TKV đã hoàn thành và vượt kế hoạch điều hành sản xuất, tiêu thụ than tháng 4. Trong đó, than nguyên khai sản xuất đạt 3,4 triệu tấn, bằng 108% kế hoạch tháng; đất đá bóc xúc đạt 11,62 triệu m3, bằng 102,8% kế hoạch tháng; than tiêu thụ đạt 5,1 triệu tấn, bằng 101,5% kế hoạch tháng, trong đó than cho sản xuất điện đạt 4,2 triệu tấn, bằng 102% kế hoạch tháng.
Tháng 5, TKV đặt mục tiêu sản xuất than nguyên khai trên 3 triệu tấn; than tiêu thụ 5,3 triệu tấn…
Chỉ đạo tại hội nghị, ông Nguyễn Huy Nam nhấn mạnh trong tháng 5, dự báo nhu cầu than tiếp tục tăng, thời tiết vào mùa nắng nóng, có mưa lớn, giông lốc bất thường ảnh hưởng đến sản xuất lộ thiên; giá nhiên liệu vẫn ở mức cao và yêu cầu các đơn vị chấp hành nghiêm kỷ luật điều hành, bám sát kế hoạch và chỉ đạo của tập đoàn, tập trung đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ, chuẩn bị chân hàng, hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
Các đơn vị phối hợp với công đoàn cung cấp thực hiện hoàn thành tốt các nội dung hoạt động Tháng hành động về An toàn – Vệ sinh lao động – Tháng Công nhân năm 2026.
Tin Gốc: Thanh Niên

Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro cho khách hàng (SIMO) được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam triển khai thí điểm từ tháng 1.2024 và chính thức từ tháng 5.2024, cho phép các tổ chức thành viên tham gia thực hiện báo cáo thông tin về các tài khoản đáng ngờ khi phát hiện và chia sẻ thông tin tới các thành viên khác.
Trên cơ sở nguồn dữ liệu tập trung của Hệ thống SIMO, các tổ chức tín dụng có thể đưa ra các quyết định thực hiện ngăn chặn giao dịch ngay lập tức hoặc yêu cầu xác thực, định danh tài khoản trước khi thực hiện giao dịch trực tuyến, qua đó góp phần giảm thiểu tình trạng gian lận, lừa đảo, bảo vệ an toàn tài khoản của khách hàng.
Theo cập nhật mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tính đến ngày 17.5, đã có hơn 4 triệu lượt khách hàng nhận được cảnh báo. Trong đó, có hơn 1,3 triệu lượt khách hàng tạm dừng hoặc hủy bỏ giao dịch sau khi nhận được cảnh báo, với tổng số tiền giao dịch là 4.400 tỉ đồng.
Tính đến hết ngày 17.5, Hệ thống SIMO đã triển khai dịch vụ thu thập báo cáo đến 149 đơn vị (gồm 99 tổ chức tín dụng và 50 tổ chức trung gian thanh toán); triển khai thí điểm dịch vụ truy vấn, cảnh báo nghi ngờ gian lận, lừa đảo đối với 10 đơn vị (gồm 8 ngân hàng và 2 tổ chức trung gian thanh toán).
Trong quá trình triển khai dịch vụ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng yêu cầu các đơn vị có lộ trình triển khai đồng bộ dịch vụ cảnh báo cho khách hàng trên tất cả các kênh (Mobile Banking, Internet Banking, quầy, ATM), nhằm đảm bảo khách hàng có thể tiếp cận thông tin cảnh báo nhanh chóng, thuận tiện nhất.
Đề cập thách thức an ninh, an toàn trong lĩnh vực ngân hàng, Vụ trưởng Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) Phạm Anh Tuấn nhấn mạnh, càng phát triển dịch vụ thanh toán thì càng phải đối mặt với tình trạng lừa đảo, gian lận trong thanh toán.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách, quy định giúp cho các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, trung gian thanh toán có nền tảng pháp lý để triển khai những vấn đề liên quan đến an ninh, an toàn.
"Thông tư 50/2024/TT-NHNN và Thông tư 77/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung Thông tư 50/2024/TT-NHNN được coi là kim chỉ nam trong việc yêu cầu các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, trung gian thanh toán phải đáp ứng các tiêu chuẩn cao nhất về vấn đề an ninh bảo mật", ông Tuấn nói.
Hai thông tư kể trên cũng đưa ra các quy định hộ kinh doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ không đạt tiêu chuẩn đủ lớn sẽ phải đối chiếu thông tin sinh trắc học để chống lừa đảo, gian lận từ việc sử dụng điện thoại cá nhân...
