Theo kết luận điều tra mới được ban hành, ba chủ doanh nghiệp bị cáo buộc thu tiền chênh của người lao động rồi để ngoài sổ sách gồm các ông: Nghiêm Quốc Hưng, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Hoàng Long; Nguyễn Đức Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty Sona; Nghiêm Văn Định, Giám đốc Công ty Incoop3.
Những người này bị đề nghị truy tố tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng.
Nhóm cựu lãnh đạo nhận hối lộ của các doanh nghiệp đưa người đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài gồm: Nguyễn Bá Hoan, cựu Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (cũ); Tống Hải Nam, Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước; Phạm Viết Hương và Nguyễn Gia Liêm (đều là Cục phó); Lê Thanh Hà (Trưởng phòng Hàn Quốc) cùng 3 người khác.
Kết quả điều tra bổ sung xác định ông Hoan đã giao Cục trưởng Tống Hải Nam và các lãnh đạo cục gây khó khăn, tạo rào cản cho doanh nghiệp.
Để “gỡ vướng”, Chủ tịch Công ty Hoàng Long Nghiêm Quốc Hưng đã chỉ đạo cấp dưới thu thêm của người lao động các khoản phí không đúng quy định để “chi phí đối ngoại”, trả phí môi giới và chiếm hưởng cá nhân. Một phần tiền này sẽ được Hưng dùng để “duy trì mối quan hệ”, hối lộ cựu Thứ trưởng Hoan cùng nhóm lãnh đạo Cục của Bộ.
Theo kết luận điều tra, từ năm 2020-2024 Hưng chỉ đạo cấp dưới thu thêm các khoản phí ngoài quy định từ 45 – 135 triệu đồng/người, tùy theo thị trường, ngành nghề và công ty tiếp nhận.
Mức phí thực tế mà người lao động phải chi trả cao hơn nhiều so với mức quy định. Cụ thể, lao động đi Nhật Bản theo quy định chỉ phải đóng 57 triệu đồng, nhưng thực tế bị thu tới 144 triệu đồng/người, mỗi người bị công ty ăn chặn 87 triệu đồng.
Đối với mỗi lao động đi Đài Loan, mức tối đa họ phải trả là 78 triệu nhưng công ty thu thực tế lên 123 triệu, “ăn chênh” 45 triệu.
Đáng chú ý, với các chương trình lao động kỹ thuật cao sang Hàn Quốc, người lao động bị doanh nghiệp ăn chặn lên tới 153 triệu đồng trên mỗi người. Cụ thể, theo quy định mức thu tối đa 140 triệu nhưng công ty “nâng giá” lên 293 triệu mỗi lao động.
Kết quả điều tra xác định trong 4 năm, công ty của Hưng đã đưa hơn 15.000 người lao động Việt Nam đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản với tổng số tiền thu thực tế hơn 1.800 tỉ.
Ông Hưng bị cáo buộc chỉ đạo nhân viên lập hai hệ thống sổ sách kế toán, vừa hợp thức tiền chênh lệch, vừa che giấu doanh thu thực tế.
Hưng chỉ đạo bộ phận kế toán sử dụng phần mềm Misa để hạch toán các khoản thu chi đúng quy định, có hóa đơn chứng từ đầy đủ để báo cáo tài chính và quyết toán thuế với Nhà nước. Phần mềm Smart Soft dùng để theo dõi nội bộ, hạch toán các khoản thu ngoài, phí dịch vụ thu bằng tiền mặt không có hóa đơn, chứng từ.
Thủ quỹ Nguyễn Thị Duyên được giao nhiệm vụ viết phiếu thu bằng tay xác nhận đã thu tiền nhưng không ghi rõ số liệu cụ thể để đưa cho người lao động. Sau đó, Duyên đánh máy lại một phiếu thu khác với số tiền thấp hơn (theo định mức quy định) để chuyển cho bộ phận kế toán làm báo cáo thuế.
Tính đến năm 2024, nhóm của Hưng đã đưa 15.000 lao động đi nước ngoài, thu thực tế hơn 1.800 tỉ đồng. Tuy nhiên, doanh nghiệp đã để ngoài sổ sách, không khai báo thuế số tiền hơn 1.200 tỉ đồng.
Hành vi trên của Hưng và nhân viên bị cáo buộc gây thiệt hại về thuế cho Nhà nước hơn 241 tỉ đồng.
Còn tại Công ty Sona, Chủ tịch Nguyễn Đức Nam chủ yếu đưa người đi lao động ở ba nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Litva. Để vận hành công việc xuất khẩu lao động, ông Nam phải chi tiền cho môi giới và “phí bôi trơn” cho nhóm bị can là lãnh đạo Bộ và Cục Quản lý lao động ngoài nước.
