Nghiên cứu được công bố gần đây trên tạp chí khoa học Cell Metabolism đã phát hiện một tác dụng bất ngờ của tỏi.
Nghiên cứu do Trường Y Đại học Washington (Mỹ) dẫn đầu, phối hợp với các cơ quan khoa học của Nhật, thực hiện, bao gồm 40 người trưởng thành khỏe mạnh trong độ tuổi từ 20 đến 49.
Trong nghiên cứu, những người tham gia được cho sử dụng hợp chất S-1-propenyl-L-cysteine (S1PC) chiết xuất từ tỏi già thông qua bột tỏi cô đặc chứa 17% S1PC, trong khi nhóm đối chứng dùng giả dược.
Kết quả đã phát hiện hợp chất S1PC có hiệu quả chống lão hóa thông qua tác dụng tăng cường sức mạnh cơ bắp và giảm suy nhược liên quan đến tuổi tác, theo trang tin nghiên cứu Study Finds.
Mất sức mạnh cơ bắp là một trong những vấn đề nghiêm trọng của lão hóa, có thể làm tăng nguy cơ té ngã và mất khả năng sống độc lập ở người lớn tuổi.
Nhóm tác giả cũng tiến hành nghiên cứu trên chuột bằng cách cho chuột dùng S1PC hằng ngày qua thức ăn hoặc nước uống trong 8 tháng.
Kết quả cũng nhận thấy chuột được điều trị cho thấy sức mạnh cơ bắp cải thiện rõ rệt, điểm số suy nhược tổng thể giảm xuống.
Nhóm nghiên cứu nhận thấy hợp chất S1PC có thể kích hoạt một phản ứng trong mô mỡ, sau đó gửi tín hiệu đến não và tiếp tục tác động đến cơ bắp thông qua hệ thần kinh.
Họ kết luận rằng phát hiện này bổ sung thêm lợi ích của tỏi. Tiêu thụ loại gia vị này có thể chống lại suy giảm cơ bắp do tuổi tác, giúp duy trì sức mạnh cơ bắp trong quá trình lão hóa.
Đối với hầu hết người lớn, tiêu thụ 1 – 2 tép tỏi sống (khoảng 3 – 6 gram) mỗi ngày được coi là an toàn và có lợi cho sức khỏe. Lượng tỏi này cung cấp các lợi ích mà thường không gây ra các tác dụng phụ như kích ứng dạ dày, ợ nóng, theo trang tin sức khỏe Healthline. Tuy nhiên, để tối đa hóa lợi ích, nên cắt nhỏ tỏi, để tiếp xúc với không khí khoảng 10 phút trước khi ăn.
Nam giới nghiện uống rượu ngâm nhung hươu, đông trùng hạ thảo... vì cho rằng bổ, cải thiện sinh lý. Song không có nghiên cứu nào khẳng định mà chỉ là lời nói truyền miệng. Thống kê của Bộ Y tế, nguyên nhân các vụ ngộ độc từ rượu ngâm cây "thuốc" chiếm khoảng 36%; rượu ngâm động vật và phủ tạng, như ong đất, tắc kè, mật động vật các loại khoảng 10%.
Rượu là chất ức chế thần kinh, có thể gây hại nhiều hơn lợi. Ban đầu, rượu có thể tạm thời tăng ham muốn, tạo cảm giác hưng phấn. Về lâu dài, rượu có thể làm tổn thương hệ thần kinh dẫn đến rối loạn cương dương, tổn thương sinh lý do giảm testosterone, gây giảm ham muốn, giảm chất lượng tinh trùng. Trường hợp lạm dụng có thể gây nghiện hoặc uống quá liều gây tác hại toàn thân như tổn thương gan, tim mạch, hệ thần kinh, thậm chí tăng nguy cơ đột quỵ.
Ngoài ra, lạm dụng rượu đều gây hại sức khỏe, ảnh hưởng tất cả bộ phận trong cơ thể. Yếu sinh lý hay xuất tinh sớm cần đến bệnh viện thăm khám và điều trị, thay vì tự kê đơn, bốc thuốc.