Lãnh đạo Vụ Thanh toán lưu ý, các thông tư quy định về mở tài khoản, mở thẻ, mở ví điện tử đã được siết chặt, tăng cường đối chiếu thông tin sinh trắc học thông qua căn cước công dân gắn chip hoặc thông qua VNeID để đảm bảo định danh chính xác người dùng.
Theo bà Phùng Nguyễn Hải Yến, Phó tổng giám đốc Vietcombank, ngân hàng này đã được chia sẻ dữ liệu dân cư quốc gia qua VNeID, tạo nền tảng quan trọng giúp xác thực khách hàng nhanh chóng.
Đây là yếu tố then chốt, cho phép ngân hàng định danh khách hàng chính xác trên không gian mạng, ngăn chặn hiệu quả tình trạng gian lận hồ sơ giấy tờ, phòng tránh việc mở và sử dụng tài khoản mạo danh.
Tuy nhiên, để hạn chế lừa đảo, gian lận trên môi trường số, thời gian tới vẫn cần đẩy mạnh phối hợp đồng bộ giữa công nghệ, quản trị rủi ro và nâng cao nhận thức người dùng.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 1.6, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) và Tập đoàn Metro Quảng Châu đã ký thỏa thuận hợp tác chiến lược về quản lý, vận hành đường sắt điện khí hóa, đường sắt đô thị và đào tạo nhân lực, hướng tới phục vụ các dự án đường sắt quy mô lớn tại Việt Nam.
Chủ tịch HĐTV VNR Đặng Sỹ Mạnh cho biết, nhu cầu phát triển đường sắt đô thị tại Việt Nam rất lớn. Đến năm 2035, Hà Nội dự kiến đưa vào khai thác thêm 7 tuyến metro với tổng chiều dài gần 400 km, trong khi TPHCM sẽ vận hành 6 tuyến với chiều dài khoảng 183 km.
Đường sắt và Metro Quảng Châu hiện đang phối hợp nghiên cứu gói thầu vận hành tuyến đường sắt nhẹ tại Phú Quốc, đồng thời hướng tới các dự án đường sắt đô thị khác như tuyến Bàu Bàng - Cái Mép.
Ông Mạnh đề nghị Metro Quảng Châu chia sẻ kinh nghiệm về quản lý, vận hành đường sắt liên đô thị; khai thác đường sắt điện khí hóa khổ tiêu chuẩn có tốc độ dưới 200 km/h; phát triển mô hình đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) cũng như xây dựng hệ thống đường sắt thông minh.
Đánh giá cao vai trò của VNR trong chiến lược phát triển hạ tầng giao thông Việt Nam, Phó thị trưởng Quảng Châu Lại Chí Hồng cho rằng việc tăng cường hợp tác giữa hai bên sẽ góp phần thúc đẩy hiện đại hóa mạng lưới đường sắt Việt Nam, hướng tới mục tiêu phát triển hệ thống đường sắt quốc gia quy mô khoảng 7.000 km theo quy hoạch.
Metro Quảng Châu đang quản lý hệ thống đường sắt dài 1.502 km, bao gồm đường sắt đô thị, đường sắt liên thành phố, đường sắt nhẹ. Tại Việt Nam, doanh nghiệp này đã tham gia một số Dự án như tư vấn tuyến Metro số 2 TP.HCM (Bến Thành - Tham Lương), nghiên cứu khả thi tuyến Metro số 4 TP.HCM (Đông Thạnh - Hiệp Phước) và tư vấn thiết kế dự án tàu điện nhẹ tại đảo Phú Quốc.
Tin Gốc: Thanh Niên

Cụ thể, đối với đá xây dựng nhu cầu khoảng hơn 28 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ hơn 23 triệu m3, thiếu 4,5 triệu m3.
Trong khi cát xây dựng nhu cầu 15,56 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 0,69 triệu m3, thiếu 14,87 triệu m3.
Đối với cát san lấp, nhu cầu khoảng 52,89 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 2,30 triệu m3, thiếu đến 25,96 triệu m3.
Đất san lấp nhu cầu khoảng 23,67 triệu m3 nhưng công suất đang khai thác chỉ 12,69 triệu m3, thiếu 11 triệu m3.
Trước tình trạng này, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM đưa ra hàng loạt giải pháp.
Đối với 4,5 triệu m3 đá xây dựng còn thiếu, giải pháp được đề xuất là nâng công suất khai thác tại 11 mỏ có chất lượng đá tốt và chủ đầu tư có đủ năng lực khai thác tại Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương (cũ). Dự kiến sau khi nâng công suất được hơn 7 triệu m3, vượt nhu cầu.