Do đó, Nam cùng cấp dưới thu phí lao động vượt định mức 1.900 – 2.100 USD/người đi Nhật. Đối với lao động đi Hàn Quốc bị thu cao hơn từ 5.000 – 5.500 USD. Còn người đi lao động ở Litva bị “ăn chặn” từ 2.200 – 2.300 USD/người.
Số tiền thu trái phép cũng không được công ty đưa vào sổ sách kế toán, do nhân viên quản lý riêng. Trong bốn năm, Công ty Sona đã thu sai quy định của 1.043 lao động, bỏ ngoài sổ sách doanh thu 29,2 tỉ đồng.
Tại Công ty Incoop 3, Tổng giám đốc Nghiêm Văn Định chỉ đạo nhân viên và môi giới thu thêm 500 – 1.000 USD mỗi lao động, trong đó môi giới được giữ 300 USD, phần còn lại chuyển cho công ty và dùng hối lộ cán bộ. Công ty đã đưa 293 lao động đi Hàn Quốc và thu trái quy định 6 tỉ đồng.
Trong số 1.200 tỉ để ngoài sổ sách, ông Hưng đã chỉ đạo chi hơn 200 tỉ đồng cho các trưởng phòng và nhân viên trong công ty.
Theo kết luận, từ năm 2023-2025 Công ty Hoàng Long đã làm thủ tục xuất cảnh 129 lao động theo chương trình Visa E7-3. Để được phê duyệt các hợp đồng này và “giữ mối quan hệ” với lãnh đạo Bộ, Cục thì Tổng giám đốc Hưng đã chi tổng cộng gần 240.000 USD (tương đương gần 6 tỉ đồng).
Ông Hưng đã hai lần hối lộ Thứ trưởng Nguyễn Bá Hoan 170.000 USD. Lần đầu Tổng giám đốc Hưng gặp ông Hoan trực tiếp đưa 100.000 USD, còn lần sau nhờ con rể đưa 70.000 USD.
Ngoài số tiền trên, ông Hoan bị cáo buộc đã nhận 50 triệu đồng từ Nguyễn Đức Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty Sona, để chỉ đạo đẩy nhanh việc phê duyệt hồ sơ.
Bên cạnh đó, cựu Thứ trưởng Hoan còn khai vào các dịp lễ, Tết, nhận tiền từ các doanh nghiệp như Hoàng Long, Sona và Incoop3 tổng số tiền lên tới 450.000 USD (khoảng hơn 11 tỉ) và 90 triệu đồng.
Sau phần xét hỏi của HĐXX, chiều muộn 20/5, cựu bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến và các đồng phạm tiếp tục trả lời câu hỏi của các luật sư bào chữa.
Ngoài làm rõ các sai phạm xuyên suốt 10 năm đình trệ dự án bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức cơ sở 2, cách tính thiệt hại của cơ quan tố tụng cũng được đưa ra phân tích.
803 tỷ đồng thiệt hại được tính thế nào?
Theo cáo trạng, vụ án có 2 khoản thiệt hại gồm: thuê tư vấn nước ngoài sai quy định, gây thất thoát hơn 70 tỷ đồng; và lãng phí 733 tỷ đồng khi dự án bị đình trệ.
Phân tích cách tính 733 tỷ đồng lãng phí, VKS xác định, để tạm ứng cho dự án, Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước SCIC đã phải tất toán trước hạn các hợp đồng, tài khoản tiền gửi tại 7 ngân hàng, với kỳ hạn 3-12 tháng, lãi suất 4,5-7,3%/năm.
Hậu quả lãng phí là lãi suất thấp nhất của các khoản tiền gửi này, và tiền mà Ban quản lý dự án không sử dụng để làm dự án, tổng 145 tỷ đồng.
Thứ 2, trong 7 năm 2014-2020, dự án được rót vốn tổng hơn 5.000 tỷ đồng nhưng dự án vẫn chưa thể sử dụng. Trung bình lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 tháng của ngân hàng khi này là 2,9%/năm. Từ đó tính toán số tiền lãng phí cho dự án trong 4 năm ngừng thi công là 588 tỷ đồng.
Thiệt hại vụ án do đó là tổng của 70 tỷ đồng thất thoát + 733 tỷ đồng lãng phí, vừa phân tích ở trên, bằng 803 tỷ đồng.
Cách tính thiệt hại này khiến cả cựu bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến và bị cáo Nguyễn Chiến Thắng, cựu giám đốc BQL dự án, đều có những băn khoăn.
