Bác sĩ Yoko Okayama tốt nghiệp Đại học Y khoa tỉnh Kyoto năm 1996, từng làm bác sĩ gây mê tại bệnh viện này và Bệnh viện Nishijin trước khi chuyển sang lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tại nhà. Năm 2015, bà mở Phòng khám Chăm sóc tại nhà Okayama ở thành phố Kyoto, chuyên hỗ trợ thăm khám tận nơi, chăm sóc giảm nhẹ và điều trị sa sút trí tuệ. Là một bác sĩ chuyên về chăm sóc cuối đời, bà Okayama không chỉ thực hành y khoa tại cộng đồng mà còn chủ trì các nhóm nghiên cứu về vấn đề này.
Theo bác sĩ, có 11 dấu hiệu báo hiệu một người đang bước vào “những giây phút cuối đời”. Vậy những cơ quan nào vẫn tiếp tục duy trì hoạt động cho đến tận giây phút cuối cùng, ngay cả khi mọi chức năng cơ thể dần đình trệ? Bà Okayama đã chia sẻ điều này trong bài viết đăng trên tờ President Online trích từ cuốn sách của bà, do Nhà xuất bản Discover Twenty-One phát hành.
Chuyên gia cho biết cơ thể con người sẽ trải qua những trạng thái biến đổi sinh lý đặc trưng trước khi nhắm mắt xuôi tay. Là bác sĩ đồng hành cùng bệnh nhân ở giai đoạn cuối, bà thường sử dụng những ghi chép chuyên môn để giải thích tình trạng của người bệnh cho gia quyến, giúp họ chuẩn bị tâm lý và tránh rơi vào trạng thái hoảng loạn, sợ hãi hay lo âu quá mức. Những thay đổi này không nhất thiết xảy ra ở mọi người và trình tự có thể khác nhau nhưng là những dấu hiệu phổ biến nhất.
Bà Okayama cho hay một trong những dấu hiệu đầu tiên thường xuất hiện trước khi một người qua đời là chán ăn hoặc ăn uống kém đi đáng kể. Khi một người gần như không còn ăn uống được gì, đó thường là tín hiệu cho thấy sự sống chỉ còn tính bằng ngày.
Tiếp đó, giọng nói của họ sẽ dần mất đi năng lượng và độ vang, đôi khi chỉ còn là những tiếng thào thào, báo hiệu thời gian còn lại thậm chí chỉ có thể tính bằng giờ. Trong giai đoạn này, người bệnh thường rơi vào trạng thái ngủ thiếp đi và thường thức giấc giữa chừng.
Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là thính giác của họ còn rất nhạy bén, vẫn có thể nghe thấy mọi chuyện ngay cả khi trông như đang ngủ sâu, vì vậy gia đình nên tránh nói những điều có thể gây đau lòng.
Về mặt nhận thức, người bệnh dễ bị nhầm lẫn về không gian, thời gian, thậm chí không nhận ra người thân. Đôi khi họ có thể la hét hoặc có những hành động bất thường như cởi đồ do rơi vào trạng thái mê sảng, lúc này cần có sự can thiệp y tế để hỗ trợ.
Về mặt thể chất, phần thân dưới và mu bàn tay của người bệnh có thể xuất hiện tình trạng phù nề, đôi khi có thể được xoa dịu bằng cách massage nhẹ nhàng, chậm rãi. Hiện tượng phù nề thường có xu hướng trầm trọng hơn sau khi bệnh nhân được truyền dịch.
Bên cạnh đó, hơi thở cũng trở nên nặng nề hơn với những tiếng lọc xọc do nước bọt hoặc nước dãi tích tụ trong cổ họng. Nếu bệnh nhân đang được truyền dịch tĩnh mạch, lượng dịch tiết này có thể tăng lên, làm cho tình trạng khó chịu trở nên trầm trọng hơn.
Đồng thời, bàn tay và bàn chân sẽ dần trở nên lạnh và nhợt nhạt do cơ thể ưu tiên đưa máu về các cơ quan nội tạng quan trọng để duy trì sự sống cuối cùng, dẫn đến tình trạng mất nước và giảm thiểu (hoặc mất hẳn) lượng nước tiểu. Cơn sốt cũng có thể xuất hiện trong giai đoạn này và thường không đáp ứng với các loại thuốc hạ sốt thông thường.
