Rạng sáng 9.5, Tổng thống Trump thông báo trên mạng xã hội Truth Social rằng Nga và Ukraine sẽ ngừng bắn trong 3 ngày 9 – 11.5 để kỷ niệm chiến thắng trong Thế chiến 2.
Ông Trump cho biết thỏa thuận ngừng bắn bao gồm việc dùng mọi hoạt động quân sự và hai bên sẽ trao đổi tù binh, mỗi nước nhận về 1.000 người.
“Yêu cầu này do tôi trực tiếp đưa ra và tôi rất cảm kích sự nhất trí của Tổng thống Vladimir Putin và Tổng thống Volodymyr Zelensky. Hy vọng đây sẽ là khởi đầu cho việc kết thúc cuộc chiến rất dài, chết chóc và khó khăn. Việc đối thoại đang tiếp diễn để chấm dứt cuộc xung đột lớn này, lớn nhất từ Thế chiến 2, và chúng tôi đang tiến gần hơn mỗi ngày”, ông Trump viết.
Trả lời các phóng viên sau đó, ông Trump nói muốn thỏa thuận ngừng bắn này kéo dài thêm và cho rằng điều này có thể xảy ra, theo Reuters.
Trợ lý Tổng thống Nga Yury Ushakov xác nhận thỏa thuận ngừng bắn, lưu ý rằng Nga đồng ý kéo dài thời hạn ngừng bắn của nước này thêm một ngày và chấp nhận trao đổi tù binh.
Tổng thống Zelensky cũng xác nhận thỏa thuận ngừng bắn do Mỹ làm trung gian, đồng thời ban hành sắc lệnh tuyên bố sẽ không tấn công khu vực Quảng trường Đỏ ở Moscow để Nga tiến hành cuộc duyệt binh ngày 9.5.
Năm nay, cuộc duyệt binh mừng Ngày Chiến thắng của Nga được tổ chức với quy mô nhỏ hơn và các phương tiện vũ khí trên bộ sẽ không có mặt. Bộ Quốc phòng Nga đã cảnh báo sẽ phóng tên lửa về phía thủ đô Kyiv của Ukraine nếu nước này phá hoại sự kiện trọng đại trên.
Trước công bố của ông Trump, Nga và Ukraine đã thông báo về các lệnh ngừng bắn đơn phương, trong đó phía Nga là 2 ngày 8 – 9.5 còn Ukraine bắt đầu từ ngày 6.5 và không có mốc kết thúc. Dù vậy, những đợt tấn công qua lại vẫn diễn ra liên tục trong những ngày qua, theo cáo buộc của hai bên.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thế Giới
Khảo sát mới: Đa số người Mỹ muốn nhanh chóng chấm dứt xung đột ở Iran, kể cả khi chưa đạt mục tiêu

Theo kết quả sát với 1.021 người do Reuters/Ipsos tiến hành từ ngày 27 đến 31-3, 66% số người được hỏi cho rằng Mỹ nên nhanh chóng chấm dứt sự can dự vào cuộc chiến ở Iran, ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với việc Mỹ không đạt được các mục tiêu mà chính quyền Tổng thống Donald Trump đã đề ra.
Trong đó, 27% cho rằng Mỹ nên tiếp tục theo đuổi đến cùng các mục tiêu tại Iran, dù sẽ khiến xung đột kéo dài. 6% không trả lời.
Trong nhóm cử tri thuộc Đảng Cộng hòa, có 40% ủng hộ kết thúc nhanh xung đột dù chưa đạt mục tiêu, trong khi 57% ủng hộ kéo dài sự can dự của Mỹ.
Khoảng 60% cho biết họ không tán thành các cuộc không kích của Mỹ nhằm vào Iran, trong khi 35% ủng hộ.
Về các tác động kinh tế của cuộc chiến, tỉ lệ hai trên ba người được hỏi cho rằng giá xăng sẽ tiếp tục tăng trong năm tới, trong đó có 40% là cử tri Đảng Cộng hòa.
Hơn một nửa số người được hỏi cho rằng cuộc xung đột hiện tại sẽ tác động tiêu cực đến tình hình tài chính cá nhân của họ, bao gồm 39% là cử tri Đảng Cộng hòa.
