất bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi xanh, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, du lịch, hợp tác địa phương, giao lưu văn hóa, giao lưu nhân dân cũng như phối hợp chặt chẽ hơn trong các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm.
Sau lễ đón, thủ tướng hai nước đã có cuộc gặp hẹp và dẫn đầu đoàn cấp cao hai nước tiến hành hội đàm nhằm đánh giá kết quả hợp tác giữa hai nước thời gian qua và đề xuất các phương hướng hợp tác thời gian tới; cũng như chứng kiến lễ ký kết, trao các văn kiện hợp tác giữa Việt Nam - Nhật Bản.
Tin Gốc: Thanh Niên

Chiều 9.4, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố quyết định về đặc xá năm 2026 của Chủ tịch nước, nhân dịp 51 năm Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Phó chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Cấn Đình Tài cho biết, năm 2026 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước chuyển tiếp sang một giai đoạn phát triển mới của đất nước, gắn với nhiều sự kiện chính trị có tầm vóc chiến lược.
Trong bối cảnh đó, theo đề nghị của Chính phủ, ngày 7.4 - ngày làm việc đầu tiên của Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2026 - 2031, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký quyết định về đặc xá năm 2026.
Ông Tài cho biết thêm, những năm qua, các đợt đặc xá được triển khai chặt chẽ, đúng quy định, đạt hiệu quả tích cực trên nhiều phương diện cả về chính trị, pháp lý, xã hội và đối ngoại.
Riêng năm 2025, hơn 22.000 phạm nhân được đặc xá tha tù trước thời hạn nhưng vẫn bảo đảm vững chắc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đa số người được đặc xá đã nhanh chóng ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng, được người dân đồng tình và dư luận quốc tế ghi nhận.
Quyết định đặc xá năm 2026 tiếp tục khẳng định rõ quan điểm nhất quán: bảo đảm sự kết hợp chặt chẽ giữa tính nghiêm minh của pháp luật với chính sách khoan hồng, có điều kiện; việc xem xét đặc xá được thực hiện thận trọng, đúng đối tượng, gắn với yêu cầu giữ vững kỷ cương, trật tự, an toàn xã hội.
Theo quyết định đặc xá năm 2026, người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn được đề nghị đặc xá phải đáp ứng đủ nhiều điều kiện.
Trong đó, phải có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Đã chấp hành án phạt tù ít nhất 1/3 thời gian đối với trường hợp bị phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 14 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù...
Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí; đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm tham nhũng...
Người có đủ các điều kiện nêu trên nhưng không được đề nghị đặc xá nếu thuộc một trong các trường hợp: bị kết án phạt tù về phản bội Tổ quốc, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, gián điệp, xâm phạm an ninh lãnh thổ...