Càng gần thời khắc cuối cùng, nhịp thở của người bệnh càng trở nên bất ổn. Có thể xuất hiện kiểu thở Cheyne-Stokes, trong đó nhịp thở chậm dần rồi ngưng hẳn khoảng 30 giây trước khi bắt đầu lại dồn dập. Sau đó là kiểu “thở cơ hàm” (mandibular breathing), dấu hiệu cận tử rõ rệt nhất, khi người bệnh há miệng thở dốc, hàm dưới chuyển động lên xuống. Đây là phản ứng sinh lý tự nhiên diễn ra vài giờ trước khi ra đi.
Khi cái chết thực sự đến, việc xác định “hơi thở cuối cùng” đôi khi khó khăn ngay cả với các chuyên gia y tế nếu không có máy điện tâm đồ (EGC) hỗ trợ. Sau khi tim ngừng đập, máy móc có thể vẫn hiển thị những dạng sóng điện học nhưng đó không phải là dấu hiệu của sự hồi sinh. Một số hiện tượng tự nhiên khác như bài tiết không tự chủ hoặc những âm thanh phát ra khi dịch chuyển thi thể do không khí thoát ra từ phổi cũng có thể xảy ra.
Dù cơ thể có trải qua bao nhiêu biến đổi về mặt sinh lý (như tim ngừng đập, hơi thở lọc xọc hay mất ý thức), thì vẫn có một thứ không hề thay đổi, đó chính là khả năng nghe của người bệnh. Điều này ngụ ý người bệnh vẫn có thể nghe thấy lời nói của người thân ngay cả khi họ có vẻ như đã hôn mê hoặc sắp ra đi.
Nhận định này đồng nhất với nghiên cứu của Đại học British Columbia (Canada) công bố trên tạp chí khoa học Scientific Reports năm 2020. Nghiên cứu sử dụng điện não đồ chứng minh não bộ của bệnh nhân vô thức vẫn ghi nhận phản ứng với âm thanh trong những giờ cuối đời, tương đương với não của người khỏe mạnh.
Vì vậy, thay vì hoảng loạn gọi bác sĩ ngay lập tức khi thấy người thân ngừng thở, gia đình nên dành những khoảnh khắc tĩnh lặng đó để trò chuyện và gửi gắm những lời yêu thương cuối cùng, bởi tiếng nói của những người quen thuộc chính là sự an ủi lớn nhất đối với họ trong hành trình đi về cõi vĩnh hằng.
Trong các hình thức vận động, đi bộ được xem là bài tập đơn giản, dễ duy trì và phù hợp với nhiều người bị thoái hóa khớp. Dù vậy, người bệnh không nên đi bộ tùy ý hoặc cố gắng tập quá sức, theo chuyên trang sức khỏe Verywell Health (Mỹ).
Tốc độ đi, thời gian đi, mặt đường và tư thế đi đều ảnh hưởng đến khớp. Nếu thực hiện đúng cách, đi bộ sẽ giúp khớp vận động linh hoạt hơn mà không làm tăng áp lực quá mức lên vùng khớp bị tổn thương.
Chuyên gia vật lý trị liệu người Mỹ Heather Broach cho biết đi bộ chậm và đều giúp các cơ quanh khớp hoạt động ổn định hơn, đồng thời hỗ trợ lưu thông dịch khớp, vốn là chất giúp nuôi dưỡng sụn. Người mới bắt đầu có thể đi khoảng 10 - 15 phút mỗi lần rồi tăng dần thời gian theo khả năng chịu đựng của cơ thể.
Một điều cần lưu ý là bề mặt đi bộ sẽ ảnh hưởng khá nhiều đến khớp gối và cột sống. Đi lâu trên nền bê tông cứng hoặc mặt đường gồ ghề có thể khiến khớp chịu lực nhiều hơn, dễ gây đau hoặc khó chịu sau khi vận động.
Người bị thoái hóa khớp nên ưu tiên đi ở công viên, đường chạy bộ có bề mặt mềm hơn hoặc sử dụng máy đi bộ có khả năng giảm chấn. Ngược lại, nên hạn chế leo dốc liên tục, đi cầu thang quá nhiều hoặc đi trên mặt đường trơn trượt vì dễ làm khớp bị quá tải và tăng nguy cơ té ngã.
Một sai lầm khá phổ biến là cố gắng chịu đau để luyện khớp. Thực tế, đau kéo dài hoặc đau tăng mạnh sau khi đi bộ có thể là dấu hiệu khớp đang bị quá tải.