Cuộc chiến Mỹ - Israel với Iran đã khiến giá dầu thô tăng vọt trên toàn cầu.
Tại Mỹ, giá xăng đã vượt 4 USD/gallon ngày 30-3, mức cao nhất trong hơn ba năm qua. Nhiên liệu diesel dùng cho xe tải, thiết bị nông nghiệp và phương tiện giao thông công cộng cũng đã tăng lên mức 5,45 USD/gallon, cao hơn 1,8 USD so với một năm trước đó.
Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ (Bộ Quốc phòng) Pete Hegseth cho biết những ngày tới sẽ mang tính quyết định, đồng thời cảnh báo xung đột sẽ leo thang nếu Iran không đạt được thỏa thuận.
Trong khi đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 31-3 tuyên bố Mỹ có thể sẽ kết thúc cuộc chiến ở Iran trong 2-3 tuần tới, nhưng trước đó Mỹ cần đảm bảo Iran "bị đưa trở lại thời kỳ đồ đá" và không còn khả năng sớm sở hữu vũ khí hạt nhân.

Mỹ ngày 4/7/1776 tuyên bố độc lập, mở đầu cho quá trình hình thành một quốc gia mới ở Bắc Mỹ. Gần 11 năm sau, các nhà lập quốc Mỹ mới soạn thảo hiến pháp Mỹ và thông qua để văn kiện này có hiệu lực từ năm 1789, trở thành nền tảng cho hệ thống chính trị liên bang.
Sau hơn hai thế kỷ, hiến pháp Mỹ vẫn là một trong những văn kiện lập pháp lâu đời và có sức ảnh hưởng nhất thế giới. Nội dung hiến pháp Mỹ cũng đối mặt nhiều nỗ lực thay đổi trong thời gian này. Các nghị sĩ đã trình gần 12.000 đề xuất và chỉ 27 tu chính án được phê chuẩn, trở thành một phần hiến pháp. Trong số này, 10 tu chính án đầu tiên nằm trong Tuyên ngôn Nhân quyền Mỹ năm 1791.
Trong số những đề xuất bị bác bỏ có những ý tưởng khác thường mà nếu được thông qua, nước Mỹ có thể đã trở thành một phiên bản rất khác với hiện tại.
Đổi tên quốc gia
Năm 1866, hạ nghị sĩ George Washington Anderson đề xuất bỏ cụm từ United States (Hợp chúng quốc) khỏi tên chính thức của đất nước và đổi thành America (Mỹ). Anderson lập luận rằng tên gọi hiện tại chưa phản ánh đầy đủ sự thống nhất và vị thế mà nước Mỹ có thể đạt được trong tương lai, nhưng đề xuất này không được chấp nhận.
Năm 1893, hạ nghị sĩ Lucas Miller đưa ra một ý tưởng táo bạo hơn. Ông trình cùng lúc 46 dự luật, trong đó có một đề xuất đổi tên quốc gia thành United States of the Earth (Hợp chúng quốc Trái Đất).
Ông cho rằng nước Mỹ có thể tiếp tục mở rộng cho đến khi mọi quốc gia trên thế giới đều gia nhập liên bang. Đề xuất bị dư luận chế giễu và nhanh chóng rơi vào quên lãng.
Xóa bỏ ghế Tổng thống
Năm 1860, ngay trước khi nội chiến Mỹ xảy ra, hạ nghị sĩ John William Noell đã đề xuất bãi bỏ chức vụ tổng thống và thay bằng một hội đồng hành pháp ba thành viên đến từ ba khu vực khác nhau của đất nước. Mỗi thành viên có quyền phủ quyết hai người còn lại.
Ý tưởng này tiếp tục xuất hiện sau nội chiến. Năm 1878, hạ nghị sĩ Milton Isaiah Southard đề xuất thành lập hội đồng hành pháp gồm ba tổng thống, đại diện cho khu vực miền Tây, miền Nam và khu vực miền Đông cùng miền Trung. Southard cho rằng người dân Mỹ phản đối việc quyền lực tập trung vào một cá nhân, vì điều đó khiến tổng thống mang dáng dấp của chế độ quân chủ.