Cách tốt nhất để cải thiện sức khỏe là tập thể dục thường xuyên, hạn chế rượu bia, ăn uống và sinh hoạt khoa học giúp tăng hormone testosterone, cải thiện phong độ. Nên ăn uống đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt là hoa quả, rau xanh, uống đủ hai lít nước mỗi ngày. Giữ lối sống lành mạnh, ngủ sớm, đủ giấc, từ 7 đến 8 tiếng một ngày. Tuyệt đối không dùng rượu để bồi bổ, dẫn đến tiền mất, tật mang.
Một số người khi tập thể dục quá mức có thể âm thầm phát triển tình trạng "tim vận động viên" - tim bị biến đổi cấu trúc do tập luyện kéo dài và cường độ cao.
Tiến sĩ Ruchit Shah, bác sĩ tim mạch tại Bệnh viện Saifee (Ấn Độ), giải thích lý do tại sao và điều gì xảy ra cho tim khi tập luyện quá mức.
Ông Ruchit Shah cho biết tình trạng này xảy ra ở các vận động viên thi đấu, thuộc top 1 - 2% hàng đầu. Cũng như cơ xương to ra thông qua tập luyện và tập gym thường xuyên, cơ tim cũng có thể thích nghi với sự gắng sức kéo dài, dẫn đến những thay đổi cấu trúc trong tim, theo tờ Hindustan Times.
Tiến sĩ Shah giải thích: Chủ yếu do cường độ, thời gian và tính nhất quán của việc luyện tập. Tập thể dục quá mức trong hơn 60 phút mỗi ngày, hầu hết các ngày trong tuần trong một thời gian dài, sẽ làm tăng đáng kể nhu cầu oxy và cung cấp máu của cơ thể, nhất là ở vận động viên thi đấu chuyên nghiệp theo lịch trình luyện tập nghiêm ngặt.
Bác sĩ Shah giải thích: Để đáp ứng nhu cầu tăng cao này, cơ tim trải qua quá trình thích nghi và trở nên dày hơn theo thời gian. Khi cơ tim dày lên, đặc biệt là cơ tâm thất trái, kích thước khoang tâm thất trái giảm nhẹ. Từ đó, lượng máu đổ đầy tâm thất trái cũng giảm nhẹ.
Những thay đổi cấu trúc trong tim ban đầu nghe có vẻ đáng lo ngại. Tuy nhiên, hội chứng này nói chung được coi là sự thích nghi sinh lý hơn là tình trạng nguy hiểm. Nó không gây ra vấn đề nghiêm trọng ở người khỏe mạnh. Vì vậy, không phải tất cả những thay đổi đều nhất thiết gây ra bệnh tim.
Một trong những dấu hiệu phổ biến nhất là nhịp tim khi nghỉ ngơi thấp, thường được gọi là "nhịp tim thích nghi". Bác sĩ Shah giải thích: Điều này xảy ra vì tim trở nên hiệu quả hơn do luyện tập liên tục. Trong hầu hết các trường hợp, những người có "tim vận động viên" không gặp phải các triệu chứng hoặc dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm. Và khi ngừng luyện tập cường độ cao, tim sẽ từ từ trở lại kích thước và chức năng bình thường trong vòng 3 - 6 tháng. Tuy nhiên, trong khoảng 20% trường hợp, những thay đổi này có thể không biến mất hoàn toàn.
Đặc biệt, đôi khi có thể gây ra bệnh tim - bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn. Vì vậy, những vận động viên có biến đổi ở tim khi đo điện tâm đồ hoặc chụp chiếu cần được đánh giá kỹ xem có bất kỳ tình trạng nguy hiểm tiềm ẩn nào hay không, theo Hindustan Times.
Dữ liệu phân tích mới nhất tại khu vực Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á chỉ ra gánh nặng lớn từ virus hợp bào hô hấp (RSV) ở trẻ dưới 5 tuổi. Cụ thể, Việt Nam có tỷ lệ trẻ nhiễm RSV trong số các ca bệnh nhiễm trùng hô hấp chiếm 35,5%, đứng sau Myanmar và New Zealand. Loại mầm bệnh này lưu hành liên tục quanh năm tại nước ta thay vì chỉ bùng phát theo mùa.