Nếu cảm giác đau nhẹ xuất hiện lúc mới vận động rồi giảm dần khi đi, tình trạng này thường không quá đáng lo. Tuy nhiên, nếu đau tăng rõ rệt, khớp sưng hoặc đau kéo dài nhiều giờ sau khi tập, người bệnh nên giảm cường độ hoặc nghỉ ngơi hợp lý.
Nhiều chuyên gia phục hồi chức năng cho rằng người bị thoái hóa khớp chỉ nên vận động ở ngưỡng đau có thể chịu được, không nên tập đến mức đi khập khiễng hoặc đau quá mức.
Ngoài ra, khớp thoái hóa thường dễ bị cứng sau khi ngủ dậy hoặc ngồi lâu. Nếu đứng lên đi ngay với cường độ cao, khớp có thể khó thích nghi và dễ gây đau.
Trước khi đi bộ, người bệnh nên dành vài phút để xoay cổ chân, co duỗi gối nhẹ nhàng hoặc kéo giãn cơ đùi và bắp chân. Khởi động giúp tăng lưu thông máu đến cơ và khớp, từ đó giúp giảm cảm giác cứng khớp khi bắt đầu vận động, theo Verywell Health.
Trên thực tế, rủi ro sức khỏe không nằm ở việc hâm nóng lại, mà chủ yếu phụ thuộc vào cách bảo quản trước đó, thời gian thức ăn bị để ngoài nhiệt độ phòng và số lần món ăn được hâm đi hâm lại, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Trong một số trường hợp, vi khuẩn có thể phát triển trước khi thức ăn được hâm lại và tạo ra độc tố. Độc tố này không thể bị phá hủy hoàn toàn ngay cả khi hâm ở nhiệt độ cao. Những sai lầm sau có thể khiến thức ăn không còn an toàn, ngay cả khi đã hâm lại.
Đây là nguyên nhân phổ biến khiến thức ăn hâm lại không còn an toàn. Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), các thực phẩm dễ hỏng như thịt, hải sản, cơm, món có trứng, sữa hoặc nước sốt không nên để ngoài nhiệt độ phòng quá 2 giờ. Nếu thời tiết trên 32 độ C, thời gian an toàn giảm xuống còn 1 giờ.
Nguyên nhân là vì vi khuẩn phát triển nhanh trong khoảng nhiệt độ từ 4 đến 60 độ C. Trong môi trường này, các vi khuẩn như Salmonella, E. coli hoặc Staphylococcus aureus có thể sinh sôi mạnh.
Điều đáng lo là hâm nóng lại có thể tiêu diệt một phần vi khuẩn sống nhưng không phải lúc nào cũng loại bỏ được độc tố mà chúng đã tạo ra trước đó. Nếu thức ăn đã để trên bàn bếp quá lâu hoặc để qua đêm ở nhiệt độ phòng, cách an toàn nhất là không nên ăn tiếp.
Nhiều người nghĩ rằng hâm cơm nguội nhiều lần dễ gây hại. Thế nhưng, vấn đề thật sự lại nằm ở cách bảo quản cơm sau khi nấu.
Gạo có thể chứa bào tử của vi khuẩn Bacillus cereus. Các bào tử này có khả năng sống sót sau quá trình nấu. Nếu cơm chín để ngoài nhiệt độ phòng quá lâu, chúng có thể phát triển thành vi khuẩn và tạo độc tố gây nôn ói hoặc tiêu chảy.
Độc tố gây nôn của Bacillus cereus có khả năng chịu nhiệt khá cao. Điều này đồng nghĩa việc hâm nóng lại không đảm bảo cơm trở nên an toàn nếu độc tố đã hình thành từ trước. Cách tốt hơn là để cơm nguội nhanh sau khi nấu, cho vào tủ lạnh và chỉ hâm lại khi chuẩn bị ăn.
Một số người nghĩ rằng chỉ cần cho thức ăn vào tủ lạnh thì có thể để nhiều ngày mà không sao. Tuy nhiên, tủ lạnh chỉ làm chậm quá trình phát triển của vi khuẩn chứ không ngăn chặn hoàn toàn.
Các chuyên gia khuyến cáo phần lớn thức ăn thừa chỉ nên giữ trong tủ lạnh khoảng 3 - 4 ngày. Sau thời gian này, nguy cơ nhiễm khuẩn bắt đầu tăng lên dù món ăn vẫn có vẻ bình thường về mùi và màu sắc.