Xóa bỏ giới hạn nhiệm kỳ
Sau khi Tu chính án thứ 22 được phê chuẩn vào năm 1951, quy định tổng thống chỉ được giữ chức tối đa hai nhiệm kỳ, các nghị sĩ Mỹ đã nhiều lần tìm cách bãi bỏ quy định này để tổng thống có thể phục vụ số nhiệm kỳ không giới hạn nếu tiếp tục được cử tri lựa chọn.
Những người phản đối cho rằng Tu chính án thứ 22 về bản chất là "phi dân chủ, vì ngăn cản cử tri bầu một ứng viên đủ năng lực mà họ ủng hộ". Ngược lại, phe ủng hộ giới hạn nhiệm kỳ cho rằng đây là "cơ chế kiểm soát thiết yếu nhằm ngăn chặn sự sùng bái cá nhân và quyền lực tổng thống trở nên quá lớn".
Bốc thăm bầu tổng thống
Nhiều đề xuất sửa đổi Hiến pháp từng tìm cách thay đổi phương thức bầu tổng thống, nhưng ít ý tưởng nào khác thường như đề xuất từ thượng nghị sĩ James Hillhouse vào năm 1808.
Hillhouse đề xuất rút ngắn nhiệm kỳ thượng nghị sĩ từ 6 năm xuống còn 3 năm và sắp xếp để mỗi năm có 1/3 số ghế được bầu lại. Các thượng nghị sĩ sắp mãn nhiệm sẽ bốc một quả bóng từ trong hộp. Người bốc trúng quả bóng màu duy nhất sẽ trở thành tổng thống trong thời hạn một năm.
Hillhouse không phải là người đầu tiên đưa ra ý tưởng bốc thăm để chọn tổng thống. Tại Hội nghị Lập hiến năm 1787, đại diện bang Pennsylvania James Wilson từng đề xuất chọn ngẫu nhiên một nhóm nhỏ nghị sĩ có quyền quyết định ai giữ chức tổng thống.
"Đây là ý tưởng sáng tạo, nhưng hầu như không ai cho rằng đó là một phương án khả thi", theo sử gia David O. Stewart, tác giả cuốn The Summer of 1787: The Men Who Invented the Constitution.
Thêm/xóa bỏ phó tổng thống
Năm 1897, sử gia Herman Ames, Đại học Pennsylvania, liệt kê các đề xuất sửa đổi hiến pháp kể từ khi Mỹ lập quốc và ghi nhận có 7 đề xuất bãi bỏ chức vụ phó tổng thống. Phe ủng hộ cho rằng đây là một vị trí "thừa thãi", và một trong những người đề xuất là Hillhouse. Những nỗ lực tương tự vẫn tiếp diễn trong thế kỷ 20.
Những người khác lại cho rằng nước Mỹ cần nhiều hơn một người giữ vai trò phó tổng thống.
Năm 1881, hạ nghị sĩ Nathaniel Job Hammond đề xuất thành lập ba chức danh gồm phó tổng thống thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Năm 1964, thượng nghị sĩ Kenneth Keating đề xuất chia chức vụ này thành hai vị trí riêng biệt, lần lượt phụ trách nhánh hành pháp và lập pháp.
Xóa bỏ Thượng viện
Năm 1911, hạ nghị sĩ Victor Berger cho rằng Thượng viện "là cơ quan cản trở và vô tác dụng, là mối đe dọa đối với các quyền tự do của người dân và là rào cản đối với sự phát triển của xã hội". Ông đề xuất xóa bỏ Thượng viện, tập trung quyền lập pháp vào Hạ viện.
Theo Berger, các quyết định của Hạ viện sẽ trở thành "luật tối cao", tổng thống sẽ không còn quyền phủ quyết, tòa án cũng không được quyền tuyên bố các quyết định đó là vi hiến.
Xóa bỏ cử tri đoàn
Việc bầu tổng thống Mỹ thông qua cử tri đoàn thay vì bằng phổ thông đầu phiếu đã gây tranh cãi ngay từ khi hiến pháp được ban hành. Sử gia Ames mô tả "không có phần nào của hiến pháp gây ra nhiều sự bất mãn và kéo theo nhiều đề xuất sửa đổi nhằm thay đổi như cơ chế này".