Thảo luận tại hội nghị khoa học "Hành trình miễn dịch trọn đời" vừa diễn ra tại Quy Nhơn với sự tham gia của hơn 400 chuyên gia y tế trong nước và quốc tế, GS.TS.BS Nguyễn Viết Tiến, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam, cảnh báo RSV là tác nhân hô hấp rất phổ biến ở trẻ nhũ nhi, có thể gây ra các di chứng như hen suyễn và thở khò khè với tỷ lệ nhập viện cao hơn 5-16 lần so với cúm.
Mỗi năm có hàng chục triệu ca mắc RSV trên toàn cầu, với nguy cơ tử vong cao ở trẻ nhỏ, nhất là những bé có hệ miễn dịch chưa hoàn thiện. Bệnh thường khởi phát giống cảm lạnh nhưng có thể nhanh chóng tiến triển thành viêm tiểu phế quản, viêm phổi và suy hô hấp.
Thực tế cho thấy phần lớn các ca nhập viện rơi vào nhóm trẻ từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi. Đây đa số là những em bé sinh đủ tháng và hoàn toàn khỏe mạnh trước khi mắc bệnh. Tình trạng này không chỉ đe dọa sức khỏe của trẻ mà còn vắt kiệt tài chính của nhiều gia đình và tạo áp lực lên hệ thống y tế. Vì vậy, giáo sư Tiến nhấn mạnh tầm quan trọng của nhận diện nguy cơ sớm, trao đổi thông tin với nhân viên y tế một cách liên tục, bao gồm cả giai đoạn thai kỳ cho đến sau khi trẻ chào đời.
Bên cạnh trẻ nhỏ, các chuyên gia tại hội nghị cũng cảnh báo về rào cản dự phòng ở chiều ngược lại của vòng đời, tức nhóm người cao tuổi và người có bệnh nền. PGS.TS.BS Lê Khắc Bảo, Phó giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM, nhận định quá trình lão hóa khiến hệ miễn dịch suy giảm nhanh. Người từ 65 tuổi rất dễ mắc các bệnh nhiễm trùng hô hấp thể nặng. Đặc biệt, tình trạng đồng nhiễm cả virus và vi khuẩn có thể khiến bệnh tình chuyển biến xấu chớp nhoáng và đẩy nguy cơ tử vong lên mức cao.
Mặc dù rủi ro lớn, tỷ lệ người dân chủ động bảo vệ sức khỏe lại thấp. Khảo sát thực tế năm 2024 tại một cơ sở y tế ở Hà Nội cho thấy chỉ có 11,5% người lớn tiêm phòng phế cầu khuẩn. Thậm chí, theo khảo sát của Bộ Y tế năm 2023, chưa đến 6% người cao tuổi chủ động phòng ngừa cúm hàng năm.
Giáo sư Jana Shaw, Đại học Upstate, Mỹ, lý giải tỷ lệ dự phòng thấp không hẳn do thiếu dịch vụ y tế. Nguyên nhân đến từ tâm lý chần chừ và phân vân của người dân. Nhiều người trì hoãn việc phòng bệnh do chưa nhận thức đủ độ nguy hiểm của các loại virus, lo ngại về tính an toàn hoặc gặp rào cản về chi phí.
Để giải quyết bài toán này, GS.TS.BS Phan Trọng Lân, Viện trưởng Vệ sinh dịch tễ Trung ương, nhấn mạnh ngành y tế cần chuyển dịch sang chiến lược "miễn dịch trọn đời". Khái niệm này đòi hỏi tiếp cận dự phòng theo vòng đời - tức xem xét rủi ro và nhu cầu bảo vệ sức khỏe theo từng giai đoạn phát triển, theo từng lứa tuổi và nhóm nguy cơ - thay vì chỉ nhìn theo từng bệnh riêng lẻ.