Một số vi khuẩn như Listeria monocytogenes vẫn có thể phát triển trong môi trường lạnh. Vì vậy, nếu thức ăn đã để gần 1 tuần trong tủ lạnh, cách an toàn nhất là không nên ăn, theo Healthline.
Thông tin nêu trên thể hiện trong dự thảo nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ an sinh xã hội cho người dân thủ đô, đang được UBND TP.Hà Nội tổ chức lấy ý kiến.
Nội dung dự thảo thể hiện, nhóm đối tượng dự kiến thuộc diện khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí mỗi năm một lần là người dân đang sinh sống trên địa bàn Hà Nội (cả thường trú và tạm trú từ 12 tháng trở lên) thuộc nhóm đối tượng không có quan hệ lao động, hiện chưa có các quy định hỗ trợ kinh phí khám sức khỏe định kỳ (trừ các nhóm đối tượng thuộc lực lượng vũ trang, cán bộ thuộc diện Thành ủy Hà Nội quản lý).
Về mức hỗ trợ khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc với trẻ em dưới 6 tuổi thì nội dung khám thực hiện theo Quyết định số 1284/QĐ-BYT ngày 7.5.2026 của Bộ Y tế.
Đối tượng từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện theo Công văn số 3401/BYT-KCB ngày 12.5.2026 của Bộ Y tế. Trẻ được khám đầy đủ các nội dung chuyên khoa lâm sàng theo Thông tư số 32/2023/TT-BYT.
Với người từ đủ 18 tuổi trở lên thì được khám đầy đủ các nội dung chuyên khoa lâm sàng và cận lâm sàng theo Thông tư số 32/2023/TT-BYT.
Về khám sàng lọc, Hà Nội đề xuất sẽ thực hiện theo Quyết định số 3765/QĐ-BYT ngày 21.6.2018 của Bộ Y tế. Theo đó, thành phố sẽ hỗ trợ khám sàng lọc các bệnh: đái tháo đường típ 2; hen phế quản, tăng huyết áp; phổi tắc nghẽn mạn tính; ung thư vú; ung thư cổ tử cung; ung thư khoang miệng; ung thư đại trực tràng; ung thư tiền liệt tuyến; rối loạn trầm cảm; rối loạn lo âu; rối loạn tâm thần do rượu.
Thành phố sẽ hỗ trợ chi phí khám bệnh và các xét nghiệm cận lâm sàng bằng mức giá thuộc danh mục do quỹ bảo hiểm y tế thanh toán, dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh do ngân sách nhà nước thanh toán do cấp có thẩm quyền quy định đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước trên địa bàn thành phố.
Hà Nội dự kiến tổng kinh phí hỗ trợ công tác khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho 100% người dân trên địa bàn thủ đô và kinh phí dự kiến khám sức khỏe định kỳ khoảng 1.840 tỉ đồng.
Theo cơ quan soạn thảo, việc xây dựng nghị quyết là phù hợp với tình hình thực tế phát sinh góp phần an sinh xã hội, thể hiện sự nhân văn của thành phố. Trong đó, việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là mục tiêu, là động lực, là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, giữ vị trí ưu tiên trong các chiến lược, chính sách phát triển.
Đây cũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và mọi người dân; phù hợp với khả năng cân đối ngân sách; giảm bớt gánh nặng chi phí y tế cho người dân trên địa bàn Hà Nội.
Việc khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí mỗi năm một lần trên địa bàn Hà Nội được kỳ vọng sẽ giúp người dân kịp thời phát hiện các triệu chứng trước khi trở nên trầm trọng hoặc có nhiều biến chứng, dẫn đến việc khó khăn trong điều trị.
Ngoài đề xuất quy định cơ chế hỗ trợ công tác khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí mỗi năm một lần cho người dân trên địa bàn, UBND TP.Hà Nội cũng đề xuất thêm nhiều quy định khác nhằm hỗ trợ an sinh xã hội.
Theo đó, Hà Nội đề xuất có quy định chính sách hỗ trợ từ ngân sách thành phố để chi trả cho các chi phí khám bệnh, chữa bệnh ngoài phạm vi chi trả của quỹ bảo hiểm y tế; quy định giá dịch vụ cấp cứu ngoại viện và tỷ lệ đồng chi trả của người bệnh khi sử dụng dịch vụ cấp cứu ngoại viện để làm cơ sở thực hiện việc hỗ trợ thanh toán; quy định các dịch vụ, giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh lưu động, từ xa, ứng dụng công nghệ số…