Một trong những nguyên nhân chính là kết quả phiếu đại cử tri không phải lúc nào cũng trùng với kết quả phổ thông đầu phiếu. Điều này khiến ứng viên giành nhiều phiếu bầu của cử tri toàn quốc hơn vẫn thất cử. Tình huống này đã xảy ra 5 lần, trong các cuộc bầu cử tổng thống năm 1824, 1876, 1888, 2000 và 2016.
Một đề xuất thay thế cử tri đoàn bằng hình thức bầu cử trực tiếp từng được Hạ viện thông qua năm 1969, nhưng không thể vượt qua Thượng viện.
Nỗ lực gần nhất được hạ nghị sĩ Steve Cohen đệ trình tháng 12/2024. Ông cho rằng cử tri đoàn là di sản còn sót lại từ thế kỷ 18, khi cử tri hầu như không biết các ứng viên là ai, trong khi bối cảnh hiện tại đã khác nhiều.
Lập tòa án vượt thẩm quyền Tòa án Tối cao
Ý tưởng xuất hiện khi có quan điểm cho rằng Tòa án Tối cao nhiều lần can thiệp và vô hiệu hóa các đạo luật cấp bang, dẫn đến nhu cầu cần có một cơ quan tư pháp cấp cao hơn nữa. Cơ quan này sẽ có quyền xem xét và hủy bỏ các phán quyết của Tòa án Tối cao.
Đề xuất sớm nhất được cho là từ thượng nghị sĩ Garrett Davis năm 1867, kêu gọi lập "hội đồng xét xử" với mỗi bang bổ nhiệm một thành viên. Những đề xuất sau đó phát triển ý tưởng này thành một tòa án gồm các chánh án hoặc thẩm phán cao nhất từng bang, gọi là Court of the Union (Tòa án của Liên bang).
It nhất 15 đề xuất sửa đổi hiến pháp để lập Tòa án của Liên bang đã được đệ trình trong giai đoạn 1963-1981 nhưng đều thất bại.
Giới hạn tài sản cá nhân
Năm 1933, thời điểm u ám nhất trong Đại Suy thoái, hạ nghị sĩ Wesley Lloyd đề xuất trao cho quốc hội quyền đặt ra mức trần đối với tài sản cá nhân của người Mỹ. Để giảm bớt tính cực đoan của đề xuất, Lloyd cho rằng mức trần không nên thấp hơn 1 triệu USD, tương đương hơn 25,7 triệu USD theo giá trị hiện nay.
"Lý do nhiều người quá nghèo là vì một số rất ít người lại quá giàu", ông Lloyd lập luận.
Cho người dân Mỹ quyền bỏ phiếu tuyên chiến
Quyền tuyên chiến, vốn được hiến pháp Mỹ trao cho quốc hội, từ lâu đã là chủ đề gây nhiều tranh cãi và cũng là mục tiêu của nhiều đề xuất sửa đổi.
Năm 1916, một năm trước khi Mỹ tham gia Thế chiến I, hạ nghị sĩ Denver Samuel Church đề xuất một tu chính án quy định mọi tuyên bố chiến tranh trước hết phải được đưa ra trưng cầu dân ý và chỉ có hiệu lực nếu được đa số cử tri chấp thuận. Ông vẫn đề xuất ngoại lệ đối với các trường hợp khẩn cấp, như khi Mỹ bị tấn công.
Trong những năm sau đó, đặc biệt là suốt thập niên 1930 khi nguy cơ chiến tranh ở châu Âu ngày càng gia tăng, nhiều đề xuất tương tự tiếp tục được trình lên quốc hội Mỹ.
Theo Trung tâm Hiến pháp Quốc gia Mỹ, tu chính án được phê chuẩn gần đây nhất là Tu chính án thứ 27, có hiệu lực năm 1992. Tu chính án quy định mọi luật tăng lương cho các thành viên quốc hội chỉ có hiệu lực sau cuộc bầu cử tiếp theo, ngăn quốc hội tự tăng lương trong nhiệm kỳ hiện tại.