'Thực tế nhà nước được lợi, không thiệt hại'
Chiều 20/5, luật sư của ông Thắng hỏi quan điểm của bà Tiến về cách tính thiệt hại. Khi làm dự án, bà có được ai thông báo, hướng dẫn cái quy định: tiền được giải ngân mà không tiêu hết, thì thiệt hại được tính theo lãi suất ngân hàng không?".
Bà Tiến nghe vậy, cảm ơn luật sư khi đã đưa ra câu hỏi "chạm đúng nỗi đau đớn phải chịu đựng". Bà nói nhất trí với khoản thất thoát 70 tỷ đồng từ sai phạm thuê tư vấn thiết kế. Tuy nhiên, với 733 tỷ đồng lãng phí, với cách tính trên, cựu bộ trưởng Y tế cho rằng "thời điểm tôi làm không hề có cái văn bản nào quy định thế".
Bà nói nếu nhớ không nhầm, thiệt hại này được tính dựa trên thông tư ban hành cuối năm 2025, có nghĩa cách đây mới nửa năm. Còn thời điểm bà đương nhiệm, chưa từng biết hay được thông báo, hướng dẫn rằng có quy định tính lãng phí như thế.
Đồng quan điểm với bà Kim Tiến, trả lời cùng câu hỏi này sau đó, ông Thắng khai, trong thời gian quản lý đồng vốn này, không được cơ quan nào cảnh báo rằng "tiền này nếu không sử dụng hết thì bị tính lãi".
Ông cũng phản đối cáo buộc Ban quản lý đã không dùng 5.000 tỷ vốn được cấp, gây lãng phí 588 tỷ đồng.
Bị cáo khẳng định đã dùng tiền rồi, bản thân bất động sản để xây dự án đã được thanh toán, các công trình đã được xây dựng, tiền nguyên vật liệu đổ vào đó chính là tài sản.
Ông suy luận, nếu tính trượt giá hiện nay thì 5.000 tỷ không thể chi trả nổi. Do đó thực tế ông đã làm lợi cho nhà nước, không gây thiệt hại.
Ông nói bất động sản từ đó đến nay chỉ có lên giá, không có chuyện giảm, "một tỷ năm nay, năm sau đã thành 2 tỷ". Theo suy luận này của ông, nếu tính giá trị dự án theo giá năm 2026 thì chắc chắn đã làm lợi cho nhà nước, do bất động sản tăng giá.
Nhận hối lộ 88 tỷ, chỉ hưởng riêng 475 triệu
Ông Thắng ngoài việc bị truy tố tội Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí còn bị cáo buộc Nhận hối lộ, tổng 88,5 tỷ đồng từ 10 nhà thầu. Tiền này là "cơ chế 5%" do ông đề xuất, dù tại tòa, ông nói các nhà thầu "tự mang đến".
Phân trần thêm trong phần khai báo, ông Thắng khẳng định, dù nhận hối lộ gần 90 tỷ, thực chất chỉ hưởng lợi đúng 475 triệu đồng.
Còn lại, ông chia cho nhiều cơ quan, ban ngành cá nhân, nhưng không có chứng từ gì chứng minh. Ví dụ, ông Thắng nói đã đưa Bộ trưởng Kim Tiến khi đó tới 15 tỷ, song bà này khẳng định chỉ cầm 2,5 tỷ.
Cũng từ tiền này, ông còn phải chi 2 triệu USD (46 tỷ đồng) để "chạy chọt" khi Ủy ban kiểm tra Trung ương bắt đầu xét các sai phạm ở Bô Y tế.
Tuy nhiên, người cầm 2 triệu USD của ông - bị cáo Lê Thanh Thiêm, Giám đốc Công ty TNHH Sao Nam Sông Hồng, không giúp đỡ gì ông mà chi tiêu hết. Ông Thiêm do đó bị truy tố tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ông Thiêm đã nộp lại 36 tỷ đồng trong giai đoạn điều tra. Ông Thắng bị kê biên 3 bất động sản.
VKS ghi nhận tổng số tiền các bị cáo và người thân đã nộp khắc phục hậu quả là 63,6 tỷ đồng.
Cùng với việc nghiên cứu, thí điểm mô hình "trại giam mở", "tù tại gia", tỉnh Khánh Hòa còn triển khai thực hiện phương thức giám sát điện tử đối với người chấp hành án hình sự tại cộng đồng.