Đối với 14,87 triệu m3 cát xây dựng còn thiếu có thể nâng công suất khai thác tại 10 mỏ, đáp ứng được 5,95 triệu m3. Số 8,92 triệu m3 còn lại có thể đẩy nhanh tiến độ từ nạo vét 22 hồ của thành phố.
Đối với 25,96 triệu m3 cát san lấp còn thiếu, Sở đưa ra bốn giải pháp: 2,3 triệu m3 nạo vét tuyến sông Sài Gòn - Đồng Nai, 0,56 triệu m3 từ Sông Thị Tính, 5,1 triệu m3 từ đẩy nhanh tiến độ nạo vét tận thu tại Hồ Sông Ray, 18 triệu m3 từ đẩy nhanh tiến độ nạo vét tận thu tại 22 hồ.
Giải pháp khác được đưa thay thế là xay đá, rửa cát biển.
Đối với 11 triệu m3 đất san lấp, Sở Nông nghiệp và Môi trường đưa ra hai giải pháp là cấp phép khai thác khoáng sản nhóm 4 cho 16 khu đất, thu hồi khoáng sản từ các công trình hầm như metro, công trình hầm...
Như vậy, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng, cát xây dựng, đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu.
Qua kiểm tra thực tế, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Toàn Thắng đề nghị Thành ủy, UBND TP.HCM có cơ chế đối với việc đề xuất nâng công suất khai thác mỏ.
Đối với các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước, thành phố có cơ chế về giá và thanh toán nhằm tạo điều kiện để chủ đầu tư được thanh toán khối lượng vật liệu mua trước.
Bên cạnh đó, chấn chỉnh tình trạng nâng giá hóa đơn mua vật liệu. Theo phản ánh của một số chủ mỏ, thực tế vẫn còn phát sinh trường hợp nhà thầu thi công đề nghị nâng giá hóa đơn mua vật liệu. Do đó, đề nghị các chủ đầu tư tăng cường chấn chỉnh, quản lý các nhà thầu thi công, bảo đảm việc mua bán vật liệu xây dựng đúng giá thực tế, đúng quy định pháp luật, tuyệt đối không để xảy ra việc nâng khống giá vật liệu hoặc các hành vi tiêu cực liên quan.
Tương tự, chấn chỉnh tình trạng bỏ giá thấp để trúng thầu nhưng khi triển khai không thực hiện được. Cụ thể, một số công trình sau khi nhà thầu trúng thầu với đơn giá vật liệu thấp không ưu tiên sử dụng vật liệu từ các mỏ xa do phát sinh chi phí vận chuyển. Đồng thời từ chối mua ở các mỏ xa với lý do không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, mặc dù các mỏ này vẫn đáp ứng yêu cầu và đang cung cấp cho nhiều dự án vốn ngân sách khác. Việc này dẫn đến tập trung nhu cầu vào một số mỏ gần gây mất cân đối cung - cầu cục bộ.
Do vậy đề nghị nhà thầu chịu trách nhiệm đối với đơn giá đã chào thầu, tính toán đầy đủ chi phí vật liệu; tránh tình trạng bỏ giá thấp để trúng thầu nhưng khi triển khai không thực hiện được, gây áp lực lên nguồn cung vật liệu xây dựng trên thị trường.
Có cơ chế tháo gỡ đối với phần sản phẩm phụ phát sinh trong quá trình khai thác theo cơ chế đặc thù nhưng không sử dụng được cho công trình vốn ngân sách, công trình trọng điểm. Cho phép chủ mỏ được bán thương mại phần sản phẩm phụ phát sinh trong quá trình khai thác theo cơ chế đặc thù nhưng không sử dụng được cho công trình vốn ngân sách, công trình trọng điểm.
Có cơ chế điều phối nguồn vật liệu, ưu tiên và nâng tỉ lệ cung cấp cho các công trình sử dụng vốn ngân sách của thành phố, kể cả đối với các mỏ được cấp phép khai thác phục vụ mục đích thương mại. Nguồn vật liệu tăng thêm từ việc "mở rộng, xuống sâu, thông moong, thông vách" được ưu tiên 100% cho các công trình vốn ngân sách của thành phố. Trường hợp các công trình không có nhu cầu sử dụng thì chủ mỏ mới được phép bán thương mại.
Đối với các dự án đầu tư tư nhân thuộc công trình trọng điểm của thành phố, cho chủ trương được áp dụng cơ chế đặc thù về vật liệu xây dựng để cấp trực tiếp các mỏ vật liệu cho chủ đầu tư, nhà thầu thi công, được nâng công suất để phục vụ cho các dự án...
Nguồn: https://thanhnien.vn/tphcm-thieu-vat-lieu-xay-dung-tram-trong-185260407164333667.htm