Cho đến nay, hiến pháp Mỹ mới chỉ có một tu chính án từng bị bãi bỏ. Đó là khi Tu chính án thứ 21 được phê chuẩn năm 1933 để hủy bỏ Tu chính án thứ 18 về lệnh cấm rượu.
Tin Gốc: Vnexpress

Theo Hãng tin AP, cuộc điều trần được dự báo sẽ xoay quanh chi phí leo thang, thiệt hại dân sự và cách điều hành quân đội trong bối cảnh xung đột gây nhiều tranh cãi.
Phiên điều trần tại Ủy ban Quân sự Hạ viện Mỹ ban đầu nhằm bàn về đề xuất ngân sách quốc phòng năm 2027 lên tới 1.500 tỉ USD, mức cao kỷ lục.
Tuy nhiên các nghị sĩ Dân chủ được cho là sẽ tập trung công kích cuộc chiến Iran, cho rằng đây là "cuộc xung đột tự chọn", tốn kém và không có sự phê chuẩn của Quốc hội.
Một loạt vấn đề nóng dự kiến được đưa ra, bao gồm chi phí xung đột tăng vọt, kho đạn dược Mỹ bị tiêu hao đáng kể, cũng như vụ không kích một trường học khiến nhiều trẻ em thiệt mạng.
Các nghị sĩ cũng có thể đặt câu hỏi về năng lực phòng thủ của quân đội Mỹ trước các đợt tấn công bằng máy bay không người lái từ Iran, khi một số thiết bị đã xuyên thủng hệ thống phòng không và gây thương vong cho binh sĩ Mỹ.
Dù các bên hiện đã đạt được thỏa thuận ngừng bắn, căng thẳng khu vực vẫn chưa hạ nhiệt và Mỹ - Israel vẫn bị chỉ trích vì phát động chiến dịch mà không thông qua Quốc hội.
Phe Dân chủ đã nhiều lần nỗ lực buộc Nhà Trắng phải xin phê chuẩn trước khi tiếp tục chiến sự, nhưng tất cả đều thất bại.
Trong khi đó, các nghị sĩ Cộng hòa vẫn thể hiện sự ủng hộ với Tổng thống Trump, viện dẫn mối đe dọa từ chương trình hạt nhân Iran và rủi ro nếu Mỹ rút lui.
Dù vậy họ cũng bày tỏ mong muốn sớm chấm dứt xung đột và cảnh báo cuộc chiến kéo dài có thể trở thành phép thử chính trị quan trọng đối với Nhà Trắng.
Diễn biến chiến sự cũng ảnh hưởng đáng kể đến kinh tế nước Mỹ, khi Iran phong tỏa eo biển Hormuz - tuyến vận chuyển dầu mỏ huyết mạch của thế giới - khiến giá nhiên liệu nội địa tăng cao, không được lòng người dân, tạo áp lực cho Đảng Cộng hòa trước kỳ bầu cử giữa kỳ vào cuối năm nay.
Bên cạnh đó không chỉ đối mặt với chất vấn về chiến tranh, ông Hegseth còn bị soi xét cách điều hành nội bộ Lầu Năm Góc, đặc biệt sau khi đã sa thải hàng loạt lãnh đạo cấp cao, trong đó có Bộ trưởng Hải quân John Phelan và Tham mưu trưởng Lục quân, tướng Randy George.
Thượng nghị sĩ Thom Tillis, người từng ủng hộ việc bổ nhiệm ông Hegseth, bày tỏ lo ngại: "Đây đều là những vị trí quan trọng, trong khi chúng ta đang ở trong trạng thái giao tranh". Ông cho biết cách điều hành của bộ trưởng khiến ông phải cân nhắc lại sự ủng hộ trước đây.
Cùng quan điểm, dân biểu Austin Scott (Đảng Cộng hòa) cũng chỉ trích việc sa thải tướng George là "hành động liều lĩnh" và "gây tổn hại nghiêm trọng" cho Lục quân Mỹ, đồng thời khẳng định Quốc hội sẽ tiếp tục truy vấn quyết định này trong các phiên điều trần tới.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