Đó là các biện pháp trong kế hoạch của tỉnh Khánh Hòa, vừa được Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Việt Hùng ký ban hành và đã có hiệu lực ngay từ ngày 4-5-2026, triển khai thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án "Hoàn thiện cơ chế thi hành án hình sự theo yêu cầu của Nghị quyết số 27-NQ/TW" trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
Một trong các mục tiêu của tỉnh Khánh Hòa theo kế hoạch trên là xây dựng hệ thống pháp luật về thi hành án hình sự hiện đại, phù hợp với thực tiễn trên địa bàn tỉnh.
Theo đó tỉnh sẽ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại; ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong công tác thi hành án hình sự; bảo đảm và bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân đối với người chấp hành án hình sự theo quy định của pháp luật và "kết hợp giữa trừng trị và giáo dục, cải tạo, giúp đỡ người bị kết án trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội".
Ngay trong năm 2026, tỉnh tập trung khắc phục những tồn tại, bất cập, hạn chế, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, phù hợp với yêu cầu công tác thi hành án hình sự hiện nay và những năm tiếp theo.
Hoàn thành quy hoạch, xác định quy mô giam giữ tổng thể trại tạm giam, phân trại tạm giam, cơ sở lưu trú tại Khánh Hòa đến năm 2030, định hướng đến năm 2045.
Đồng thời xây dựng, triển khai các dự án đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, ứng dụng khoa học, công nghệ trong công tác thi hành án hình sự và "triển khai xây dựng thí điểm 1 trại tạm giam và 1 phân trại tạm giam thông minh".
Cũng theo kế hoạch trên, tỉnh Khánh Hòa sẽ hoàn thành các dự án đầu tư xây dựng "Cơ sở lưu trú" đáp ứng nhu cầu giam giữ và quản lý người nước ngoài chờ trục xuất trong các cơ sở đó.
Tỉnh tiếp tục tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị, địa phương thực hiện tốt các công tác thi hành án hình sự, nhất là công tác quản lý người nước ngoài chờ trục xuất tại cơ sở lưu trú.
Theo dõi, quản lý chặt chẽ số người bị kết án tù còn ở ngoài xã hội, người bị kết án tù được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, cấm đi khỏi nơi cư trú, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ...
Còn "trại giam mở", "tù tại gia" thì từ năm 2031 - 2045 sẽ chính thức triển khai (không còn thí điểm) tại Khánh Hòa và tất cả trại tạm giam, phân trại tạm giam, cơ sở lưu trú đều phấn đấu trở thành cơ sở "thông minh".
Ngày 23/5, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an Tp.HCM cho biết đã khởi tố Ôn Chí Phát và Nguyễn Thanh My (vợ Phát) về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Trong đó, đã thi hành lệnh bắt tạm giam đối với Ôn Chí Phát.
Trước đó, Đội Quản lý thị trường số 3 phối hợp Đội 6 - Phòng Cảnh sát Kinh tế Công an Tp.HCM kiểm tra Hộ kinh doanh Chí Phát LUXURY tại đường Triệu Quang Phục, phường Chợ Lớn, Tp.HCM.
Lực lượng chức năng phát hiện cơ sở đang kinh doanh số lượng lớn hàng hóa có dấu hiệu giả mạo các nhãn hiệu nổi tiếng của Mỹ và nhiều nước thuộc liên minh Châu Âu được bảo hộ tại Việt Nam như GUCCI, LOUIS VUITTON, BURBERRY, DIOR, HERMES, ROLEX… gồm quần áo, giày dép, túi xách, đồng hồ các loại.
Lực lượng chức năng đã tạm giữ 1.913 sản phẩm với tổng trị giá niêm yết hơn 1,079 tỷ đồng. Chủ hộ kinh doanh không xuất trình được hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của hàng hóa.
Quá trình điều tra xác định, từ đầu năm 2021 đến tháng 5/2026, Ôn Chí Phát cùng Nguyễn Thanh My đã tổ chức nhập hàng giả mạo nhãn hiệu thông qua các đầu mối trên mạng xã hội để bán trực tiếp tại cửa hàng và bán trực tuyến thông qua Facebook, Zalo, TikTok nhằm thu lợi bất chính.
Kết quả trích xuất dữ liệu điện tử, sao kê tài khoản ngân hàng và tài liệu kế toán thể hiện từ năm đầu năm 2024 đến nay các đối tượng đã thu lợi hơn 4,5 tỷ đồng.
Kết luận giám định của Viện Sở hữu trí tuệ Quốc gia xác định 17 danh mục hàng hóa thu giữ là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.
Hiện Cơ quan CSĐT Công an Tp.HCM đang tiếp tục mở rộng điều tra, truy xét các đối tượng liên quan để xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.